Trên các sườn núi ở thôn Phìn Hồ, màu xanh của cây trúc nay đã phủ rộng hơn trước, tạo nên khung cảnh yên bình giữa vùng cao. Ít ai biết rằng, trước đây, nhiều khu vực tại nơi này từng bị xói mòn, đất bạc màu do người dân canh tác trên địa hình dốc lớn. Từ thực tế đó, một số hộ dân đã chủ động chuyển sang trồng trúc như giải pháp để giữ đất, chống sạt lở và bảo vệ diện tích sản xuất.
Gia đình ông Lý Quẩy Và là một trong những hộ tiên phong duy trì và mở rộng diện tích trồng trúc ở thôn Phìn Hồ từ cách đây hơn chục năm về trước. Từ vài chục khóm trúc ban đầu, đến nay gia đình ông đã gây dựng được 3 vạt đồi trúc xanh tốt, diện tích khoảng hơn 1 ha.
Theo ông Và, cây trúc dễ chăm sóc, chỉ mất công giai đoạn đầu khi còn là cây non, khi phủ tán, cỏ khó mọc.
Không dừng lại ở vai trò bảo vệ môi trường, cây trúc còn mang lại nhiều giá trị thiết thực trong đời sống và sản xuất của người dân địa phương. Thân trúc được sử dụng làm hàng rào hoặc nguyên liệu cho nghề đan lát truyền thống, trong khi lá và cành được tận dụng làm chất đốt. Đặc biệt, măng trúc từ lâu đã không còn là món ăn dân dã riêng của đồng bào vùng cao mà đã trở thành đặc sản rất được ưa chuộng, cung cấp cho các nhà hàng tại Khu du lịch Quốc gia Sa Pa.
Và vài năm trở lại đây, nhu cầu sử dụng ống trúc làm cơm lam và các sản phẩm thủ công tăng lên đã mở ra thêm đầu ra cho người dân. Nhờ những lợi ích kinh tế thấy rõ này, nhiều hộ gia đình đã bắt đầu quan tâm hơn đến việc phục hồi và phát triển diện tích trúc trên các sườn đồi dốc.
Thôn Phìn Hồ hiện có hơn 60 hộ dân, trong đó khoảng 20 hộ trồng trúc xanh với tổng diện tích khoảng 6 ha. Theo ông Lý Láo Tả, Trưởng thôn Phìn Hồ, cây trúc từng có thời gian bị mai một do người dân chưa chú trọng chăm sóc và đầu ra chưa ổn định. Tuy nhiên, từ năm 2015, nhờ giá trị kinh tế từ măng và thân trúc tăng lên, người dân đã chủ động mở rộng diện tích.
Không riêng Phìn Hồ, hiện nay cây trúc xanh đã được trồng tại nhiều thôn của xã Ngũ Chỉ Sơn như Can Hồ A, Lủ Khấu, Cửa Cải… Tổng diện tích toàn xã đạt khoảng 15 ha. Dù quy mô chưa lớn, song mô hình này đang cho thấy hiệu quả rõ nét trong việc phát triển kinh tế gắn với bảo vệ tài nguyên rừng và môi trường sinh thái.
Theo đánh giá của chính quyền địa phương, cây trúc có nhiều ưu điểm phù hợp với điều kiện tự nhiên ở vùng cao. Bộ rễ khỏe giúp giữ đất, hạn chế rửa trôi vào mùa mưa. Khả năng sinh trưởng tốt trên địa hình dốc giúp phủ xanh những khu vực khó canh tác. Đây cũng là loại cây không phải đầu tư chăm sóc nhiều nhưng cho khai thác lâu dài.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng sạt lở đất, lũ ống, lũ quét thường xuyên xảy ra ở miền núi, việc phát triển những loại cây có khả năng giữ đất, bảo vệ sườn dốc như cây trúc đang trở thành hướng đi phù hợp. Mô hình này vừa góp phần giảm thiểu thiên tai, vừa tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân.
Tuy nhiên, để cây trúc thực sự trở thành cây sinh kế bền vững, xã Ngũ Chỉ Sơn vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn. Hiện nay, việc mở rộng diện tích chủ yếu dựa vào nguồn lực tự thân của người dân nên còn gặp nhiều hạn chế. Đầu ra cho các sản phẩm từ trúc dù đã hình thành nhưng nhìn chung chưa ổn định, phần lớn vẫn là tiêu thụ nhỏ lẻ, phụ thuộc vào thương lái trong tỉnh.
Ông Hoàng Ngọc Định - Phó Chủ tịch UBND xã Ngũ Chỉ Sơn cho biết: “Qua các cuộc tiếp xúc cử tri và họp thôn, người dân nhiều lần kiến nghị được hỗ trợ kinh phí để mở rộng diện tích trồng trúc. Tuy nhiên, do nguồn lực ngân sách địa phương còn khó khăn nên xã đang đề xuất cấp trên xem xét lồng ghép nội dung này vào các chương trình mục tiêu quốc gia để hỗ trợ người dân”.
Theo ông Định, nếu cây trúc nhận được sự quan tâm đầu tư bài bản về nguồn giống, kỹ thuật canh tác và có sự kết nối chặt chẽ trong tiêu thụ sản phẩm, địa phương hoàn toàn có thể quy hoạch thành các vùng nguyên liệu lớn gắn với phát triển du lịch sinh thái rừng trúc, đồng thời khôi phục và nâng tầm các sản phẩm thủ công truyền thống.
Khi những “nút thắt” về vốn, kỹ thuật và thị trường đầu ra được tháo gỡ đồng bộ, cây trúc ở xã Ngũ Chỉ Sơn hứa hẹn sẽ còn bén rễ sâu hơn nữa vào lòng đất. Đó sẽ là nền tảng vững chắc để xây dựng nên những bản làng vùng cao xanh, an toàn trước thiên tai và trù phú với nguồn thu nhập bền vững.