Ở đầu nguồn Nậm Đông

YBĐT - Người ta thường nói, nước Nậm Đông chính bắt nguồn ở xã Túc Đán, huyện Trạm Tấu. Người thì bảo, dòng Nậm Đông có nước chảy xuống từ Ngọc Chiến, tỉnh Sơn La. Nhưng dẫu sao, sự thẩm thấu, gom góp từng giọt vào mạch nhỏ đến nhánh lớn chắc hẳn lâu lắm. Tất thảy đã tụ dòng ở Pá Khoang thành nguồn "than trắng" cho hai nhà máy thủy điện trên dòng Nậm Đông hung dữ xưa kia.

Con đường từ thị xã Nghĩa Lộ ngược lên Túc Đán lổng chổng đá. Dọc bên đường qua bản Nậm Đông của xã Nghĩa An lúa đang rộ chín. Bàn tay chăm chỉ của đồng bào Thái ở đây đang thu hái một vụ lúa bội thu. Thành quả ấy đang tỏa hương tràn xuống phía dòng Nậm Đông. Thời điểm này ít mưa, nhà máy thủy điện hoạt động cầm chừng tích nước nên dòng chảy hiền hòa đưa nước mát cho cánh đồng Mường Lò. Ngược dốc qua vài khúc cua nhỏ, toàn bộ Nhà máy Thủy điện Nậm Đông IV đã nằm trong tầm mắt. Phía trên nhà máy, dòng Nậm Đông cạn nước, ngổn ngang những tảng đá trong lòng suối.

Phía dưới trụ sở Ủy ban nhân dân xã Túc Đán không xa là cửa lấy nước vào đường ống áp lực của Nhà máy Thủy điện Nậm Đông IV. Nhưng từ đây, phải mất thêm 4 - 5 cây số nữa người ta mới có thể đến đập ngăn dòng ở thôn Làng Linh. Con đường gồ ghề, nắng bụi dẫn tôi dọc theo con kênh lên đập dâng nước ở Làng Linh. Nhà máy Thủy điện Nậm Đông III lấy nước từ đầu nguồn ở thôn Pá Khoang có ống áp lực dài trên 1.300 mét, chiều dài kênh cũng gần 4 cây số. Nước qua các tổ máy lại được chặn dòng cách đó vài trăm mét, dẫn vào kênh chạy qua trung tâm xã. Nói là nhà máy nhưng vắng vẻ, chỉ thấy như ồn ào hơn khi chúng tôi đến gần. Có 3 tổ máy thì chỉ thấy một hoạt động, 2 tuốc-bin còn lại đứng im như để chờ nước.

Đập thủy điện Nậm Đông mùa này luôn chờ tích nước cho chạy máy giờ cao điểm.

Ba giờ chiều, không một chút gió, cái nắng hè chang chang như đổ lửa xuống từng quả đồi trọc. Những vạt keo trồng để "giữ" nhà máy cũng thưa thớt, xiêu vẹo chưa thể thành rừng. Không một bóng cây, một cụm dân cư trải dọc trên kênh dẫn nước đành phơi mình, kèm theo đó phải chịu sức nóng bốc lên từ khối đá lớn nhỏ dưới dòng suối khô khốc. Những hộ này ở nơi thấp nhất của thôn, số hộ còn lại phân tán ở các khu vực phía trên nhà máy.

Là 1 trong 12 xã, thị trấn của huyện Trạm Tấu khó khăn nhất cả nước, Túc Đán có 525 hộ với gần 3.000 người. Xã có 7 thôn, bản, trong đó 6 thôn, bản là đồng bào Mông (chiếm 90% dân số), 1 thôn là người Khơ Mú và người Thái sinh sống. Gần thị xã Nghĩa Lộ, có tiềm năng đất đai, lại là đầu nguồn nước của 3 nhà máy thủy điện nhưng tỷ lệ hộ nghèo toàn xã còn chiếm tới 80,5%.

Chắc chắn nhất bản có lẽ là ngôi nhà bốn gian tường xây, mái lợp tấm phi brô-xi măng của gia đình chị Sổng Thị Say - một trong những ngôi nhà xây hiếm hoi của xã Túc Đán. Hai năm trước, đây là nhà làm việc của công trường xây dựng nhà máy thủy điện, khi Công ty rút đi đã bán lại cho gia đình. Gia đình đã có nhà ở trung tâm xã, mua chỗ này để qua lại trông nom diện tích rừng mà công ty thủy điện thuê chăm sóc.

Nhà Trưởng thôn Làng Linh Sùng A Giàng to đẹp nhất trong tám ngôi nhà ở đây. Gần 4 giờ chiều đã sắp sửa cơm nước cho mấy anh em giúp tra lúa nương nên bếp lửa giữa nhà được nhóm lên sớm. Cái nóng bức làm cho mấy đứa bé cứ bám mình quanh vòi nước. Không khí ngột ngạt dường như làm cho người mới đến đây như thấy cái nghèo càng nghèo hơn. Mà nghèo thật! Cả thôn có 65 hộ thì chưa đầy chục hộ không nằm trong diện nghèo. Cả 5 đảng viên của Chi bộ thôn Làng Linh vẫn chưa hết nghèo, hộ Trưởng thôn Sùng A Giàng cũng vừa thoát nghèo năm ngoái.

"Dễ đi thôi, đường vào nhà máy thủy điện mà! Nhà báo phải đến tận nơi mới biết đồng bào khó khăn thế nào..." - Bí thư Đảng ủy xã Thào A Ly nói với tôi lúc còn ở trụ sở xã. Quả dễ đi thật, đường có thể đi ô tô dễ dàng như vậy mà sao lại nghèo? Tôi tự hỏi vậy rồi nhìn cái quạt điện nhà Trưởng thôn mệt mỏi quay chẳng bớt được cái nóng rát hất vào từ quả đồi cao ngất bên kia suối. Té ra họ vẫn dùng điện nước, cái "củ điện" lúc có nước thì sáng, lúc không đủ thì tối nhưng khi thừa nước, lũ về có khi còn cuốn trôi cả máy. Trưởng thôn Giàng vừa bấm tay tính nhẩm vài hộ có nhà gỗ khang trang, những hộ có xe máy loại tàm tạm vừa ca cẩm: "Dân không đủ ăn đâu, vẫn phải lên rừng thôi, kiếm gỗ bán được trăm ngàn hay 2, 3 cân gạo ăn đấy!". Rồi Trưởng thôn cùng Bí thư Chi bộ Thào A Giàng kể về những khó khăn trong sản xuất của đồng bào. Nào là toàn núi đá, đất sản xuất ít; nào là thời tiết khắc nghiệt, không hợp để chăn nuôi nên có hộ được nhận trâu của dự án nuôi một thời gian trâu gầy nên đã bán; rồi chuyện dùng đất chung để làm lúa nương, vài ba năm đất bạc lại chuyển sang trồng mảnh khác... Đồng bào Mông ở đây cũng được tuyên truyền việc trồng ngô vào diện tích lúa nương, diện tích sắn, chỗ bằng thì khai hoang ruộng nước nhưng xem ra cũng chưa thay đổi được ngay.

- Thế Chi bộ và thôn đã làm gì để dân đỡ khổ không? - tôi hỏi.

- Có chứ! Tuyên truyền phát triển kinh tế để đỡ khổ đấy nhưng ở đây, trồng cái gì cũng khó lắm, ruộng ít mà chỉ làm được một vụ vì không có nước đâu - Bí thư Giàng đáp luôn.

Nhưng tại sao ở bên cạnh nhà máy thủy điện lại không có nước làm ruộng? Nghĩ rồi tôi lại tự đi tìm câu trả lời. Đơn giản là thủy điện còn chẳng có nước thì lấy gì để tưới cho lúa. Nước mà thiếu thì câu chuyện làm nhà máy Nậm Đông I, Nậm Đông II chắc mãi cũng chỉ là ý tưởng. Chả thế họ bán cái nhà làm việc, để lâu sợ mục nát.

- Thế thôn có đề ra mục tiêu xóa hộ nghèo không?

- Bây giờ chẳng biết được đâu, năm nay hết nghèo có khi sang năm lại nghèo thôi. Có những hộ có thể thoát nghèo, có những hộ chẳng thể thoát nghèo được đâu!

- Lười quá, phải làm thì mới xóa được nghèo chứ! - Trưởng thôn Giàng thêm vào để giải thích.

Ra vậy đấy! Những hộ chẳng thể thoát nghèo là những hộ không chịu làm ăn. Nguyên nhân nghèo ở thôn Làng Linh cũng là nguyên nhân điển hình ở tất cả thôn, bản của xã. Trong câu chuyện với chúng tôi, khuyến nông viên cơ sở Đèo Tiến Cương - người Nghĩa Lộ nhưng đã có 10 năm gắn bó với mảnh đất và con người Túc Đán nói nhiều về cung cách làm ăn của người dân trong xã. "Xã có tiềm năng đất đai nhưng đồng bào phần quen trông chờ ỷ lại, phần còn lười lắm. Trước đây, cứ vào đầu vụ là chúng tôi phải đi tận thôn, xuống ruộng làm cùng bà con. Nhận thức trong chuyển đổi sản xuất được nâng lên nhưng có những nơi vẫn khó nhà báo ạ. Đồng bào vẫn quen kiểu trồng xong bỏ đấy, chăm sóc kém rồi cứ bảo do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt".

Trong câu chuyện, không so sánh nhưng anh khuyến nông viên tỏ ra muốn nói về trình độ canh tác cũng như sự chăm chỉ lao động hơn hẳn của người Thái ở bản Nậm Đông (xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ), người Thái và người Khơ Mú ở thôn Pá Te, người Mông ở Háng Tàu và Tống Chông cũng khá hơn so với các thôn khác. Ngay như chủ trương chuyển diện tích lúa nương sang trồng ngô là hiệu quả và bền vững, nhiều xã khác đã làm thành phong trào nhưng ở đây còn phải vận động nhiều.

Thôn Tà Chử có khoảng 40 hộ nhưng vận động tới sáu, bảy lần mới trồng được gần chục héc-ta. Mãi đến năm 2013 mà xã còn phải giao chỉ tiêu mỗi cán bộ xã, trưởng thôn, bản phải trồng cho được 5.000 mét vuông ngô đồi. Phần lớn giống ngô cho diện tích chuyển đổi vẫn do huyện và tỉnh cấp phát không.

"Người dân ở đây thế song hai, ba năm gần đây nhận thức cũng đã khá hơn rồi. Phải dần dần từng bước mới có thể thay đổi suy nghĩ, cách làm của đồng bào" - anh Cương nói với tôi như để tự an ủi, động viên bản thân. Phải có niềm vui để làm việc, để cống hiến được ngần ấy năm chứ. Vui bởi những nỗ lực ấy đã tạo ra những chuyển động nhất định, vụ xuân năm nay, cả xã vẫn duy trì cấy 75,4ha lúa, trồng trên 156ha ngô; tổng đàn gia súc gia cầm tăng so với cùng kỳ...

Tôi cũng biết vậy nhưng phải nhận thấy là đồng bào đã thay đổi nhiều so với trước rồi. Đã có những điển hình để bà con lấy đó làm gương học tập. Hộ anh Hảng A Của ở thôn Tống Ngoài đã bớt khó khăn nhờ chịu khó chăm sóc lúa để mỗi vụ chở về nhà hơn tấn thóc, trồng 5 cân giống để thu hoạch hàng tạ ngô. Gần đây, anh còn trồng cây thảo quả thu được cả chục triệu đồng.

Ở thôn Háng Tàu có nhà Lý A Sàng biết tính toán làm ăn bằng cách tận dụng những bãi hoang để nuôi trâu, bò, tận dụng ruộng cấy để nuôi cá và trồng ngô đồi nên chẳng những đủ ăn mà còn hướng dẫn người khác cùng làm. Rồi như việc canh tác trên cánh đồng mới (trước gọi là "cánh đồng ma") ở thôn Tống Trong là một dẫn chứng. Sau khi khai hoang, khoảng 5ha đất chia cho mỗi hộ 2 thửa ruộng cấy, nước rừng ít dần đi chẳng cấy được vụ lúa xuân, mấy năm gần đây đồng bào đã chuyển sang trồng ngô và một số cây màu khác.

Đồng bào Mông thôn Tống Ngoài, xã Túc Đán làm cỏ sắn.

Sau gần 2 tiếng cùng chiếc xe máy vật lộn, tôi đến được thôn Tống Trong. Sau quãng đường chưa đầy chục cây số từ trung tâm xã đến đây, tôi thầm thán phục những "tay lái của bản". Cứ chân dép trên những chiếc xe - chủ yếu là xe Win Trung Quốc - mà phóng rồi lượn lên, lượn xuống quanh co qua những cua chữ Z, cua tay áo với độ dốc hàng mấy chục phần trăm. Những con đường rộng trên dưới 1 mét ấy chỉ cần có mưa là đi bộ cũng đã khó khăn, đi lại bằng bất kỳ phương tiện gì khác là không thể. Vậy mà trên những con đường ấy, đồng bào đã chở tấm lợp để che chắn nhà cửa, chở cát sỏi, xi măng ngược núi làm thủy lợi hay mua phân về bón cho cây trồng. Trên đường ra cánh đồng mới, tôi gặp thanh niên Vàng A Vư chở bao phân xuống phía tràn ruộng gần suối.

- Ruộng nhà mình kia, gần suối Nậm Tục ấy, bên kia là "cánh đồng ma" đấy - thấy tôi chụp ảnh, Vư chỉ tay khoe khéo.

- Nậm Tục đấy à, có phải nước ở đây chảy về nhà máy thủy điện ở xã Nghĩa Sơn không?

- Đúng mà, đầu nguồn nó ở trong cánh rừng già kia kìa, xa lắm!

Ồ! Thì ra Túc Đán là xã có tới 2 nguồn nước cung cấp nước cho những ba nhà máy thủy điện. Chắc hẳn người dân ở đầu nguồn được quan tâm tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng lắm. Như nhiều hộ dân khác, nhà Vư cũng tham gia bảo vệ rừng, khai hoang ruộng và cấy hết 10 cân giống, thu được gần 3 tấn lúa. Gia đình còn trồng 1,5 cân ngô giống và đã trồng được khoảng 2.000 cây sơn tra nữa.

- Thế thì giàu rồi còn gì? - tôi nói.

- Chưa đâu, nhà đông lắm, 11 người đấy. Mình phải đi từ 5 giờ sáng xuống thị xã Nghĩa Lộ mua phân giờ về mới kịp bón lúa đấy. Phải bón phân lúa mới cho năng suất cao - Vư vừa nói vừa đưa tay quệt mồ hôi.

Rõ là đã thay đổi nhé, đồng bào đã biết mua phân về bón cho cây trồng còn gì! Mừng là thế nhưng tôi hiểu, đồng bào mới chỉ biết bón phân của nhà máy thôi! Trâu, bò, con lợn còn thả rông khắp bản, khắp rừng, thải ra bừa bãi thế kia thì đồng bào làm sao có đủ phân bón cho sản xuất. Rồi con đường từ đây xuống thị xã gian nan chẳng kém đường về trung tâm xã. Sợ cả con đường, có khi đi rồi không muốn quay về.

Đi dưới những con đường nắng như thiêu như đốt ở thôn Làng Linh, thôn Pá Khoang mới sợ. Nhìn lên thấy đồi trọc, nhìn xuống thấy ruộng nương như mảnh vá, đồi núi khoang vện. Dọc đường qua thôn Háng Tàu, lên Tống Trong, ra Tống Ngoài, tụt xuống Nghĩa Sơn (Văn Chấn), không ít lần tôi rơi vào cái cảm giác trống trải đến ghê người. Không thấy màu xanh của rừng là vắng những khoảnh ruộng bậc thang lóng lánh nước của mùa gieo cấy, thiếu đi sự trù phú của bản làng. Rừng có vẻ đã hết. Chả trách khi mưa xuống, lũ quét, lũ ống ào ào rửa trôi đồi núi, đâu còn ngấm đất, còn tích tụ được bao nhiêu để có nước làm vụ lúa xuân. Ngay hai Nhà máy Thủy điện Nậm Đông III, Nậm Đông IV còn chẳng đủ nước vận hành thường xuyên mà phải tích nước dành cho giờ cao điểm.

Bên chén rượu tiễn khách ở nhà Trưởng thôn Tống Ngoài - Giàng A Dê, tôi hỏi một câu tưởng như "biết rồi, khổ lắm, nói mãi": "Để người dân ở đây bớt đói nghèo cần phải có những gì?".

Nhưng rồi tôi cũng được nghe những câu trả lời mà tôi đã từng nghe: đầu tiên là đầu tư của các chương trình mục tiêu quốc gia, tiếp đến là nỗ lực, phấn đấu của người dân. Đúng là kết cấu hạ tầng, cụ thể là con đường có một ý nghĩa đặc biệt - một yếu tố quan trọng để người dân vùng cao bớt khó khăn trong đi lại. Nhưng con đường làm ăn, tính toán làm sao, vận động thế nào để đồng bào thay đổi, nâng cao nhận thức, biết chăm chỉ làm cho đủ ăn, cho thừa lúa, thừa ngô bán làm hàng hóa, nuôi nhiều trâu, bò, ngựa, dê để người miền xuôi lên mua mới là vấn đề phải trăn trở, phải nghĩ và phải làm cho được mới là điều khó khăn đối với Túc Đán. Làm sao để yếu tố thứ hai kia được đưa lên hàng thứ nhất mới làm cho mảnh đất nơi đầu nguồn của dòng Nậm Đông có thêm mảng màu xanh mới.

Quang Tuấn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Cẩn trọng mở rộng diện tích cây cà phê ở Lào Cai

Cẩn trọng mở rộng diện tích cây cà phê ở Lào Cai

Thời gian gần đây, tại một số xã thuộc khu vực Bảo Yên, Mường Khương, Bắc Hà, Bảo Thắng, người dân đã và đang trồng thử nghiệm cây cà phê. Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích trồng cà phê một cách tự phát, không theo quy hoạch tại các khu vực có điều kiện sinh thái không phù hợp, đang đặt ra nhiều thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao trong sản xuất nông nghiệp.

Thu hẹp khoảng cách phát triển sau hợp nhất

Thu hẹp khoảng cách phát triển sau hợp nhất

Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, các xã, phường trên địa bàn tỉnh đang đối mặt với nhiều thách thức trong thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các khu vực. Mỗi xã, thôn đều có những đặc điểm riêng về địa lý, kinh tế - xã hội, dẫn đến sự chênh lệch về mức sống và trình độ phát triển. Để giải quyết vấn đề này, các địa phương triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm hài hòa lợi ích, phát triển bền vững và khai thác hiệu quả tiềm năng từng vùng.

Một góc thôn Bỗng 2 nhìn từ trên cao.

Bản Dao đoàn kết

Nhắc đến thôn Bỗng 2, xã Bảo Hà, nhiều người vẫn còn nhớ đó là thôn người Dao nằm khuất sâu giữa núi rừng rậm rạp, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn do thiếu sinh kế phù hợp. Tuy nhiên, với việc xác định cây quế là cây trồng chủ lực mang lại giá trị kinh tế cao, địa phương đã từng bước chuyển mình mạnh mẽ, trở thành điểm sáng trong phát triển kinh tế. Hành trình thoát nghèo của người dân nơi đây đã thể hiện tinh thần đoàn kết của cộng đồng, tạo sức lan tỏa cùng nhau phát triển.

Lào Cai: Quan tâm bảo vệ môi trường mùa lễ hội xuân

Lào Cai: Quan tâm bảo vệ môi trường mùa lễ hội xuân

Sau Tết Nguyên đán, các địa phương trong tỉnh rộn ràng bước vào mùa lễ hội xuân truyền thống. Qua những lễ hội đã diễn ra, phóng viên ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực khi công tác bảo vệ môi trường được các cấp chính quyền, ngành chức năng, người dân và du khách quan tâm hơn, góp phần gìn giữ không gian lễ hội văn minh, bền vững.

Bừng sáng tương lai sau lũ dữ

Bừng sáng tương lai sau lũ dữ

Ngày đầu năm, trong ánh nắng dịu nhẹ, chúng tôi trở lại những khu tái định cư - nơi từng oằn mình chịu đau thương sau những trận lũ dữ. Những ngôi nhà mới khang trang, những tuyến đường bê tông phẳng lì và những nương quế xanh mướt trải dài đã làm nên bức tranh hồi sinh đầy hy vọng. Đó không chỉ là thành quả từ sự hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và các nhà hảo tâm, mà còn là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên của cộng đồng.

Bình yên An San

Bình yên An San

65 năm qua, An San không chỉ là nơi lưu giữ ký ức của những ngày đầu gian khó mà còn là biểu tượng của sự gắn bó, đoàn kết và phát triển.

Suối Xuân bừng sáng xuân này

Suối Xuân bừng sáng xuân này

Suối Xuân là thôn đặc biệt khó khăn của xã Phình Hồ. Nơi thôn 100% người Mông sinh sống này, bao năm qua vẫn quen với bóng tối khi đêm xuống. Thế nhưng mùa xuân này đã khác, điện lưới quốc gia đã về tới Suối Xuân. Tết ở  thôn người Mông này vì thế cũng bừng sáng, rộn ràng hơn bao giờ hết!

Ngày mới ở Tân Tiến

Ngày mới ở Tân Tiến

Những ngày này, thôn Tân Tiến, xã Gia Phú như một đại công trường. Các dự án trọng điểm như đường Trần Hưng Đạo kéo dài, Dự án tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng hay Dự án hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp Thống Nhất đều đang được đẩy nhanh tiến độ. Cả vùng quê Tân Tiến đang chuyển mình, mang theo hy vọng về diện mạo mới, hiện đại và phát triển.

Đón xuân sớm ở Abyei

Đón xuân sớm ở Abyei

Giữa bụi đỏ mịt mù và cái nắng như đổ lửa của vùng đất Abyei, những ngày cuối năm đối với những người lính mũ nồi xanh Việt Nam đang làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình tại đây trở nên bận rộn hơn bởi không khí chuẩn bị đón Tết cổ truyền. Trong doanh trại của Đội Công binh số 4 Việt Nam tại Phái bộ An ninh lâm thời Liên hợp quốc ở Abyei (UNISFA), không khí chuẩn bị đón Tết cổ truyền đang lan tỏa khắp nơi.

Nắng ấm Bản Giàng

Nắng ấm Bản Giàng

Nằm cheo leo trên sườn núi cao và xa nhất xã Pa Cheo cũ (nay là xã Bản Xèo), thôn Bản Giàng là nơi sinh sống của hơn 50 hộ đồng bào Mông. Xuân mới Bính Ngọ 2026, Bản Giàng có thêm ngôi trường mới khang trang, đồng bào vùng cao tích cực phát triển kinh tế, mở ra trang mới đầy tươi sáng.

Xuân mới Nhìu Cù San

Xuân mới Nhìu Cù San

Trong các thôn, bản của xã Sàng Ma Sáo cũ (nay là xã Dền Sáng), Nhìu Cù San từng là nơi xa xôi, cách trở nhất. Chỉ ba năm trước, việc đi lại còn đầy gian nan. Trở lại hôm nay, chúng tôi cảm nhận rõ niềm vui hiện hữu trên gương mặt đồng bào Mông khi tuyến đường vào thôn đang được mở rộng, trải nhựa. Đặc biệt, mùa xuân 2026, hàng chục hộ dân nơi đây sẽ đón Tết trong ngôi nhà mới kiên cố, an toàn dưới chân núi “sừng trâu”.

Quyết tâm đưa dự án về đích đúng hẹn

Dự án nâng cấp cao tốc Nội Bài - Lào Cai: Quyết tâm đưa dự án về đích đúng hẹn

Dự án nâng cấp cao tốc Nội Bài - Lào Cai, đoạn qua tỉnh Lào Cai từ 2 lên 4 làn xe dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2026. Trên toàn tuyến, những ngày đầu năm, không khí thi công diễn ra khẩn trương, sôi động. Các nhà thầu đang huy động tối đa nhân lực, máy móc, tổ chức thi công đồng loạt nhiều mũi, quyết tâm đưa dự án về đích đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng.

Đổi thay vùng đất ven sông Chảy

Đổi thay vùng đất ven sông Chảy

Vùng đất ven sông Chảy thuộc thôn Hàm Rồng, xã Phúc Khánh, là nơi gắn bó của những hộ dân đã rời quê hương, nhường đất để xây dựng công trình thủy điện Thác Bà 60 năm trước. Từ những ngày đầu gian khó, đến nay vùng đất này đã khoác lên mình một diện mạo mới, minh chứng cho sự nỗ lực vượt khó và tinh thần đoàn kết của người dân nơi đây.

Thực trạng hoạt động các trạm dừng nghỉ trên cao tốc Nội Bài – Lào Cai (đoạn qua tỉnh Lào Cai)

Thực trạng hoạt động các trạm dừng nghỉ trên cao tốc Nội Bài – Lào Cai (đoạn qua tỉnh Lào Cai)

Thời gian qua, hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ tại một số trạm dừng nghỉ trên tuyến cao tốc Nội Bài – Lào Cai, đoạn qua tỉnh Lào Cai, phát sinh nhiều tồn tại về chất lượng dịch vụ, vệ sinh môi trường, ảnh hưởng đến quyền lợi người tham gia giao thông, gây dư luận không tốt. Trước thực trạng này, Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) đã chính thức đề nghị các cơ quan chức năng tỉnh Lào Cai phối hợp kiểm tra, xử lý dứt điểm.

Niềm vui mới trên núi Láo Vàng

Niềm vui mới trên núi Láo Vàng

Chỉ còn hơn một tháng nữa là đến Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, những ngày này, ở vùng lũ Phìn Ngan, xã Bát Xát, nhiều hộ đồng bào Dao đỏ đang khẩn trương di chuyển nhà đến nơi ở mới - khu tái định cư Láo Vàng. 

Xây dựng vùng cây ăn quả ôn đới gắn với sản phẩm OCOP

Xây dựng vùng cây ăn quả ôn đới gắn với sản phẩm OCOP

Nằm ở vùng đất thượng nguồn sông Chảy, xã Si Ma Cai và Sín Chéng nổi tiếng có phong cảnh đẹp, đặc biệt là vựa hoa quả ôn đới của tỉnh. Ngày đầu năm mới 2026, khi những cành hoa lê, hoa mận đang chúm chím nụ chào đón xuân về, chúng tôi có dịp đến với vùng đất lưu dấu ngựa thần để “mục sở thị” câu chuyện phát triển vùng cây ăn quả ôn đới trên núi đá tai mèo.

Bài ca nơi thượng nguồn sông Hồng

Bài ca nơi thượng nguồn sông Hồng

Đứng trên đỉnh đèo, phóng tầm mắt về phía thượng nguồn, tôi lặng nhìn dòng sông Hồng uốn lượn từ Trung Quốc chảy vào đất Việt. Khoảnh khắc ấy, tôi chợt hiểu vì sao người ta vẫn gọi thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung, là “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”.

Phụ nữ Cao Sơn viết tiếp câu chuyện đổi thay

Phụ nữ Cao Sơn viết tiếp câu chuyện đổi thay

Chúng tôi đến Cao Sơn trong một buổi sớm vùng cao còn bảng lảng sương mây và dễ dàng cảm nhận được những đổi thay đang hiện hữu trong từng nếp nhà, từng con đường nhỏ dẫn vào thôn bản; những ngôi nhà khang trang, những nương chè, nương ngô xanh mướt và hơn cả là sự đổi thay trong nếp nghĩ, cách làm của phụ nữ vùng cao.

Bước từng bước nhỏ để đi đến hành trình lớn

Phụ nữ Mường Khương: Bước từng bước nhỏ để đi đến hành trình lớn

Từ những người phụ nữ vùng cao quen với nương rẫy, bếp núc, ít nói, ít ra khỏi bản làng, phụ nữ Mường Khương hôm nay đang từng bước thay đổi. Không ồn ào, không vội vã, sự chuyển mình ấy diễn ra lặng lẽ nhưng bền bỉ - qua những mô hình kinh tế do phụ nữ làm chủ, những buổi sinh hoạt hội hay từng cú “chạm” đầu tiên với công nghệ, thị trường và tri thức mới. Những bước đi nhỏ ấy đang góp lại thành một hành trình lớn.

Khẩn trương khắc phục tình trạng thiếu nước ở vùng trồng rau Tuy Lộc

Khẩn trương khắc phục tình trạng thiếu nước ở vùng trồng rau Tuy Lộc

Vùng đất bãi Tuy Lộc ven sông Hồng trải rộng trên 6 tổ dân phố của phường Nam Cường (trước đây là xã Tuy Lộc, thành phố Yên Bái cũ) là vùng trồng rau lớn cung cấp cho các phường đô thị trung tâm của tỉnh Lào Cai hiện nay. Tuy nhiên, thời điểm này, bước vào thời điểm mùa hanh khô, hàng chục ha rau màu đang đối mặt với tình trạng thiếu nước tưới; nếu không có giải pháp khắc phục sớm, nguy cơ mất mùa là khó tránh khỏi.

fb yt zl tw