Chuyện kể của những cậu bé “chạy Tàu”

LCĐT - Ngày 17/2/1979, khi đó họ là những cậu bé mới 10 tuổi, nhưng đã phải chân đất với manh áo cộc theo gia đình chạy loạn. Đến nay, đã 40 năm, họ đã bước vào tuổi bắt đầu bên kia “sườn dốc” cuộc đời, nhưng sự kiện mùa xuân năm ấy không hề phai mờ, thậm chí trở thành nỗi ám ảnh của nhiều người và họ cũng tự gọi mình là dân “chạy Tàu”.

Hằn sâu ký ức

Cách đây 40 năm, anh Nguyễn Trung Kiên (hiện ở Sa Pa) là cậu bé học trò tiểu học ở xã Phố Lu. Khi đó, Nguyễn Trung Kiên và các bạn cùng trang lứa đã phải trải qua cuộc chạy loạn trong sự sợ hãi vô cùng. Nhắc lại sự kiện mùa xuân tháng 2/1979, anh Kiên vô cùng xúc động và kể lại từng chi tiết như mới xảy ra hôm qua.

Anh Nguyễn Trung Kiên.
Anh Nguyễn Trung Kiên.

Một rạng sáng mùa xuân năm 1979, lũ trẻ chúng tôi đang cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, mơ màng trong giấc ngủ là những tiếng ì ùng từ xa vọng về như tiếng sấm rền không dứt. Không như thường lệ, mẹ gọi lũ chúng tôi từ rất sớm để học bài và chuẩn bị đến trường. Gần đến giờ đi học, mẹ mới đến bên giường khẽ khàng: “Các con dậy ăn sáng còn đi học nào”. Bên bếp lửa, cha tôi đang hì hụi bắc xoong gà còn đang nghi ngút khói. Thì ra, cha mẹ đã dậy từ rất sớm để chuẩn bị cho bữa sáng đặc biệt này. Rất ân cần, cha mẹ gắp từng miếng cho chúng tôi, nhưng biểu hiện thì khác lạ như đang cố giấu điều gì to lớn lắm. Mấy chị em dắt nhau đến trường, giáo viên, học sinh đều đến đầy đủ, bao trùm không gian là cảm giác lạnh lẽo. Học sinh vào lớp, cô giáo bảo: “Hôm nay, các em được nghỉ” mà không giải thích lý do. Ngơ ngác, lũ trẻ từng nhóm lục đục kéo nhau về, mà không dám hỏi khi thấy cô như sắp khóc. Về gần đến nhà, dọc quốc lộ, song song là đường sắt, giật mình thấy rất nhiều người bằng đủ phương tiện đang hối hả về xuôi. In sâu trong ký ức là hình ảnh một nhóm bộ đội đang nghỉ bên đường, đầu, người quấn băng còn đầy máu tươi, ngực áo có chữ “Kiên Cường”. Mấy chị em quàng về nhà, mẹ bảo: “Tàu đánh mình rồi”. Đó là ngày 17/2 đen tối.

Nhà tôi ở Phố Lu, một đầu mối trung chuyển, cách thị xã Lào Cai một tầm đạn pháo, mấy ngày liền đứng cửa, thấy người chạy loạn huyên náo, xe cộ ngổn ngang mà kinh hãi vô cùng. Tiếng pháo vẫn rền không dứt. Mấy ngày sau (20/2), cứ 5 gia đình ở lâm trường bộ được một xe tải đưa về Yên Bái, dọc đường mẹ cứ khóc: “Tao còn đứa em ở Bát Xát, dì Tuyết đấy, không biết có chạy được không?. Cha tôi ở lại chiến đấu cùng những người đàn ông khác, với trách nhiệm là đại đội trưởng tự vệ của lâm trường bộ. Ở Ty Lâm nghiệp Hoàng Liên Sơn được hai ngày, mấy mẹ con chúng tôi dắt díu nhau lên chuyến tàu chật cứng về quê, vì khi đi chỉ mang theo được đùm gạo, bu gà, biết lấy gì mà ăn. Rõ là cảnh chạy loạn. Quê tôi - một tỉnh đồng bằng Bắc bộ giàu truyền thống, biết đùm bọc yêu thương nhau, nhà tôi về cả làng ra đón, rồi lục đục gia đình các bác, các dì đều về đầy đủ, cả gia đình dì Tuyết nữa. Ơn trời, không thiếu một ai. Các bác ruột, cậu ruột họp, phân công nhau sắp xếp nơi ăn chốn ở cho anh em trên Lào Cai về.

Lo cho cha quá, cỡ nửa tháng sau, một hôm bác ruột tôi líu ríu chạy dọc đường làng, vừa chạy vừa gọi: “Tâm, Thu, Kiên, Tuấn ơi… Bố chúng mày về kìa”. Mấy chị em ùa ra ôm chầm lấy cha, mừng không tả, mẹ tôi sững lại, đánh rơi chiếc ấm, tôi thấy mắt mẹ lấp lánh những giọt vui, gia đình đoàn tụ. Cha tôi kể, ở thêm một tuần trực chiến, nhà còn mấy con lợn, đem mổ thết đãi anh em, vì không cũng mất sạch, thực hiện “vườn không, nhà trống”, có gì đem chôn giấu được, thì chôn giấu, nhà mở toang cửa, tủ không khóa… nhà nào cũng vậy. Chưa đánh đấm được trận nào thì được lệnh rút quân toàn tuyến, tất cả tuần tự men theo sông Hồng về Yên Bái, bàn giao vũ khí, khí tài theo từng đơn vị, rồi được trên cho phép về quê, bao giờ có điện tín liên lạc thì tập hợp. Sum họp với gia đình đâu được gần tháng, cha tôi lặng lẽ đi, ông không chào chúng tôi vì sợ bịn rịn.

Rồi cuộc chiến tranh đi qua, các gia đình lần lượt trở về Lào Cai, lũ trẻ chúng tôi trở về sau cùng, khi khai giảng năm học mới. Giặc tràn qua Phố Lu 5 km, những nơi chúng qua, đường xá, cầu cống, công sở, nhà cửa bị ốp mìn phá sạch, nhà tôi không hiểu sao vẫn còn nguyên vẹn.

Nhà tôi tiện đường, hơn nữa rộng lắm, vườn cũng rộng, đã thế lại còn có giếng khơi, nước đầy ăm ắp, uống vào ngọt lịm. Vì vậy, nhà tôi như một trạm trung chuyển, hôm nào cũng có hàng đoàn xe quân đội đỗ thành hàng dài trước cửa, hết trung đoàn vận tải Quân khu 2, tiểu đoàn vận tải Quân đoàn 6 (sau là Quân đoàn 29), đại đội vận tải của Sư đoàn 316, Sư đoàn 345… chờ chuyển lương, quân. Đã thế, đối diện là hóa trường đường sắt, hàng ngày những đoàn tàu chở lương thực, vũ khí, khí tài… xếp la liệt chờ chuyển tải, phân phối cho từng đơn vị.

Tôi được cha phân công đun nước phục vụ, ngày nào cũng mấy nồi tướng, bưng lên đãi khách, được hóng chuyện, mới biết mờ sáng 17/2, thám báo Trung Quốc mò sang giết sạch một đội nữ Lâm sinh Bản Phiệt, khi mọi người còn say trong giấc ngủ; biết tại Bản Vược (Bát Xát), Trung Quốc làm cầu phao đã tính toán kỹ, thả trôi một đầu sang sông Hồng là vừa khít bờ Việt Nam, xe tăng cứ thế tràn qua; biết giặc lao cầu phao qua sông Nậm Thi, qua chiếc nào, ta bắn thủng chiếc đó; biết công an vũ trang Đồn cửa khẩu Lào Cai giật bộc phá, phá hủy Cầu Kiều để ngăn giặc; biết ta phản pháo cháy hết rừng cao su bên bờ Trung Quốc; biết tự vệ Lào Cai anh dũng chiến đấu ở pháo đài Lào Cai và thoát ra bằng cách nào… Qua lời kể của người về từ chiến trận, chiến sự mùa xuân năm 1979 đã hằn sâu trong ký ức tuổi thơ tôi, đến nay vẫn không hề phai nhạt.

Vết thương tuổi thơ

Mùa xuân năm 1979, cậu bé Lương Hữu Sự khi ấy mới 10 tuổi. Nhà ở xóm Sơn Đạo, khu phố Cốc Lếu, thị xã Lào Cai (sau Chi cục Thuế thành phố Lào Cai hiện nay) - thị xã giáp biên, nên dường như Sự cảm nhận được chiến tranh sớm hơn. Sau 40 năm, kể lại về ký ức của mùa xuân năm ấy, anh Sự say sưa như đang trở về những ngày thơ ấu khủng khiếp ấy.

Anh Lương Hữu Sự.
Anh Lương Hữu Sự.

5 giờ sáng 17/2/1979, khi cả nhà đang ngủ, bỗng tiếng pháo bắn sang đồi Thanh Niên kèm tiếng nổ chát chúa, bố mẹ tôi vùng dậy, gọi 3 anh em và hét to: Trung Quốc bắn Việt Nam đấy, rồi tất cả chạy sang hầm trú ẩn. Kể đến đây, anh Sự giãi bày: Tại sao có hầm trú ẩn? Năm 1978, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc có những vấn đề, Trung Quốc kêu gọi tất cả người Hoa về nước. Lo sợ chiến tranh xảy ra, mỗi gia đình ở thị xã Lào Cai đào một hầm trú ẩn (hầm chữ A, hầm mái bằng), mỗi nhân khẩu phải nộp 5 mũi chông bằng tre vót. Do tôi là con cả, nên được theo bố đi chặt tre, xem ông vót 25 mũi chông nộp cho chính quyền để cắm dọc bờ sông Hồng.

Ở trong hầm trú ấn vẫn nghe rõ tiếng đạn pháo nổ không ngớt. Một lúc sau, thấy tình hình tạm ổn, mẹ tôi trở về nhà nấu cơm, nhưng cả nhà không ai ăn nổi vì sợ hãi. Khi trời sáng hẳn, tiếng còi ủ báo giờ làm việc của Nhà máy Điện Lào Cai vẫn cất lên bình thường. Với những người dân thị xã biên giới Lào Cai, tiếng còi ủ đã ăn sâu vào tiềm thức, với tôi nghe thấy tiếng còi ủ là chuẩn bị đến trường. Nhưng sáng hôm đó, bố kiên quyết không cho anh em tôi đi học. Đến 8 giờ sáng, khi có lệnh sơ tán, mẹ tôi địu em út trên lưng, dắt tôi và em gái đi qua đồi máy gạt (đồi Trung tâm Giống cây trồng Lào Cai hiện nay) để sang đường mới (đường Nhạc Sơn hiện nay) để xuôi xuống cầu số 4 Kim Tân. Bố tôi ở lại, tham gia dân quân để bảo vệ kho của Hợp tác xã cơ khí 19/8. Kể đến đây, anh Sự dừng lại hồi lâu: Nghĩ lại thấy sợ vô cùng, vừa đi qua đồi máy gặt thì đạn pháo Trung Quốc bắn tới, 4 mẹ con chạy miết, thương cho em gái, còn nhỏ vừa chạy, vừa thở không ra hơi. Khi đến trạm gác xã Nam Cường, tôi đã thấy xe chở bộ đội bị thương đến đó. Do đến trưa, sợ 3 anh em tôi đói, mẹ bảo tôi trông hai em, còn bà đi nấu cơm nhờ. Gạo vừa đổ vào nồi, thì một quả đạn pháo bắn cách đó không xa. Thế là, mẹ tôi phải đổ gạo vào rá cho dóc nước, rồi cho vào túi mang đi. Đi tiếp một đoạn, thì thấy bố tôi ngược lên, tay cầm theo dao và cặp lồng cơm. Sau này tôi mới biết, khi thấy đạn pháo bắn lên đồi máy gạt, bố tôi lo lắng nên đi tìm. Ông mừng đến phát khóc, ôm vội lấy anh em tôi, rồi bón cho các con từng thìa cơm. Ăn xong, cả nhà vội vã đi bộ xuống đập tràn, ở nhờ nhà của người Tày, nấu cơm ăn, chờ trời tối tiếp tục lội suối qua Quốc lộ 4E để xuôi về Bến Đền. Đến cầu treo Bến Đền, người kín như nêm, thấy vậy, bố mẹ dắt tay chúng tôi lội qua suối (do mùa này suối cạn). Do đi vào ban đêm và không được dùng đuốc vì sợ địch phát hiện sẽ dùng pháo kích, nên người đi sau phải bám vào người đi trước. Đi qua ngã ba (ngã ba Xuân Giao hiện nay), cả nhà tôi may mắn được lái xe “gấu” của Mỏ Apatit cho đi nhờ ra đến bến phà Phố Lu. Đến đây, lại tắc đường do dòng người “chạy Tàu” đông đúc và hỗn loạn. Lần này, phà không vào thẳng mũi mà chỉ cho một góc phà cập bờ. Ai cũng muốn được lên phà, nên tình hình hỗn loạn, mất kiểm soát, thấy vậy, bố tôi lội xuống sông, nước đến ngang ngực, bế mẹ và 3 anh em lên phà.

Sang bên bờ, bố mẹ nhặt bã mía làm củi để nấu cơm. Ngặt nỗi, phải chờ nhà này nấu xong thì nhà khác mới có nồi để nấu. Thành ra, chúng tôi bị đói, em gái khóc ngất, bố thấy vậy liền xách cặp lồng đi xin những nhà nấu cơm xong trước để về bón cho chúng tôi. Chờ đến hơn một ngày, cả gia đình lên tàu xuôi về Yên Bái. Ở Yên Bái 2 ngày, bố tôi ra trạm cứu tế để nhận gạo, bột mỳ ăn trong ngày, thấy không ổn, ông quyết định đưa cả nhà lên tàu về quê. Do là thợ cơ khí, nên về quê, bố tôi mở lò rèn, nhận sửa cày, cuốc cho người con trong xã để đổi lấy lương thực, nuôi gia đình qua ngày đoạn tháng.

Khi có thông tin Trung Quốc rút về nước, mẹ tôi một mình đi tàu lên Lào Cai để thăm lại nhà. Quay trở về, mẹ bảo: Nhà mình không sao, nhưng đồ đạc mất hết, chỉ còn một số giấy tờ, trong đó có giấy khai sinh của anh em tôi và chút quần áo. Cuối năm 1979, gia đình tôi quyết định lên tàu trở về Lào Cai, đến Làng Giàng, cả nhà xuống đây và ở nhờ khu tập thể Nhà máy sắn (khu Xuân Tăng, thị xã Cam Đường) và đón tết ở đó. Thời gian sau, bố mẹ tôi ra khu bờ hồ Xuân Tăng, san gạt đất, chặt cây, đan liếp tre làm nhà. Hằng ngày, bố mẹ đan bu gà, làm chổi để bán cho người dân, chúng tôi tiếp tục được cắp sách đến trường.

Năm 1982, có lệnh điều động dân cư, xây dựng xã biên giới, cả gia đình chuyển lên khu Kim Hải, xã Đồng Tuyển. Khu vực nhà cũ của gia đình tôi trở thàn vành đai trắng, chỉ được phép làm ruộng, làm nương. Mỗi lần làm nương, tôi đều thăm nơi “chôn rau cắt rốn” của mình.

Mỗi lần, khi nhìn tờ lịch ngày 17/2, anh Kiên, anh Sự và nhiều người khác cảm thấy nỗi ám ảnh và sợ hãi trở về, đó là vết thương tuổi thơ và đó là một thời để nhớ.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Cẩn trọng mở rộng diện tích cây cà phê ở Lào Cai

Cẩn trọng mở rộng diện tích cây cà phê ở Lào Cai

Thời gian gần đây, tại một số xã thuộc khu vực Bảo Yên, Mường Khương, Bắc Hà, Bảo Thắng, người dân đã và đang trồng thử nghiệm cây cà phê. Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích trồng cà phê một cách tự phát, không theo quy hoạch tại các khu vực có điều kiện sinh thái không phù hợp, đang đặt ra nhiều thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao trong sản xuất nông nghiệp.

Thu hẹp khoảng cách phát triển sau hợp nhất

Thu hẹp khoảng cách phát triển sau hợp nhất

Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, các xã, phường trên địa bàn tỉnh đang đối mặt với nhiều thách thức trong thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các khu vực. Mỗi xã, thôn đều có những đặc điểm riêng về địa lý, kinh tế - xã hội, dẫn đến sự chênh lệch về mức sống và trình độ phát triển. Để giải quyết vấn đề này, các địa phương triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm hài hòa lợi ích, phát triển bền vững và khai thác hiệu quả tiềm năng từng vùng.

Một góc thôn Bỗng 2 nhìn từ trên cao.

Bản Dao đoàn kết

Nhắc đến thôn Bỗng 2, xã Bảo Hà, nhiều người vẫn còn nhớ đó là thôn người Dao nằm khuất sâu giữa núi rừng rậm rạp, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn do thiếu sinh kế phù hợp. Tuy nhiên, với việc xác định cây quế là cây trồng chủ lực mang lại giá trị kinh tế cao, địa phương đã từng bước chuyển mình mạnh mẽ, trở thành điểm sáng trong phát triển kinh tế. Hành trình thoát nghèo của người dân nơi đây đã thể hiện tinh thần đoàn kết của cộng đồng, tạo sức lan tỏa cùng nhau phát triển.

Lào Cai: Quan tâm bảo vệ môi trường mùa lễ hội xuân

Lào Cai: Quan tâm bảo vệ môi trường mùa lễ hội xuân

Sau Tết Nguyên đán, các địa phương trong tỉnh rộn ràng bước vào mùa lễ hội xuân truyền thống. Qua những lễ hội đã diễn ra, phóng viên ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực khi công tác bảo vệ môi trường được các cấp chính quyền, ngành chức năng, người dân và du khách quan tâm hơn, góp phần gìn giữ không gian lễ hội văn minh, bền vững.

Bừng sáng tương lai sau lũ dữ

Bừng sáng tương lai sau lũ dữ

Ngày đầu năm, trong ánh nắng dịu nhẹ, chúng tôi trở lại những khu tái định cư - nơi từng oằn mình chịu đau thương sau những trận lũ dữ. Những ngôi nhà mới khang trang, những tuyến đường bê tông phẳng lì và những nương quế xanh mướt trải dài đã làm nên bức tranh hồi sinh đầy hy vọng. Đó không chỉ là thành quả từ sự hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và các nhà hảo tâm, mà còn là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên của cộng đồng.

Bình yên An San

Bình yên An San

65 năm qua, An San không chỉ là nơi lưu giữ ký ức của những ngày đầu gian khó mà còn là biểu tượng của sự gắn bó, đoàn kết và phát triển.

Suối Xuân bừng sáng xuân này

Suối Xuân bừng sáng xuân này

Suối Xuân là thôn đặc biệt khó khăn của xã Phình Hồ. Nơi thôn 100% người Mông sinh sống này, bao năm qua vẫn quen với bóng tối khi đêm xuống. Thế nhưng mùa xuân này đã khác, điện lưới quốc gia đã về tới Suối Xuân. Tết ở  thôn người Mông này vì thế cũng bừng sáng, rộn ràng hơn bao giờ hết!

Ngày mới ở Tân Tiến

Ngày mới ở Tân Tiến

Những ngày này, thôn Tân Tiến, xã Gia Phú như một đại công trường. Các dự án trọng điểm như đường Trần Hưng Đạo kéo dài, Dự án tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng hay Dự án hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp Thống Nhất đều đang được đẩy nhanh tiến độ. Cả vùng quê Tân Tiến đang chuyển mình, mang theo hy vọng về diện mạo mới, hiện đại và phát triển.

Đón xuân sớm ở Abyei

Đón xuân sớm ở Abyei

Giữa bụi đỏ mịt mù và cái nắng như đổ lửa của vùng đất Abyei, những ngày cuối năm đối với những người lính mũ nồi xanh Việt Nam đang làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình tại đây trở nên bận rộn hơn bởi không khí chuẩn bị đón Tết cổ truyền. Trong doanh trại của Đội Công binh số 4 Việt Nam tại Phái bộ An ninh lâm thời Liên hợp quốc ở Abyei (UNISFA), không khí chuẩn bị đón Tết cổ truyền đang lan tỏa khắp nơi.

Nắng ấm Bản Giàng

Nắng ấm Bản Giàng

Nằm cheo leo trên sườn núi cao và xa nhất xã Pa Cheo cũ (nay là xã Bản Xèo), thôn Bản Giàng là nơi sinh sống của hơn 50 hộ đồng bào Mông. Xuân mới Bính Ngọ 2026, Bản Giàng có thêm ngôi trường mới khang trang, đồng bào vùng cao tích cực phát triển kinh tế, mở ra trang mới đầy tươi sáng.

Xuân mới Nhìu Cù San

Xuân mới Nhìu Cù San

Trong các thôn, bản của xã Sàng Ma Sáo cũ (nay là xã Dền Sáng), Nhìu Cù San từng là nơi xa xôi, cách trở nhất. Chỉ ba năm trước, việc đi lại còn đầy gian nan. Trở lại hôm nay, chúng tôi cảm nhận rõ niềm vui hiện hữu trên gương mặt đồng bào Mông khi tuyến đường vào thôn đang được mở rộng, trải nhựa. Đặc biệt, mùa xuân 2026, hàng chục hộ dân nơi đây sẽ đón Tết trong ngôi nhà mới kiên cố, an toàn dưới chân núi “sừng trâu”.

Quyết tâm đưa dự án về đích đúng hẹn

Dự án nâng cấp cao tốc Nội Bài - Lào Cai: Quyết tâm đưa dự án về đích đúng hẹn

Dự án nâng cấp cao tốc Nội Bài - Lào Cai, đoạn qua tỉnh Lào Cai từ 2 lên 4 làn xe dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2026. Trên toàn tuyến, những ngày đầu năm, không khí thi công diễn ra khẩn trương, sôi động. Các nhà thầu đang huy động tối đa nhân lực, máy móc, tổ chức thi công đồng loạt nhiều mũi, quyết tâm đưa dự án về đích đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng.

Đổi thay vùng đất ven sông Chảy

Đổi thay vùng đất ven sông Chảy

Vùng đất ven sông Chảy thuộc thôn Hàm Rồng, xã Phúc Khánh, là nơi gắn bó của những hộ dân đã rời quê hương, nhường đất để xây dựng công trình thủy điện Thác Bà 60 năm trước. Từ những ngày đầu gian khó, đến nay vùng đất này đã khoác lên mình một diện mạo mới, minh chứng cho sự nỗ lực vượt khó và tinh thần đoàn kết của người dân nơi đây.

Thực trạng hoạt động các trạm dừng nghỉ trên cao tốc Nội Bài – Lào Cai (đoạn qua tỉnh Lào Cai)

Thực trạng hoạt động các trạm dừng nghỉ trên cao tốc Nội Bài – Lào Cai (đoạn qua tỉnh Lào Cai)

Thời gian qua, hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ tại một số trạm dừng nghỉ trên tuyến cao tốc Nội Bài – Lào Cai, đoạn qua tỉnh Lào Cai, phát sinh nhiều tồn tại về chất lượng dịch vụ, vệ sinh môi trường, ảnh hưởng đến quyền lợi người tham gia giao thông, gây dư luận không tốt. Trước thực trạng này, Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) đã chính thức đề nghị các cơ quan chức năng tỉnh Lào Cai phối hợp kiểm tra, xử lý dứt điểm.

Niềm vui mới trên núi Láo Vàng

Niềm vui mới trên núi Láo Vàng

Chỉ còn hơn một tháng nữa là đến Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, những ngày này, ở vùng lũ Phìn Ngan, xã Bát Xát, nhiều hộ đồng bào Dao đỏ đang khẩn trương di chuyển nhà đến nơi ở mới - khu tái định cư Láo Vàng. 

Xây dựng vùng cây ăn quả ôn đới gắn với sản phẩm OCOP

Xây dựng vùng cây ăn quả ôn đới gắn với sản phẩm OCOP

Nằm ở vùng đất thượng nguồn sông Chảy, xã Si Ma Cai và Sín Chéng nổi tiếng có phong cảnh đẹp, đặc biệt là vựa hoa quả ôn đới của tỉnh. Ngày đầu năm mới 2026, khi những cành hoa lê, hoa mận đang chúm chím nụ chào đón xuân về, chúng tôi có dịp đến với vùng đất lưu dấu ngựa thần để “mục sở thị” câu chuyện phát triển vùng cây ăn quả ôn đới trên núi đá tai mèo.

Bài ca nơi thượng nguồn sông Hồng

Bài ca nơi thượng nguồn sông Hồng

Đứng trên đỉnh đèo, phóng tầm mắt về phía thượng nguồn, tôi lặng nhìn dòng sông Hồng uốn lượn từ Trung Quốc chảy vào đất Việt. Khoảnh khắc ấy, tôi chợt hiểu vì sao người ta vẫn gọi thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung, là “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”.

Phụ nữ Cao Sơn viết tiếp câu chuyện đổi thay

Phụ nữ Cao Sơn viết tiếp câu chuyện đổi thay

Chúng tôi đến Cao Sơn trong một buổi sớm vùng cao còn bảng lảng sương mây và dễ dàng cảm nhận được những đổi thay đang hiện hữu trong từng nếp nhà, từng con đường nhỏ dẫn vào thôn bản; những ngôi nhà khang trang, những nương chè, nương ngô xanh mướt và hơn cả là sự đổi thay trong nếp nghĩ, cách làm của phụ nữ vùng cao.

Bước từng bước nhỏ để đi đến hành trình lớn

Phụ nữ Mường Khương: Bước từng bước nhỏ để đi đến hành trình lớn

Từ những người phụ nữ vùng cao quen với nương rẫy, bếp núc, ít nói, ít ra khỏi bản làng, phụ nữ Mường Khương hôm nay đang từng bước thay đổi. Không ồn ào, không vội vã, sự chuyển mình ấy diễn ra lặng lẽ nhưng bền bỉ - qua những mô hình kinh tế do phụ nữ làm chủ, những buổi sinh hoạt hội hay từng cú “chạm” đầu tiên với công nghệ, thị trường và tri thức mới. Những bước đi nhỏ ấy đang góp lại thành một hành trình lớn.

Khẩn trương khắc phục tình trạng thiếu nước ở vùng trồng rau Tuy Lộc

Khẩn trương khắc phục tình trạng thiếu nước ở vùng trồng rau Tuy Lộc

Vùng đất bãi Tuy Lộc ven sông Hồng trải rộng trên 6 tổ dân phố của phường Nam Cường (trước đây là xã Tuy Lộc, thành phố Yên Bái cũ) là vùng trồng rau lớn cung cấp cho các phường đô thị trung tâm của tỉnh Lào Cai hiện nay. Tuy nhiên, thời điểm này, bước vào thời điểm mùa hanh khô, hàng chục ha rau màu đang đối mặt với tình trạng thiếu nước tưới; nếu không có giải pháp khắc phục sớm, nguy cơ mất mùa là khó tránh khỏi.

fb yt zl tw