Quay về E-magazine Theo dõi Báo Lào Cai trên Google News
Bài 2: Từ chủ trương đến lòng dân

Bài 2: Từ chủ trương đến lòng dân

Thực tế việc triển khai xây dựng giao thông nông thôn ở Lào Cai cho thấy, hiến đất, tháo dỡ công trình, chặt bỏ cây trồng là biểu hiện rõ nét của sự đồng thuận. Tuy nhiên, sức dân có giới hạn, trong khi cơ chế hỗ trợ chưa sát với thực tế, vì vậy, cùng với vận động, đối thoại và phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, chính sách phải được điều chỉnh từ những vấn đề phát sinh ở cơ sở.

0:00 / 0:00
0:00

Ở xã Đông Cuông, ông Nguyễn Văn Thức, thôn Khe Ván tự nguyện tháo dỡ tường rào, nhường phần đất thổ cư rộng hơn 100 m2 của gia đình để mở đường liên thôn.

Ông Thức chia sẻ: “Người dân trong thôn từ lâu đã mong muốn mở rộng tuyến đường từ thôn ra trục đường trung tâm xã để ô tô tải trọng lớn có thể đi lại nhằm tạo thuận lợi cho vận chuyển nông sản. Không chỉ gia đình tôi mà hơn 200 hộ dân trong xã cũng đồng thuận dịch rào, phá dỡ công trình, hiến đất phục vụ các tuyến giao thông nông thôn”.

Với sự đồng thuận của người dân, năm 2026, xã Đông Cuông đã triển khai mở mới và nâng cấp 40 tuyến giao thông nông thôn với tổng chiều dài 15,8 km, tổng mức đầu tư gần 20 tỷ đồng.

Người dân thôn Khe Ván, xã Đông Cuông tích cực tham gia góp công, góp đất làm đường giao thông nông thôn.

Người dân thôn Khe Ván, xã Đông Cuông tích cực tham gia góp công, góp đất làm đường giao thông nông thôn.

Sự đồng thuận của người dân trong hiến đất, góp công, góp của làm giao thông nông thôn cho thấy một chủ trương khi được tuyên truyền tốt và gắn với lợi ích thiết thực sẽ trở thành hành động tự giác của người dân.

Thực tế, dù người dân đã đồng thuận nhưng vẫn còn những khó khăn khiến nhiều dự án chưa được triển khai đúng tiến độ.

Theo thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2026, UBND tỉnh cho phép chuẩn bị đầu tư 47 dự án với trên 344 km giao thông nông thôn; 14 dự án cầu đã được phê duyệt và triển khai thi công, 16 cầu được cho phép lập chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, đến hết tháng 5, mới giải ngân 8.667 triệu đồng, bằng 0,2% kế hoạch vốn tỉnh.

Đến hết tháng 7, toàn tỉnh mới kiên cố hóa 75 km mặt đường bê tông xi măng. Nguyên nhân không chỉ là thiếu vốn. Các địa phương còn vướng trong khâu chuẩn bị đầu tư, hoàn thiện hồ sơ, giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu và ở một số địa phương, năng lực của cán bộ chuyên môn còn hạn chế.

62.jpg

Tại xã Bản Lầu, năm 2026 xã thực hiện 8 tuyến đường dài 18 km, tổng kinh phí 35,834 tỷ đồng. Ngân sách tỉnh bố trí 26,854 tỷ đồng, ngân sách xã đối ứng 5,950 tỷ đồng; Nhân dân đóng góp bằng hiến đất, tài sản trên đất tương ứng 3,031 tỷ đồng. Phần đóng góp của người dân cho thấy rõ vai trò của cộng đồng trong xây dựng hạ tầng. Nhưng cũng từ đó xuất hiện một vấn đề khác: Khả năng đóng góp không giống nhau giữa các địa bàn.

Ông Lê Thanh Hoa - Phó Chủ tịch UBND xã Bản Lầu cho biết: “Một số thôn thuộc xã vùng II nhưng không phải thôn đặc biệt khó khăn chưa được hỗ trợ kinh phí nhân công đổ bê tông mặt đường và rãnh thoát nước. Trong khi đó, ngân sách xã còn hạn hẹp, giá xăng dầu, vật liệu xây dựng tăng, nguồn cung vật liệu hạn chế. Địa phương đề nghị tỉnh xem xét hỗ trợ thêm từ 30 - 50% chi phí nhân công”.

Người dân xã Văn Chấn dỡ rào, hiến đất mở rộng đường giao thông nông thôn.
Người dân xã Văn Chấn dỡ rào, hiến đất mở rộng đường giao thông nông thôn.

Tại Võ Lao, 8 tuyến với tổng chiều dài khoảng 15,4 km cũng chưa đạt tiến độ trong 6 tháng đầu năm do vướng mắc trong khâu chuẩn bị đầu tư, hồ sơ, giải ngân và vật liệu. Đặc biệt, còn có những nguồn kinh phí cần hỗ trợ người dân kịp thời.

Ông Lự Văn Nâng ở thôn Ngầu cho biết: “Người dân đồng tình mở rộng đường vì đường rộng giúp cho việc đi lại, vận chuyển nông sản và giao thương thuận lợi hơn. Nhưng có hộ sau khi tháo dỡ công trình, tường rào để hiến đất lại chưa đủ kinh phí sửa chữa, hoàn thiện nhà ở”.

63.jpg

Với người dân, một mét đường mở thêm có thể đồng nghĩa với một đoạn tường, ngõ vào nhà, công trình phải phá bỏ, di chuyển, theo đó là một khoản tiền để sửa chữa. Vì vậy, huy động sức dân không thể chỉ tính bằng số hộ hiến đất hay số tiền đóng góp. Chính sách còn phải tính đến khả năng của người dân, đặc biệt ở những địa bàn khó khăn.

Tại Phình Hồ, năm 2026, địa phương được giao 13,558 tỷ đồng vốn đầu tư công; đã phê duyệt 10 dự án tại 8/15 thôn, triển khai 11,59 km đường với 3,184 tỷ đồng vốn Nhà nước hỗ trợ. Tuy nhiên, công tác chuẩn bị đầu tư, hoàn thiện hồ sơ và khả năng huy động đóng góp của người dân vẫn khiến một số dự án chậm tiến độ.

Những vướng mắc đó cho thấy một chính sách dù đúng vẫn có thể gặp khó khi đi vào những địa bàn có điều kiện đặc thù.

64.jpg

Ngày 11/8/2026, HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 33/2026/NQ-HĐND sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 22/2025/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ xây dựng GTNT. Nghị quyết mới lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời tăng mức hỗ trợ cho nhiều hạng mục.

Theo cơ chế mới, tại các xã khu vực III và thôn đặc biệt khó khăn, ngân sách hỗ trợ 70% chi phí nhân công trực tiếp thi công mặt đường bê tông; hỗ trợ 100% chi phí xây dựng lớp móng, cống thoát nước và hệ thống an toàn giao thông; chi phí quản lý dự án, khảo sát, thiết kế, giám sát, nghiệm thu, hoàn công và các chi phí liên quan được hỗ trợ đến 90 triệu đồng/km.

Sự điều chỉnh đó cho thấy, chính sách không đứng ngoài thực tế mà đã vào cuộc sống. Những khó khăn từ cơ sở đã trở thành căn cứ để xem xét lại mức hỗ trợ, cách huy động nguồn lực và trách nhiệm của các cấp.

Người dân xã Văn Chấn dỡ rào, hiến đất mở rộng đường giao thông nông thôn.

Người dân xã Văn Chấn dỡ rào, hiến đất mở rộng đường giao thông nông thôn.

Không chỉ điều chỉnh về cơ chế, chính sách, công tác dân vận cũng cần đổi mới. Không chỉ vận động người dân đồng thuận, cán bộ cơ sở phải nắm chắc chính sách, nắm rõ hoàn cảnh từng hộ để tháo gỡ từng trường hợp cụ thể và phản ánh những bất cập tới cấp có thẩm quyền.

Một tuyến đường vì thế được làm bằng nhiều nguồn lực: ngân sách tỉnh, ngân sách xã và phần đóng góp của người dân. Nhưng phía sau mỗi nguồn lực đều là giới hạn cần được tính đúng. Nhà nước chia sẻ phần chi phí mà người dân không thể tự gánh. Một công trình muốn về đích đúng tiến độ không chỉ cần sự đồng thuận. Sau nguồn vốn và sức dân là trách nhiệm của bộ máy: Ai làm? Làm đến đâu? Vướng ở đâu? Ai phải giải quyết?

Vì thế, đổi mới phương thức lãnh đạo ở cơ sở không chỉ là đưa nghị quyết vào cuộc sống nhanh hơn. Từ một bức tường được tháo dỡ đến một cơ chế hỗ trợ được điều chỉnh, khoảng cách giữa chủ trương và cuộc sống cần được rút ngắn bằng chính những việc rất cụ thể.

Bài cuối: Tăng cường kỷ cương, đề cao tinh thần “6 dám”

Trình bày: Hữu Huỳnh

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y: Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Ở Thính Chéng, xã Mường Khương khi nhắc đến văn hóa của dân tộc Bố Y, người ta thường tìm đến bà Lồ Lài Sửu. Ngoài 60 tuổi, bà vẫn miệt mài sưu tầm, ghi nhớ những làn điệu dân ca, phong tục, nghi lễ của dân tộc mình. Mỗi lần nói về người Bố Y, về giá trị văn hóa đã theo mình suốt cuộc đời, bà Sửu vẫn rưng rưng xúc động. 

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Xác định tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ là nhiệm vụ quan trọng, thể hiện trách nhiệm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tỉnh Lào Cai đã huy động cả hệ thống chính trị cùng chung tay tìm kiếm, đưa các chiến sĩ cách mạng còn nằm lại nơi chiến trường trở về với gia đình, quê hương.

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Lào Cai là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư phân bố rải rác, khiến việc đầu tư, vận hành các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong khi ngân sách Nhà nước chưa thể đáp ứng nhu cầu đầu tư, sửa chữa và vận hành, việc quy hoạch lại hạ tầng cấp nước, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia đang rất cấp thiết.

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Xã Tằng Loỏng là địa bàn đông dân cư, tập trung Khu công nghiệp luyện kim, hóa chất trọng điểm của quốc gia và tỉnh, với nhiều doanh nghiệp, nhà máy đang hoạt động. Thế nhưng, giữa nhịp phát triển công nghiệp sôi động, người dân và công nhân lao động vẫn phải mua bán trong một khu chợ tạm hình thành từ nhiều năm trước. Sự thiếu hụt hạ tầng thương mại đang trở thành nghịch lý cần được giải quyết.

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Khi "vùng lõm" từng bước được phủ sóng, thông tin đến gần hơn với người dân, cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ, thị trường tiêu thụ cũng rộng mở hơn, tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Phía sau những khối nhà mang dáng dấp kiến trúc vùng cao là câu chuyện nhiều tháng ngày khảo sát, lắng nghe và điều chỉnh của những kiến trúc sư, với mong muốn dựng nên không chỉ một ngôi trường, mà còn là một không gian gìn giữ văn hóa cho học sinh nơi biên cương Tổ quốc.

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Từ khi hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, điều thay đổi quan trọng không chỉ là mở rộng diện tích hay quy mô dân số mà còn tạo ra không gian phát triển lớn hơn cho tỉnh Lào Cai mới. Trong không gian đó, đầu tư hạ tầng giữ vai trò kết nối các vùng động lực, thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, khai thác khoáng sản và kinh tế cửa khẩu, hướng tới mục tiêu xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

fb yt zl tw