Khai thác dư địa phát triển lâm sản ngoài gỗ

Lào Cai có nguồn lâm sản ngoài gỗ phong phú với nhiều ngành hàng chủ lực như quế, tre măng Bát độ, sơn tra, thảo quả và dược liệu dưới tán rừng. Tuy nhiên, dư địa lớn nhất của lâm sản ngoài gỗ hiện nay không chỉ nằm ở việc mở rộng diện tích hay tăng sản lượng khai thác, mà ở khả năng tổ chức lại chuỗi giá trị, gắn vùng nguyên liệu với chế biến sâu, tiêu chuẩn chất lượng và thị trường tiêu thụ ổn định.

0:00 / 0:00
0:00

Lào Cai có lợi thế nổi trội về tài nguyên rừng, đa dạng sinh học và điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng để phát triển lâm sản ngoài gỗ. Đến cuối năm 2025, diện tích rừng toàn tỉnh đạt hơn 865.000 ha, tỷ lệ che phủ rừng ước đạt 61,5%. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh phát triển kinh tế lâm nghiệp theo hướng đa giá trị, trong đó lâm sản ngoài gỗ ngày càng giữ vai trò rõ nét hơn.

Năm 2025, toàn tỉnh khai thác khoảng 400.000 tấn lâm sản ngoài gỗ, gồm 42.000 tấn vỏ quế khô, 200.000 tấn cành lá quế, 120.000 tấn măng tươi, 5.000 tấn sơn tra, 1.600 tấn thảo quả và khoảng 31.000 tấn sản phẩm khác.

Sản lượng lớn cho thấy lâm sản ngoài gỗ còn nhiều dư địa phát triển thành các ngành hàng giá trị cao. Tuy nhiên, nếu chủ yếu vẫn bán nguyên liệu thô, giá trị mang lại cho người dân và địa phương sẽ khó tương xứng với tiềm năng.

Tre măng Bát độ mở hướng liên kết vùng nguyên liệu

Trên những triền đồi tại xã Lương Thịnh, màu xanh của tre măng Bát độ đã phủ kín những diện tích đất cằn cỗi vốn trước đây chỉ hợp với ngô, sắn. Từ loại cây trồng thử nghiệm, tre măng Bát độ giờ đã trở thành kế sinh nhai của nhiều hộ dân khi vùng nguyên liệu ngày càng mở rộng, đầu ra sản phẩm dần ổn định hơn.

baolaocai-br_img-2246.jpg
Vùng tre măng Bát độ phát triển xanh tốt, tạo nền tảng hình thành vùng nguyên liệu tập trung.

Ông Vũ Quang Khánh, thôn Quang Vinh cho biết, có nhà máy thu mua ổn định nên bà con yên tâm bám đồi, bám đất. Hơn 20 năm gắn bó với cây tre măng, gia đình ông hiện có khoảng 2 ha đang cho thu hoạch ổn định, sau khi trừ chi phí, mỗi năm thu về khoảng 50 triệu đồng. Có đầu ra ổn định, vụ này ông tiếp tục xuống giống thêm hơn 4.000 gốc mới để mở rộng diện tích.

20220218-092136.jpg
Người dân xã Lương Thịnh xuống giống tre măng Bát độ trên đất đồi, mở rộng vùng nguyên liệu.

Nhiều hộ dân khác ở Lương Thịnh cũng đang chuyển dần sang gắn bó với tre măng Bát độ thay cho các loại cây trồng ngắn ngày trước đây. Toàn xã hiện có gần 635 ha tre măng và đặt mục tiêu nâng lên trên 1.000 ha vào năm 2030. Việc mở rộng diện tích không còn xuất phát từ tâm lý trồng theo phong trào, mà từ hiệu quả kinh tế đã được kiểm chứng trên những diện tích tre cho thu hoạch ổn định.

Tại xã Hưng Khánh, mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và người dân đang cho thấy hiệu quả rõ nét. Công ty TNHH Yamazaki Việt Nam hiện là một trong những đầu mối tiêu thụ quan trọng cho vùng tre măng Bát độ địa phương. Khi vào vụ, măng tươi từ các xã được chuyển về nhà máy để sơ chế, phân loại và đóng gói ngay trong ngày. Doanh nghiệp đã xây dựng hàng chục điểm thu mua tại vùng nguyên liệu, mỗi năm tiêu thụ khoảng 3.000 - 4.000 tấn măng tre Bát độ cho người dân địa phương.

Sự xuất hiện của các cơ sở thu mua, sơ chế và phân loại ngay tại vùng trồng đã giúp người dân thay đổi thói quen sản xuất. Thay vì chỉ quan tâm đến sản lượng, nhiều hộ đã chú trọng hơn đến thời điểm thu hoạch, kích cỡ măng, chất lượng sản phẩm và yêu cầu bảo quản sau thu hoạch.

Đến hết năm 2025, toàn tỉnh có khoảng 7.120 ha tre măng Bát độ, tập trung tại các xã Quy Mông, Hưng Khánh, Lương Thịnh, Việt Hồng, Trấn Yên, Yên Thành, Cảm Nhân, Mường Lai, Khánh Hòa, Lục Yên, Lâm Thượng... Sản lượng măng tươi năm 2025 đạt trên 100.000 tấn.

​Một số dòng sản phẩm như măng muối lên men, măng chua, măng khô sợi xuất khẩu đã bắt đầu tìm được đường sang các thị trường có yêu cầu cao như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản thông qua ký kết thu mua lâu dài của các đơn vị lớn như Công ty Cổ phần Yên Thành và Công ty TNHH Vạn Đạt.

baolaocai-br_1-2407.jpg
Sơ chế, chế biến măng tre Bát độ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường.

Tuy nhiên, với tre măng Bát độ, phần giá trị lớn hiện nay chủ yếu nằm ở khâu nguyên liệu và sơ chế ban đầu. Chưa đến 30% sản lượng măng tươi được đưa vào chế biến sâu, còn lại phần lớn vẫn tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô hoặc sơ chế đơn giản. Đây cũng là điểm nghẽn chung của nhiều ngành hàng lâm sản ngoài gỗ hiện nay: vùng nguyên liệu phát triển khá nhanh, nhưng chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch và đầu ra thị trường vẫn chưa theo kịp.

Quế, dược liệu và bài toán chế biến sâu

Nếu tre măng Bát độ cho thấy vai trò của liên kết vùng nguyên liệu, thì quế và dược liệu lại đặt ra rõ hơn bài toán giữ lại giá trị sau chế biến. Đây là nhóm sản phẩm có lợi thế lớn, có khả năng tham gia sâu hơn vào các thị trường yêu cầu cao nếu được chuẩn hóa tốt từ vùng trồng đến chế biến.

Theo báo cáo ngành lâm nghiệp tỉnh, năm 2025, giá trị thu được từ vỏ quế đạt trên 654 tỷ đồng, tăng hơn 123% so với năm trước; diện tích quế đạt tiêu chuẩn hữu cơ khoảng 25.000 ha. Không chỉ là cây lâm nghiệp tạo thu nhập cho người dân vùng cao, quế còn có thể phát triển thành nhiều dòng sản phẩm phục vụ thực phẩm, dược liệu, mỹ phẩm, chăm sóc sức khỏe và xuất khẩu.

baolaocai-br_boc-que.jpg
Người dân thu hoạch vỏ quế tại vùng nguyên liệu.

Dư địa của cây quế không chỉ nằm ở diện tích hay sản lượng vỏ khô. Từ vỏ, cành, lá, rễ dùng để sản xuất tinh dầu đến phần gỗ sau khi bóc vỏ, hầu như mọi bộ phận của cây quế đều có thể trở thành nguyên liệu cho các ngành công nghiệp giá trị cao nếu được đầu tư chế biến phù hợp.

Thực tế hiện nay, phân khúc sản xuất tinh dầu quế từ cành, lá, rễ vẫn bộc lộ rõ điểm nghẽn của chế biến thô. Nhiều cơ sở, nhà máy chưng cất trên địa bàn mới chỉ dừng lại ở công nghệ thủ công, lò hơi đơn giản, hàm lượng hoạt chất đạt khoảng 82 - 85%. Do chủ yếu là sản phẩm thô, tinh dầu quế dễ bị ép giá, giá trị kinh tế thấp và phụ thuộc nhiều vào một số thị trường truyền thống.

baolaocai-br_img-4543.jpg
Chưng cất tinh dầu quế là khâu cần tiếp tục được nâng cấp công nghệ để nâng cao giá trị sản phẩm.

Sau khi xuất khẩu, các doanh nghiệp nước ngoài tiếp tục tinh luyện sâu bằng công nghệ cao để đưa sản phẩm vào các ngành y dược, mỹ phẩm, thực phẩm và hương liệu - những phân khúc tạo ra phần lớn giá trị gia tăng của chuỗi sản phẩm. Nghịch lý này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải đầu tư mạnh hơn cho công nghệ chế biến, nhằm giữ lại nhiều hơn giá trị cho ngành hàng quế ngay tại địa phương.

Định hướng này cũng phù hợp với Nghị quyết số 48-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển dược liệu chiến lược giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2050. Nghị quyết xác định dược liệu là ngành hàng chiến lược của tỉnh, phát triển theo chuỗi giá trị, gắn vùng nguyên liệu với chế biến sâu, chăm sóc sức khỏe, xuất khẩu và du lịch; trong đó cây quế giữ vai trò kép, vừa là cây lâm nghiệp, vừa là dược liệu quý.

Để đi vào các thị trường có yêu cầu cao, vùng quế hữu cơ không chỉ cần chứng nhận mà còn phải được kiểm soát chặt chẽ về quy trình canh tác, chất lượng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc đến từng vùng trồng. Bài toán của quế vì vậy chuyển từ chế biến thô sang chế biến tinh, từ xuất khẩu nguyên liệu sang phát triển sản phẩm có hàm lượng công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng và thương hiệu cao hơn, giảm phụ thuộc vào xuất khẩu thô và các thị trường truyền thống.

so-che-que.jpg
Sơ chế, phân loại quế trước khi đưa ra thị trường.

Không chỉ quế, nhiều loài dược liệu bản địa khác cũng đang mở ra hướng phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương. Lào Cai hiện có khoảng 850 loài cây thuốc, trong đó có nhiều loài quý hiếm, đặc hữu; diện tích dược liệu đạt khoảng 6.555 ha, sản lượng hơn 30.200 tấn mỗi năm. Một số sản phẩm như atiso Sa Pa, chè dây, thuốc tắm thảo dược, tinh dầu quế đã từng bước tạo dựng được chỗ đứng trên thị trường.

baolaocai-br_vuon-sam-3.jpg
Kiểm tra sinh trưởng cây sâm tại vùng trồng, góp phần chuẩn hóa quy trình phát triển dược liệu.

Tuy vậy, để dược liệu thực sự trở thành ngành hàng giá trị cao, sản xuất không thể chỉ dừng ở trồng, thu hái và bán nguyên liệu. Các vùng trồng cần được chuẩn hóa từ giống, quy trình canh tác, hàm lượng hoạt chất đến sơ chế, bảo quản, kiểm nghiệm chất lượng và phát triển sản phẩm. Nếu được đầu tư bài bản, dược liệu dưới tán rừng có thể vượt khỏi vai trò sản vật bản địa để trở thành ngành hàng kinh tế giàu giá trị của vùng núi.

Để sản vật núi rừng đi xa hơn

Dù đã xuất hiện những điểm sáng, nhiều ngành hàng lâm sản ngoài gỗ của Lào Cai vẫn đối mặt với bài toán chế biến, bảo quản và thị trường tiêu thụ. Sự chênh lệch về năng lực tổ chức sản xuất giữa các ngành hàng đang đặt ra không ít thách thức cho mục tiêu nâng cao giá trị lâm sản ngoài gỗ cũng như kinh tế lâm nghiệp.

Tại nhiều xã vùng cao, cây sơn tra (táo mèo) từ lâu đã gắn bó với sinh kế của đồng bào Mông. Những cánh rừng sơn tra phủ kín sườn núi không chỉ góp phần giữ đất, giữ rừng, mà còn mang lại nguồn thu quan trọng mỗi mùa quả chín.

Đến mùa thu hoạch sơn tra, từ sáng sớm, nhiều người dân đã gùi quả xuống điểm thu mua. Có những năm được mùa, được giá, nhiều gia đình thu hàng chục đến hàng trăm triệu đồng từ cây sơn tra. Đây cũng là nguồn thu nhập chính để nuôi con ăn học và đầu tư sản xuất.

img-1660.jpg
Người dân vùng cao gùi sơn tra xuống điểm thu mua.

Tuy nhiên, cũng có năm quả chín đựng đầy trong những chiếc sọt ven đường vì thương lái thu mua chậm, cho thấy rõ sự bấp bênh của đầu ra khi sản phẩm vẫn phụ thuộc chủ yếu vào thị trường tự do.

baolaocai-br_kiem-tra-son-tra.jpg
Sơn tra vào mùa thu hái, mang lại nguồn thu quan trọng cho nhiều hộ dân vùng cao.

Toàn tỉnh hiện duy trì hơn 9.300 ha sơn tra, tập trung chủ yếu tại các xã vùng cao như Nậm Có, Púng Luông, Lao Chải, Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Tú Lệ…; sản lượng năm 2025 đạt khoảng 5.000 tấn.

Dù quy mô lớn, phần lớn sản phẩm hiện vẫn tiêu thụ dưới dạng quả tươi, ngâm rượu hoặc sấy thủ công. Việc thiếu cơ sở chế biến quy mô, thiếu công nghệ bảo quản sau thu hoạch và chưa có doanh nghiệp lớn liên kết tiêu thụ khiến đầu ra của loại cây bản địa này phụ thuộc chặt chẽ vào thương lái.

Thực tế, trong khi các ngành hàng như quế và tre măng Bát độ đã bước đầu hình thành chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ khá rõ nét, thì sơn tra vẫn chủ yếu dừng lại ở khâu cung ứng nguyên liệu thô. Điểm nghẽn về công nghệ chế biến và thị trường ổn định khiến tiềm năng của loại “lộc rừng” này chưa được khai thác tương xứng. Việc thiếu doanh nghiệp đầu chuỗi đủ mạnh cùng các hợp tác xã làm cầu nối khiến người dân chưa thể yên tâm đầu tư lâu dài, buộc nông, lâm sản địa phương luẩn quẩn ở phân khúc giá trị thấp.

Từ tre măng Bát độ, quế, dược liệu đến sơn tra, lâm sản ngoài gỗ đang mở ra không gian sinh kế mới cho người dân. Để các sản vật núi rừng đi xa hơn, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng diện tích hay tăng sản lượng, mà phải chú trọng chuẩn hóa vùng nguyên liệu, nâng cấp công nghệ chế biến, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Khi chuỗi giá trị được tổ chức bài bản, lâm sản ngoài gỗ mới có thể trở thành ngành hàng giá trị cao, góp phần phát triển kinh tế xanh và nâng cao thu nhập bền vững cho người dân vùng cao.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Phường Sa Pa khen thưởng 2 vận động viên đạt thành tích cao tại các giải chạy quốc tế

Phường Sa Pa khen thưởng 2 vận động viên đạt thành tích cao tại các giải chạy quốc tế

Chiều 4/9, UBND phường Sa Pa tổ chức phiên họp thường kỳ tháng 9, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 8 tháng đầu năm 2026; khen thưởng 2 vận động viên Hà Thị Hậu, Ngô Văn Chính có thành tích xuất sắc tại các giải chạy quốc tế, đồng thời ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác triển khai Đề án Bảo tồn và phát triển cây ăn quả ôn đới bản địa giai đoạn 2026 - 2031.

Bản Xèo tháo gỡ vướng mắc trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Bản Xèo tháo gỡ vướng mắc trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Xã Bản Xèo phấn đấu đến ngày 30/9/2026 hoàn thành 101 hồ sơ đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đo đạc ít nhất 70% trong tổng số 205 hồ sơ còn phải trích lục, đo đạc. Đó là kết luận của đồng chí Nguyễn Việt Cường, Chủ tịch UBND xã tại cuộc họp đánh giá tiến độ Chiến dịch 60 ngày đêm đẩy nhanh công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2026 diễn ra vào sáng 4/9.

Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Ngô Hạnh Phúc làm việc với xã Bát Xát

Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Ngô Hạnh Phúc làm việc với xã Bát Xát

Sáng 4/9, đoàn công tác của tỉnh do đồng chí Ngô Hạnh Phúc - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với xã Bát Xát về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 8 tháng đầu năm, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và triển khai nhiệm vụ những tháng cuối năm 2026.

Hành trình dựng những ngôi trường nơi biên giới Lào Cai

Hành trình dựng những ngôi trường nơi biên giới Lào Cai

Từ chủ trương xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới, Lào Cai đã khẩn trương triển khai những công trình đầu tiên tại Mường Khương, Y Tý, Pha Long, A Mú Sung. Vượt qua mưa rét, sương mù, địa hình khó khăn và áp lực tiến độ, những công trường vùng cao đã về đích đúng dịp năm học mới. Những ngôi trường khang trang hôm nay là thành quả của một hành trình đặc biệt, mở thêm điều kiện học tập, sinh hoạt tốt hơn cho học sinh nơi biên giới.

Lào Cai: Giữ dòng điện thông suốt cho điểm cầu trung tâm lễ khai giảng toàn quốc

Lào Cai: Giữ dòng điện thông suốt cho điểm cầu trung tâm lễ khai giảng toàn quốc

Chủ động phương án, bảo đảm điện thông suốt phục vụ khai giảng năm học mới, Công ty Điện lực Lào Cai đã tăng cường kiểm tra lưới điện, bố trí lực lượng trực 24/24 giờ và chuẩn bị các nguồn điện dự phòng, sẵn sàng xử lý các tình huống phát sinh, bảo đảm cung cấp điện liên tục cho các hoạt động khai giảng năm học 2026 - 2027.

Xã Bát Xát, Trịnh Tường kiểm tra thực địa, tháo gỡ vướng mắc bồi thường giải phóng mặt bằng

Xã Bát Xát, Trịnh Tường kiểm tra thực địa, tháo gỡ vướng mắc bồi thường giải phóng mặt bằng

Sáng 3/9, lãnh đạo UBND xã Bát Xát và xã Trịnh Tường đã trực tiếp kiểm tra thực địa tại các vị trí đất liên quan đến kiến nghị của một số hộ dân trong quá trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng các dự án do Tổng công ty Khoáng sản TKV làm chủ đầu tư.

fb yt zl tw