Mưu sinh trên “tam giác” sông Chảy

Mưu sinh trên “tam giác” sông Chảy ảnh 1

Tháng 3, mùa hoa gạo vương đầy hai bên đường xuống bến Phìn Chư. Đứng trên cao nhìn xuống, mặt hồ ở tam giác sông Chảy như tấm gương phẳng lặng, lấp lánh ánh bạc trong nắng chiều. Thi thoảng, có chiếc thuyền sang sông, đôi mái chèo khua nhẹ tạo ra những sóng nước nối nhau. Đặt chân đến bến Phìn Chư cũng là lúc mặt trời đã nấp sau dãy núi Tả Thàng. Chàng trai người Mông Vàng Seo Chơ vác theo lồng bát quái, nhanh tay bỏ xuống thuyền, chờ mọi người lên hết, anh thong thả khua nhẹ mái chèo. Phía sau, vài chiếc thuyền cũng vừa rời bến Phìn Chư, đưa người dân trở về những “căn nhà lồng” trên tam giác sông Chảy.

Mưu sinh trên “tam giác” sông Chảy ảnh 2

Sau 10 phút, chiếc thuyền của chúng tôi cũng đã đến “điểm hẹn”, đó là “căn nhà lồng” (khu nuôi cá lồng của Hợp tác xã Nông - lâm nghiệp, dịch vụ, thương mại và dược liệu Nàn Sín). Vừa bước chân lên “nhà lồng”, ba anh Sùng Seo Dìn, Giàng Seo Thành, Giàng Seo Hồ khẩn trương lấy củi, nhóm bếp, chuẩn bị cơm tối và không quên thả chiếc vó xuống nước. Còn Vàng Seo Chơ, Sùng Seo Giống bắt đầu công việc mưu sinh quen thuộc trên lòng hồ. Cả hai xếp gọn gàng 50 đoạn lưới bát quái đã được liên kết với nhau, rồi bắt đầu chèo thuyền.

Cùng đi với Chơ và Giống, điều mà tôi cảm nhận đó là sự thong thả đúng chất của người vùng cao, người nhẹ nhàng khua mái chèo, người đứng mũi thuyền vừa rọi đèn vừa huýt sáo véo von. Sau vài vòng “lượn lờ”, Chơ bắt đầu cho mồi vào bát quái, cẩn thận kiểm tra lại, rồi thoăn thoắt rải lưới, thuyền đi đến đâu, bát quái thả tới đó. Sau khi hoàn thành công việc, thuyền trở về “nhà lồng”. Gió sông thổi lồng lộng, bản nhạc dân ca Mông vang lên trong trẻo từ chiếc điện thoại của Chơ, con thuyền lững lờ trôi theo dòng, mà cảm thấy cuộc sống thật an yên.

Mưu sinh trên “tam giác” sông Chảy ảnh 3

Thuyền đến “nhà lồng” cũng là lúc bữa cơm tối đã chuẩn bị tươm tất. Dù trên sông nước nhưng bữa cơm gần như không thiếu thứ gì, nào cá hồ nướng thơm phức; gà bản nướng vàng ruộm; tôm sông rang đỏ au, ngọt lịm, cùng bát ớt nướng cay nồng… Tất cả đều nhờ bàn tay khéo léo và sự chu đáo của những chàng trai người Mông ở đất Phìn Chư 3. Bữa cơm càng thêm đầm ấm khi các chàng trai người Mông chia sẻ về cuộc sống sông nước của mình. Qua chia sẻ của Vàng Seo Chơ, tôi mới biết rằng khu vực này, trước kia là nơi cấy lúa, trồng ngô, sau khi thủy điện Cốc Ly làm đập, ngăn dòng, nước dâng lên, ngập gần hết khu vực canh tác của người dân 3 thôn. Cũng từ đó, tam giác lòng hồ trên sông Chảy được hình thành gồm Tả Thồ 2 (xã Hoàng Thu Phố, huyện Bắc Hà), Phìn Chư 3 (xã Nàn Sín, huyện Si Ma Cai), thôn Tả Thàng (xã Tả Thàng, huyện Mường Khương) và nơi này đang trở thành khu vực mưu sinh của người dân.

Mưu sinh trên “tam giác” sông Chảy ảnh 4

Bữa cơm tối cũng nhanh chóng kết thúc để mọi người bắt đầu thu “lộc” của sông Chảy. Trời mỗi lúc một tối, nên ánh điện sáng rực trên mặt nước đã trở thành “mồi nhử” với đàn cá. Dưới ánh đèn sáng trắng được treo cách mặt nước 20 cm, giữa chiếc vó rộng hơn 60 m2, đàn cá bơi quanh trông như… xoáy nước. Nhận thấy “xoáy nước” mỗi lúc một rộng, nghĩa là có nhiều cá, 4 chàng trai người Mông đã khẩn trương triển khai nhiệm vụ để “hốt trọn” mẻ cá này. Vàng Seo Chơ đảm nhiệm việc kéo vó. Thật không đơn giản để kéo chiếc vó rộng hơn 60 m2 nhưng do đã được “tôi luyện” nên Chơ quay tời không chút khó khăn, còn các anh Giống, Hồ, Thành, Dìn như diễn xiếc, khi đi trên hai cây tre được buộc chặt thành khung dập dềnh trên mặt nước để rải dây có buộc theo nhiều can nhựa, vó kéo lên tới đâu, dây thắt dần vào tới đó. Chỉ mất gần 10 phút, chiếc vó nặng cá được đưa lên khỏi mặt nước. Những chú cá trắng với kích thước bằng 2 ngón tay quẫy trong lưới, theo ước tính của anh Dìn, thì mẻ cá này khoảng 20 - 30 kg. “Nếu để đến khoảng 4 giờ sáng mới kéo vó thì có thể thu được 60 - 70 kg cá. Có những ngày, chúng tôi kéo một lần vó được đúng 100 kg cá”, anh Dìn cho hay. Theo quan sát, hầu hết là cá trắng (cá mương). Với người Mông ở Phìn Chư thì họ gọi là cá lá tre (tù chề plồng slông) vì trên mặt nước giống chiếc lá tre. Sau khi phân loại, họ chọn những chú cá to đều, làm sạch mang bán, với giá 40.000 đồng/kg, còn lại làm thức ăn cho cá lồng.

Sau khi kéo vó, anh Chơ và anh Giống tiếp tục chèo thuyền đi thu “bát quái”. Trời tối đen như mực, giữa sông nước mênh mông, theo ánh đèn pin loang loáng, anh Chơ chèo thuyền đến điểm đã định. Do nhà gần bến sông, tuổi thơ gắn liền với sông nước nên Chơ thuộc địa hình như lòng bàn tay. “Không phải chỗ nào cũng thả “bát quái” được, mà phải chọn nơi không có gốc cây để tránh bị rách lưới và phải biết được luồng tôm, cá”, Vàng Seo Chơ chia sẻ.

Nhờ kinh nghiệm này mà Chơ chưa bao giờ thất bại khi thả “bát quái”. Lần này cũng vậy, dù thu “bát quái” sớm hơn bình thường nhưng Chơ cũng “bắt” được gần 10 kg tôm. Những chú tôm nhảy tanh tách được Chơ trút vào chiếc vợt to, rồi để chìm trong khoang nước trên thuyền. Sáng hôm sau, có người đi thuyền đến tận nơi thu mua với giá bán từ 100.000 - 120.000 đồng/kg, nếu mang ra chợ Sín Chéng thì có thể bán được với giá từ 180.000 -200.000 đồng/kg.

Mưu sinh trên “tam giác” sông Chảy ảnh 5

Trên đường trở về “nhà lồng”, Chơ không quên chia sẻ về những tháng năm mưu sinh trên tam giác sông Chảy này. Anh từng có 10 năm câu cá trên sông Chảy nhưng hiệu quả kinh tế không cao trong khi phải thức trắng đêm. Do vậy, 5 năm trở lại đây, Chơ đã quyết định đầu tư mua “bát quái” về thả trên khúc sông này để bắt tôm. Bắt đầu từ tháng 9 năm trước đến tháng 5 năm sau là vào mùa thả “bát quái”, nhất là những ngày trời nắng, sau đó đổ mưa, sẽ có rất nhiều tôm. Cho nên, mỗi tối bắt được 20 kg tôm sông là chuyện thường đối với Chơ. Thấy Chơ bắt được nhiều tôm, một số hộ đã đầu tư “bát quái”, nên khi vào mùa đánh bắt, khu vực tam giác sông Chảy thêm đông vui.

Bản nhạc dân ca Mông tiếp tục vang lên từ chiếc điện thoại của Vàng Seo Chơ. Tôi biết, anh rất vui bởi món quà từ khúc sông quê hương đã giúp gia đình anh và nhiều gia đình khác ở nơi tam giác sông Chảy có thêm nguồn thu nhập, dẫu rằng mưu sinh trên sông nước có nhiều rủi ro. Những người rong ruổi trên sông nước như các anh Sùng Seo Dìn, Giàng Seo Thành, Giàng Seo Hồ, Vàng Seo Chơ, Sùng Seo Giống… để bắt con cá, con tôm đều là những nông dân vùng cao cần cù, đam mê với nghề và có cá tính rất riêng. Họ đã và đang tạo nên bức tranh văn hóa sông nước đầy sắc màu, hấp dẫn với du khách khi trải nghiệm ở nơi tam giác sông Chảy.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Khi "vùng lõm" từng bước được phủ sóng, thông tin đến gần hơn với người dân, cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ, thị trường tiêu thụ cũng rộng mở hơn, tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Phía sau những khối nhà mang dáng dấp kiến trúc vùng cao là câu chuyện nhiều tháng ngày khảo sát, lắng nghe và điều chỉnh của những kiến trúc sư, với mong muốn dựng nên không chỉ một ngôi trường, mà còn là một không gian gìn giữ văn hóa cho học sinh nơi biên cương Tổ quốc.

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Từ khi hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, điều thay đổi quan trọng không chỉ là mở rộng diện tích hay quy mô dân số mà còn tạo ra không gian phát triển lớn hơn cho tỉnh Lào Cai mới. Trong không gian đó, đầu tư hạ tầng giữ vai trò kết nối các vùng động lực, thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, khai thác khoáng sản và kinh tế cửa khẩu, hướng tới mục tiêu xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Sức sống mới nơi thượng nguồn Lũng Pô Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Trên hành trình ngược suối Lũng Pô với chiều dài hơn 30 km từ thôn Lũng Pô (xã A Mú Sung) đến thôn Hồng Ngài (xã Y Tý), cùng với cảm nhận về sự đổi thay ở những vùng đất bên dòng suối biên giới, điều làm chúng tôi tự hào là khung cảnh bình yên hiện hữu khắp dải biên cương xa xôi. Ở nơi ấy, dù đường biên giới dài và địa hình hiểm trở, những chiến sĩ biên phòng vẫn luôn chắc tay súng cùng đồng bào các dân tộc giữ bình yên biên giới.

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Hạ tầng giao thông có vai trò quan trọng mở ra không gian phát triển, kết nối các vùng kinh tế, tạo động lực thu hút đầu tư và nâng cao đời sống người dân. Thế nhưng, do vướng mắc mặt bằng khiến tiến độ nhiều công trình bị ảnh hưởng, nguồn vốn đầu tư chưa được phát huy

Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đời sống đồng bào các dân tộc nơi thượng nguồn suối Lũng Pô đã có nhiều đổi thay. Hiện nay, nhiều chi bộ khu vực biên giới giữ vai trò nòng cốt trong công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trẻ, góp phần “đánh thức” tiềm năng phát triển nông - lâm nghiệp, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, giúp người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Những cột điện, đường dây điện quốc gia hôm nay đã vươn tới các thôn bản vùng cao của xã Lâm Giang. Nguồn điện ổn định đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho người dân. Tuy nhiên, phía sau những công trình đã phát huy hiệu quả nhiều năm vẫn còn một tồn tại kéo dài: hàng trăm hộ dân đã hiến đất, chặt bỏ cây trồng để phục vụ dự án nhưng đến nay vẫn chưa được chi trả tiền bồi thường theo quy định.

Từ hào khí Phố Ràng đến khát vọng phát triển

Từ hào khí Phố Ràng đến khát vọng phát triển

77 năm đã qua nhưng Chiến thắng Phố Ràng (26/6/1949) vẫn là niềm tự hào của Nhân dân các dân tộc trên quê hương Bảo Yên. Trên mảnh đất lịch sử ấy, truyền thống cách mạng năm xưa đang tiếp tục được các thế hệ hôm nay gìn giữ, phát huy bằng khát vọng dựng xây quê hương ngày càng giàu đẹp.

Yên Bình tăng cường kiểm soát môi trường tại các cơ sở công nghiệp và bến bãi

Yên Bình tăng cường kiểm soát môi trường tại các cơ sở công nghiệp và bến bãi

Những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển công nghiệp và sản xuất vật liệu xây dựng, xã Yên Bình trở thành địa bàn tập trung nhiều cơ sở chế biến đá, bãi tập kết hàng hóa và bến thủy nội địa. Sự phát triển này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho lao động địa phương, song cũng kéo theo nhiều áp lực về môi trường gây ảnh hưởng đến đời sống người dân.

fb yt zl tw