Là xã vùng cao, có 90% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, thời gian qua, xã Nậm Có luôn bám sát các nghị quyết của Đảng bộ xã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh sẵn có của địa phương để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân.
Hiện, Đảng bộ xã có 20 chi bộ với 314 đảng viên. Phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, Đảng bộ xã Nậm Có luôn chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo theo hướng sát thực tiễn.
Các chi bộ không chỉ tập trung quán triệt nghị quyết mà còn gắn việc học tập với giải quyết những vấn đề cụ thể ở cơ sở, đặc biệt là trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo.
Nội dung sinh hoạt được chuẩn bị kỹ lưỡng, bám sát nhiệm vụ chính trị của từng thôn, bản, qua đó phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trong lao động sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi.
Ông Lò Văn Bích, Bí thư chi bộ thôn Có Thái cho biết: Chi bộ hiện có 21 đảng viên. Thời gian qua, Chi bộ đã quán triệt nghị quyết của Đảng bộ xã trong các buổi sinh hoạt để phát huy tinh thần tiên phong phát triển kinh tế của đảng viên, đồng thời tuyên truyền, vận động Nhân dân phát huy tiềm năng sẵn có của địa phương để phát triển các mô hình kinh tế phù hợp.
Vì vậy, đến nay, thôn Có Thái đã hình thành nhiều mô hình kinh tế hiệu quả. Tiêu biểu như mô hình trồng lúa nếp tan của đảng viên Lò Văn Thông, với diện tích hơn 3.000 m2, nhờ ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, mỗi năm gia đình anh thu hoạch được gần 2 tấn lúa. Bên cạnh đó, mỗi năm gia đình anh còn thu nhập hơn 100 triệu đồng nhờ kết hợp phát triển chăn nuôi gà và lợn.
Bên cạnh đó, nhiều đảng viên tại Nậm Có đã mạnh dạn ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, xây dựng các mô hình kinh tế hiệu quả như: trồng lúa nếp tan, trồng cây dược liệu, chăn nuôi gia súc theo hướng hàng hóa, phát triển kinh tế rừng. Từ những mô hình điểm này, Nhân dân trong xã học tập và làm theo, từng bước thay đổi tư duy sản xuất, nâng cao thu nhập.
Nhiều hộ gia đình trên địa bàn xã đã phát triển kinh tế khá hiệu quả, điển hình như mô hình nuôi lợn nái sinh sản kết hợp lợn thịt thương phẩm với quy mô trên 50 con của anh Nguyễn Văn Sinh ở thôn Có Thái, mang lại thu nhập khoảng 150 - 200 triệu đồng/năm; mô hình trồng trên 100 gốc đào của gia đình anh Chang A Kỷ ở thôn Lùng Cúng cũng cho hiệu quả rõ rệt, mỗi năm từ việc bán cành và cây đem lại thu nhập trên 100 triệu đồng; các hộ gia đình Vàng A Tông và Lù A Rùa ở thôn Mú Cái Hồ đã tận dụng diện tích đất để trồng cỏ voi phục vụ chăn nuôi trên 20 con trâu, bò, đem lại nguồn thu hơn 100 triệu đồng/năm/hộ.
Anh Lù A Rùa cho hay: “Từ học hỏi những mô hình phát triển kinh tế của các đảng viên trong thôn, cùng với sự hỗ trợ của Hội Nông dân trong việc ủy thác nguồn vốn vay từ ngân hàng, gia đình tôi đã mạnh dạn cùng gia đình anh Vàng A Tông đầu tư mua trâu, bò để chăn nuôi, từng bước phát triển kinh tế hộ gia đình”.
Để phát triển các mô hình kinh tế, các tổ chức đoàn thể ở Nậm Có như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên đã phát huy tốt vai trò cầu nối, hướng dẫn hội viên ứng dụng khoa học - kỹ thuật, tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi và xây dựng các mô hình phù hợp với điều kiện địa phương, như trồng lúa, ngô và chăn nuôi đại gia súc. Nhờ đó, năm 2025, tổng sản lượng lương thực có hạt của xã đạt trên 7.500 tấn; tổng đàn gia súc chính đạt hơn 12.000 con, sản lượng thịt hơi các loại đạt khoảng 560 tấn/năm.
Đến nay, Nậm Có đã thành lập được 3 hợp tác xã, 23 tổ hợp tác; phát triển hơn 1.000 ha sơn tra; duy trì 20 mô hình chăn nuôi… Đưa thu nhập bình quân đạt hơn 30 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 8,5%.
Nậm Có đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt gần 7.700 tấn; tổng đàn gia súc chính đạt gần 14.000 con; tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 700 tấn; quản lý, bảo vệ, chăm sóc tốt hơn 1.800 ha sơn tra; thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 14,56 tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt 52 triệu đồng/năm...
Đồng chí Khang A Chua - Bí thư Đảng ủy xã Nậm Có cho biết: Thời gian tới, Đảng ủy xã tiếp tục xác định nhiệm vụ trọng tâm gồm: nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; đổi mới phương thức lãnh đạo; phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất; khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế sẵn có của địa phương; triển khai thực hiện hiệu quả các đề án, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp; đưa các loại giống mới, có năng suất cao vào gieo trồng; đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ đưa ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất; chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp sang làm kinh tế nông nghiệp.
Đồng thời, Nậm Có tiếp tục phát huy lợi thế kinh tế đồi rừng với việc trồng sâm, dược liệu dưới tán rừng; mở rộng diện tích sơn tra, đào rừng và duy trì cây thảo quả; thử nghiệm một số cây trồng mới như: lê tai nung, hoa hồng, cà chua, chanh leo; đồng thời thu hút doanh nghiệp đầu tư các mô hình trồng sâm, nuôi cá tầm, cá hồi tại các khu vực Làng Giàng, Tà Ghênh, Thào Xa Chải, Tu San.
Cùng với đó, các mô hình chăn nuôi gia súc theo hướng bán công nghiệp, nuôi gà và nuôi cá ruộng tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và tạo động lực để Nậm Có phát triển bền vững.
Có thể khẳng định, việc gắn công tác xây dựng Đảng với phát triển kinh tế ở Nậm Có không chỉ là chủ trương đúng đắn mà còn là giải pháp hiệu quả, phù hợp với thực tiễn. Khi “ý Đảng hợp lòng dân”, khi mỗi cán bộ, đảng viên thực sự là "hạt nhân" gương mẫu thì mọi khó khăn đều có thể vượt qua, góp phần tạo động lực mạnh mẽ để địa phương phát triển ổn định và bền vững.