Đường Hồ Chí Minh trên biển – bản hùng ca về ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam

“Đường Hồ Chí Minh trên biển” là tuyến vận tải quân sự chiến lược do Hải quân Nhân dân Việt Nam bí mật mở trên Biển Đông, nhằm vận chuyển vũ khí, cán bộ từ miền Bắc chi viện cho miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Tuyến vận tải huyền thoại ấy - con đường của ý chí và sáng tạo Việt Nam - đã trở thành biểu tượng cho trí tuệ, lòng dũng cảm và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc.

0:00 / 0:00
0:00

Cách đây vừa tròn 64 năm, ngày 23/10/1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định 97/QĐ thành lập Đoàn 759, tiền thân của Đoàn vận tải biển 125 Hải quân, nay là Lữ đoàn 125, Vùng 2 Hải quân (còn được gọi là “Đoàn tàu không số”). Đoàn có nhiệm vụ mở đường vận tải chiến lược trên biển, kịp thời chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

9.jpg
Tàu không số trên đường vận chuyển vũ khí vào miền Nam. Ảnh: Tư liệu

Sau gần một năm nghiên cứu, tổ chức chuẩn bị, đêm 11/10/1962, chiếc tàu gỗ gắn máy đầu tiên của Đoàn 759 do Thuyền trưởng Lê Văn Một và Bí thư chi bộ Bông Văn Dĩa chỉ huy, bí mật xuất phát từ bến K15 Đồ Sơn (Hải Phòng) chở hơn 30 tấn vũ khí vào cập bến Vàm Lũng (Cà Mau) an toàn.

Chuyến đi đầu tiên thành công đã đánh dấu một sự kiện quan trọng “Đường Hồ Chí Minh trên biển đã chính thức khai thông”. Nhận được tin đó, Bác Hồ đã gửi điện động viên, khen ngợi cán bộ, chiến sỹ Đoàn 759 và căn dặn cần rút kinh nghiệm chuyến đi, tiếp tục vận chuyển nhanh hơn nữa, nhiều hơn nữa vũ khí cho đồng bào miền Nam đánh giặc, cho Nam - Bắc sớm sum họp một nhà.

z7135227849605-5e9ee7b9adfb0579a126932aa7f5853c.jpg
Đồng chí Phạm Văn Đồng - Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho đồng chí thuyền trưởng Võ Nhân Huân vận chuyển vũ khí chi viện chiến trường miền Nam. Ảnh: Tư liệu

Với tinh thần mưu trí, dũng cảm, táo bạo, tất cả vì miền Nam ruột thịt, trong suốt trong 14 năm làm nhiệm vụ trên tuyến đường vận tải quân sự chiến lược trên biển (1961 - 1975), Đoàn 125 Hải quân đã huy động 1.879 lượt tàu thuyền, vận chuyển hơn 150 ngàn tấn vũ khí trang bị kĩ thuật, thuốc chữa bệnh và trên 80 ngàn cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào miền Nam. Chính những lực lượng này đã cùng quân dân miền Nam chiến đấu hàng trăm trận với máy bay, tàu chiến của Mỹ - Ngụy, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Ghi nhận những cống hiến, hy sinh to lớn ấy, Đảng, Nhà nước đã 2 lần tuyên dương Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho “Đoàn tàu không số” - Đoàn 125 Hải quân.

a1.png
Đoàn 125 chở bộ đội tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Tư liệu

Đường Hồ Chí Minh trên biển là sáng tạo độc đáo của Đảng ta, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ hậu phương - tiền tuyến, nhân tố quyết định thắng lợi chiến tranh. Cùng với tuyến đường Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh trên biển tạo nên hai mạch máu giao thông chiến lược hỗ trợ lẫn nhau, bảo đảm chi viện kịp thời cho hai hướng chiến lược Nam Bộ: Cánh Đông và Cánh Tây.

Ra đời trong điều kiện khó khăn, khi địch kiểm soát chặt chẽ vùng biển, không phận và ven bờ, ta chỉ có tàu thuyền nhỏ bé, thô sơ. Song bằng trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng độc lập, tự do, dân tộc ta đã vượt qua mọi gian khổ, sáng tạo những cách đánh độc đáo, chuyển hóa linh hoạt giữa bí mật và công khai, giữa đường trong và đường ngoài, khiến đối phương không thể ngăn chặn.

Nghệ thuật quân sự Việt Nam được vận dụng tài tình: địch phong tỏa đường trong, ta đi đường ngoài; địch chặn đường dài, ta chia nhỏ, vận chuyển theo từng đoạn; khi bị phát hiện, áp sát, các chiến sĩ sẵn sàng đánh trả hoặc phá hủy tàu, hàng để giữ bí mật. Có khi, tàu ta giả dạng tàu cá, tàu buôn, đi vòng ra hải phận quốc tế để tránh sự truy đuổi. Nhiều thuyền trưởng, chính trị viên đã anh dũng hy sinh, biến con tàu thành khối thuốc nổ khổng lồ lao vào tàu địch, giữ trọn bí mật con đường.

image.jpg
Cán bộ, chiến sĩ "tàu không số" vận chuyển hàng hóa, vũ khí chi viện cho miền Nam. Ảnh: Tư liệu

Đường Hồ Chí Minh trên biển còn là biểu tượng của lòng trung thành vô hạn, ý chí quật cường và tinh thần cảm tử của thế hệ cán bộ, chiến sĩ “Đoàn tàu không số”. Mỗi chuyến đi là một cuộc đấu trí, đấu lực cam go với kẻ thù và thiên nhiên. Hơn 20 cơn bão lớn, hàng trăm cuộc vây ráp của địch không thể khuất phục ý chí của những người lính biển. Họ đã làm nên kỳ tích – đưa hàng trăm nghìn tấn vũ khí đến những chiến trường xa xôi mà tuyến đường Trường Sơn chưa vươn tới.

64 năm trôi qua, giá trị lịch sử và bài học từ việc tổ chức, vận hành Đường Hồ Chí Minh trên biển vẫn còn nguyên vẹn. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Hải quân hôm nay đang phát huy tinh thần mưu trí, dũng cảm, trung thành với Đảng, với Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

12.jpg
Tập thể cán bộ, thủy thủ đội tàu số 5 đã vận chuyển 60 tấn vũ khí, hàng hóa chi viện chiến trường Nam Bộ, tháng 12/1963. Ảnh: Tư liệu

Từ kinh nghiệm xây dựng và sử dụng lực lượng vận tải đường biển chiến lược, Quân chủng Hải quân tiếp tục phát triển theo hướng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; cơ động, linh hoạt; cân đối, đồng bộ giữa con người, vũ khí trang bị và cơ sở bảo đảm. Lực lượng vận tải quân sự đa năng, có khả năng lưỡng dụng (chở quân, chở hàng, đổ bộ) được chú trọng đầu tư cùng hệ thống cầu cảng, kho tàng, hậu cần kỹ thuật hiện đại. Trong thời bình, lực lượng này phục vụ huấn luyện, xây dựng công trình, chi viện đảo, nhà giàn; khi có chiến tranh, đảm nhiệm vận tải, đổ bộ, chi viện lực lượng, không để bị cô lập.

Những năm gần đây, Quân chủng Hải quân chú trọng huấn luyện theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, nâng cao năng lực làm chủ trang bị kỹ thuật, gắn huấn luyện với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo. Các cuộc diễn tập cơ động, ngụy trang, phá thế phong tỏa được tổ chức thường xuyên, rút kinh nghiệm để hoàn thiện phương án tác chiến, sẵn sàng ứng phó mọi tình huống.

Kế thừa tinh thần “Đường Hồ Chí Minh trên biển”, Hải quân Nhân dân Việt Nam chủ động tham mưu xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận chiến tranh nhân dân trên biển” vững mạnh; đẩy mạnh tuyên truyền biển đảo, thu hút nguồn lực, tự lực – tự cường nghiên cứu, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật, đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng, góp phần giữ vững chủ quyền biển, đảo Tổ quốc từ sớm, từ xa.

0-19.png
Lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam luôn sẵn sàng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc.

Trước diễn biến phức tạp trên biển Đông, Quân chủng Hải quân luôn nâng cao cảnh giác, nắm chắc, dự báo chính xác tình hình, không để bị động, bất ngờ. Trên cơ sở đó, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các giải pháp ứng phó linh hoạt, kết hợp đấu tranh trên thực địa với chính trị, ngoại giao, pháp lý; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Tiết học biên cương nơi sông Hồng chảy vào đất Việt

Tiết học biên cương nơi sông Hồng chảy vào đất Việt

Sáng 1/10, tại cột cờ Lũng Pô, xã A Mú Sung, tỉnh Lào Cai, học sinh Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS A Mú Sung tham gia “Tiết học biên cương”, tìm hiểu đường biên, mốc quốc giới, quan sát bộ đội thực hành tuần tra và tham gia lễ chào cờ. Qua trải nghiệm thực tế, các em hiểu thêm quê hương, công việc của người lính và trách nhiệm gìn giữ biên giới quốc gia.

Bài cuối: Dựa vào sức dân “giữ sạch” địa bàn

QUYẾT TÂM XÂY DỰNG “THẾ TRẬN” KHÔNG MA TUÝ Bài cuối: Dựa vào sức dân “giữ sạch” địa bàn

Giữ sạch địa bàn không chỉ bằng những đợt truy quét, xử lý mà cần sức mạnh từ mỗi gia đình, khu dân cư. Khi người dân chủ động phòng ngừa, phát hiện, cung cấp thông tin và cùng hỗ trợ người sau cai tái hòa nhập, một “thế trận lòng dân” đang được hình thành để ngăn ma túy quay trở lại.

Bài 1: Cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở

Quyết tâm xây dựng “thế trận” không ma tuý Bài 1: Cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở

Lào Cai đã triển khai cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng 100% xã, phường không ma túy trong năm 2026. Nghị quyết 51 - NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy được cụ thể hóa bằng việc huy động cả hệ thống chính trị, dồn lực giải quyết những điểm khó và gắn kết quả với trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy.

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y

Ở những bản làng người Bố Y hôm nay, hạnh phúc là cuộc sống đủ đầy, là tiếng nói, trang phục, phong tục và sự gắn kết cộng đồng được gìn giữ, trao truyền qua các thế hệ. Giữa nhịp sống hiện đại, người Bố Y ở Mường Khương đang từng bước dựng xây cuộc sống ấm no, đồng thời lưu giữ và phát huy niềm tự hào nguồn cội. Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh Lào Cai trân trọng giới thiệu loạt bài (2 kỳ) “Bản làng hạnh phúc của người Bố Y”.

Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y: Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Ở Thính Chéng, xã Mường Khương khi nhắc đến văn hóa của dân tộc Bố Y, người ta thường tìm đến bà Lồ Lài Sửu. Ngoài 60 tuổi, bà vẫn miệt mài sưu tầm, ghi nhớ những làn điệu dân ca, phong tục, nghi lễ của dân tộc mình. Mỗi lần nói về người Bố Y, về giá trị văn hóa đã theo mình suốt cuộc đời, bà Sửu vẫn rưng rưng xúc động. 

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Xác định tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ là nhiệm vụ quan trọng, thể hiện trách nhiệm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tỉnh Lào Cai đã huy động cả hệ thống chính trị cùng chung tay tìm kiếm, đưa các chiến sĩ cách mạng còn nằm lại nơi chiến trường trở về với gia đình, quê hương.

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Lào Cai là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư phân bố rải rác, khiến việc đầu tư, vận hành các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong khi ngân sách Nhà nước chưa thể đáp ứng nhu cầu đầu tư, sửa chữa và vận hành, việc quy hoạch lại hạ tầng cấp nước, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia đang rất cấp thiết.

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Xã Tằng Loỏng là địa bàn đông dân cư, tập trung Khu công nghiệp luyện kim, hóa chất trọng điểm của quốc gia và tỉnh, với nhiều doanh nghiệp, nhà máy đang hoạt động. Thế nhưng, giữa nhịp phát triển công nghiệp sôi động, người dân và công nhân lao động vẫn phải mua bán trong một khu chợ tạm hình thành từ nhiều năm trước. Sự thiếu hụt hạ tầng thương mại đang trở thành nghịch lý cần được giải quyết.

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Khi "vùng lõm" từng bước được phủ sóng, thông tin đến gần hơn với người dân, cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ, thị trường tiêu thụ cũng rộng mở hơn, tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.

fb yt zl tw