Quay về E-magazine Theo dõi Báo Lào Cai trên Google News
Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Lào Cai là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư phân bố rải rác, khiến việc đầu tư, vận hành các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong khi ngân sách Nhà nước chưa thể đáp ứng nhu cầu đầu tư, sửa chữa và vận hành, việc quy hoạch lại hạ tầng cấp nước, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia đang rất cấp thiết.

0:00 / 0:00
0:00
a-1.jpg

Toàn tỉnh hiện có 1.188 công trình cấp nước tập trung ở nông thôn, phục vụ khoảng 70.500 hộ, trong đó, 1.080 công trình quy mô nhỏ, phục vụ từ 15 đến dưới 200 hộ.

Theo thống kê, đến cuối tháng 6/2026, toàn tỉnh có 98,8% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, nhưng sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn mới ở mức 34,2%.

Nguyên nhân là do nhiều công trình cấp nước được xây dựng từ lâu, công nghệ lọc lạc hậu, không bảo đảm chất lượng. Sau mỗi mùa mưa lũ, không ít công trình tiếp tục hỏng, xuống cấp, trong khi đó thiếu kinh phí bảo trì, sửa chữa.

nuoc-1.jpg

Hình ảnh thường thấy ở nhiều thôn, bản là cùng với hệ thống cấp nước sinh hoạt do Nhà nước đầu tư, vẫn có những tuyến ống nhựa do người dân tự làm men theo đường giao thông, mương máng thủy lợi để dẫn nước từ khe, suối về các hộ. Cách làm này giúp người dân có nước sử dụng, nhưng cũng cho thấy sự thiếu ổn định của hệ thống cấp nước tập trung.

Ngay tại khu du lịch Sa Pa, một số khu dân cư vẫn chưa được tiếp cận nước sạch tập trung.

Ông Má A Câu ở tổ 2, phường Sa Pa, cho biết: “Gần 70 hộ dân ở khu dân cư Má Tra ở xa trung tâm, chưa có đường ống của nhà máy nước. Công trình cấp nước của khu dân cư xây dựng hơn 10 năm nay đã xuống cấp, người dân phải góp tiền mua ống, dẫn nước từ khe suối trên núi về dùng chung”.

37.jpg
Hiện tại, nhiều hộ ở cụm dân cư Má Tra, Tổ dân phố số 2, phường Sa Pa đang phải tự kéo nước từ khe suối tự nhiên về sử dụng.

Tại xã Đông Cuông, có 5 công trình cấp nước tập trung và hàng chục công trình nhỏ phục vụ khoảng 2.700 hộ dân. Tuy nhiên, theo đánh giá của UBND xã, hầu hết công trình đã xuống cấp, trong đó, 3 công trình bị hỏng nặng do mưa lũ năm 2024. Dù đã được khắc phục tạm thời để cấp nước trở lại, hệ thống lọc vẫn hoạt động thiếu ổn định, chất lượng nước không bảo đảm.

Ông Lê Thành Hùng - Chủ tịch UBND xã Đông Cuông cho rằng, nguyên nhân chính là chưa có đơn vị chuyên nghiệp quản lý, vận hành. Các tổ tự quản thiếu chuyên môn và nguồn lực, chủ yếu chỉ đủ khả năng sửa chữa nhỏ.

Tương tự, xã Võ Lao có 12 công trình cấp nước tập trung được xây dựng từ 10 - 15 năm trước và nay đã quá tải. Theo ông Nguyễn Anh Đức - Phó Chủ tịch UBND xã Võ Lao, trong số 7 công trình giao cho các tổ quản lý ở thôn vận hành, có 6 công trình đang hỏng nặng sau thiên tai. Khi Khu Công nghiệp Võ Lao hoạt động, nhu cầu sử dụng nước sẽ tăng mạnh, nguy cơ thiếu nước càng lớn nếu không được chuẩn bị sớm.

36.jpg
Do hệ thống cấp nước ở thôn Ngầu, xã Võ Lao đã xuống cấp nên Tổ Quản lý vận hành của thôn phải sửa chữa thường xuyên.

Không chỉ ở vùng cao, vùng sâu, tại các đô thị mới và trung tâm xã sau sắp xếp như Thác Bà, Nghĩa Lộ, Thượng Bằng La, Sín Chéng, Si Ma Cai..., hệ thống cấp nước sạch tập trung cũng còn nhiều tồn tại, ảnh hưởng đến đời sống người dân và phát triển kinh tế - xã hội, du lịch.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, trong số 1.188 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn hiện có, hơn 300 công trình hoạt động kém hiệu quả do bất cập về vị trí xây dựng, mô hình quản lý không phù hợp và thiếu kinh phí duy tu, bảo dưỡng.

a-2.jpg

Thực tế tại các địa phương trên địa bàn tỉnh cho thấy, nơi nào công trình cấp nước sinh hoạt do doanh nghiệp, hợp tác xã quản lý, vận hành, nơi đó hoạt động cấp nước khá ổn định và chất lượng được kiểm soát tốt hơn.

Cụ thể, tại hơn 60 công trình nước sạch sinh hoạt nông thôn do Công ty TNHH Dịch vụ cấp nước Lào Cai quản lý, vận hành, các công trình đều đang hoạt động khá tốt, việc thu tiền sử dụng nước được thực hiện tương đối đầy đủ.

Ông Hoàng Mạnh Hưng - Giám đốc Công ty TNHH Dịch vụ cấp nước Lào Cai cho biết, phần lớn công trình khi đơn vị tiếp nhận đã xuống cấp, hỏng, doanh nghiệp phải cải tạo, nâng cấp bể lọc, đường ống và lắp đồng hồ đo nước đến từng hộ. Khi có đồng hồ đo, người dân sử dụng nước tiết kiệm và trả tiền theo khối lượng sử dụng; doanh nghiệp có nguồn kinh phí để tái đầu tư, bảo dưỡng, qua đó, công trình vận hành ổn định hơn.

34.jpg

Dù vậy, hiện nay, việc mời gọi doanh nghiệp đầu tư, nhận quản lý, vận hành các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn vẫn còn nhiều vướng mắc. Nhà nước chưa có cơ chế hỗ trợ đủ hấp dẫn, trong khi giá nước quy định thấp, ảnh hưởng đến chi phí vận hành.

Mặt khác, Nghị định 43/2022/NĐ-CP của Chính phủ chưa nêu rõ về thời gian giao khoán công trình cấp nước cho doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp đầu tư nâng cấp các hạng mục trên công trình là tài sản Nhà nước, việc ghi tăng, xác định phần tài sản đầu tư thêm và xử lý khi kết thúc thời gian khai thác sẽ gặp trở ngại.

Cùng với đó, chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 08 năm 2023 của HĐND tỉnh Lào Cai đã hết hiệu lực từ đầu năm 2026, trong khi HĐND chưa có chính sách thay thế.

38.jpg
Một số công trình cấp nước sinh hoạt ở xã Đông Cuông do được xây dựng từ nhiều năm nên công nghệ lọc đã lạc hậu.

Giai đoạn 2026 - 2030, Lào Cai cần hơn 2.127 tỷ đồng để xây mới, sửa chữa 150 công trình nước sạch nông thôn. Nguồn vốn mục tiêu quốc gia khoảng 363 tỷ đồng, tỉnh đề nghị Trung ương hỗ trợ 1.174 tỷ đồng, phần còn lại phải huy động từ nguồn lực xã hội hóa.

Cũng theo Quyết định 525/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch tỉnh Lào Cai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, công suất cấp nước đô thị được định hướng đạt 226.900 m³/ngày - đêm vào năm 2030 và 348.000 m³/ngày - đêm vào năm 2050.

Cùng với đó, tỉnh đang triển khai xây dựng Nhà máy nước Ngòi Đường công suất 20.000 m³/ngày - đêm và có kế hoạch nâng công suất các nhà máy Cốc San, Bát Xát, Nghĩa Lộ, Yên Bình, Văn Bàn; nghiên cứu các dự án tại Y Tý, Trịnh Tường, Võ Lao, Bảo Nhai, Thác Bà, Thượng Bằng La.

nuoc-2.jpg

Ông Nguyễn Thái Bình - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, để phát huy hiệu quả hoạt động hạ tầng cấp nước sinh hoạt thì những công trình cấp nước quy mô lớn, liên xã, liên thôn nên chuyển cho doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc đơn vị chuyên trách quản lý, vận hành theo mô hình đối tác công tư. Cấp xã, thôn chỉ nên quản lý những cụm nước tự chảy nhỏ, phục vụ ít hộ và có điều kiện vận hành đơn giản.

“Muốn thu hút doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng, vận hành công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn, tỉnh cần tháo gỡ vướng mắc về quản lý tài sản công và phương án hạch toán phần vốn doanh nghiệp đầu tư thêm. Đây là điều kiện để địa phương có thể ký hợp đồng khai thác dài hạn, doanh nghiệp yên tâm đầu tư”

Ông Nguyễn Thái Bình - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I đặt mục tiêu đến năm 2030 có 50% dân số nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn và trên 95% dân cư đô thị được cấp nước sạch tập trung. Để nước sạch đến được từng hộ dân, Lào Cai không chỉ cần xây thêm công trình mà phải giải quyết đồng thời ba vấn đề: rõ quy hoạch, rõ cơ chế đầu tư xây dựng và rõ cơ chế quản lý, khai thác công trình cấp nước.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Khi "vùng lõm" từng bước được phủ sóng, thông tin đến gần hơn với người dân, cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ, thị trường tiêu thụ cũng rộng mở hơn, tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Phía sau những khối nhà mang dáng dấp kiến trúc vùng cao là câu chuyện nhiều tháng ngày khảo sát, lắng nghe và điều chỉnh của những kiến trúc sư, với mong muốn dựng nên không chỉ một ngôi trường, mà còn là một không gian gìn giữ văn hóa cho học sinh nơi biên cương Tổ quốc.

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Từ khi hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, điều thay đổi quan trọng không chỉ là mở rộng diện tích hay quy mô dân số mà còn tạo ra không gian phát triển lớn hơn cho tỉnh Lào Cai mới. Trong không gian đó, đầu tư hạ tầng giữ vai trò kết nối các vùng động lực, thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, khai thác khoáng sản và kinh tế cửa khẩu, hướng tới mục tiêu xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Sức sống mới nơi thượng nguồn Lũng Pô Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Trên hành trình ngược suối Lũng Pô với chiều dài hơn 30 km từ thôn Lũng Pô (xã A Mú Sung) đến thôn Hồng Ngài (xã Y Tý), cùng với cảm nhận về sự đổi thay ở những vùng đất bên dòng suối biên giới, điều làm chúng tôi tự hào là khung cảnh bình yên hiện hữu khắp dải biên cương xa xôi. Ở nơi ấy, dù đường biên giới dài và địa hình hiểm trở, những chiến sĩ biên phòng vẫn luôn chắc tay súng cùng đồng bào các dân tộc giữ bình yên biên giới.

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Hạ tầng giao thông có vai trò quan trọng mở ra không gian phát triển, kết nối các vùng kinh tế, tạo động lực thu hút đầu tư và nâng cao đời sống người dân. Thế nhưng, do vướng mắc mặt bằng khiến tiến độ nhiều công trình bị ảnh hưởng, nguồn vốn đầu tư chưa được phát huy

Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đời sống đồng bào các dân tộc nơi thượng nguồn suối Lũng Pô đã có nhiều đổi thay. Hiện nay, nhiều chi bộ khu vực biên giới giữ vai trò nòng cốt trong công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trẻ, góp phần “đánh thức” tiềm năng phát triển nông - lâm nghiệp, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, giúp người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Những cột điện, đường dây điện quốc gia hôm nay đã vươn tới các thôn bản vùng cao của xã Lâm Giang. Nguồn điện ổn định đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho người dân. Tuy nhiên, phía sau những công trình đã phát huy hiệu quả nhiều năm vẫn còn một tồn tại kéo dài: hàng trăm hộ dân đã hiến đất, chặt bỏ cây trồng để phục vụ dự án nhưng đến nay vẫn chưa được chi trả tiền bồi thường theo quy định.

Từ hào khí Phố Ràng đến khát vọng phát triển

Từ hào khí Phố Ràng đến khát vọng phát triển

77 năm đã qua nhưng Chiến thắng Phố Ràng (26/6/1949) vẫn là niềm tự hào của Nhân dân các dân tộc trên quê hương Bảo Yên. Trên mảnh đất lịch sử ấy, truyền thống cách mạng năm xưa đang tiếp tục được các thế hệ hôm nay gìn giữ, phát huy bằng khát vọng dựng xây quê hương ngày càng giàu đẹp.

Yên Bình tăng cường kiểm soát môi trường tại các cơ sở công nghiệp và bến bãi

Yên Bình tăng cường kiểm soát môi trường tại các cơ sở công nghiệp và bến bãi

Những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển công nghiệp và sản xuất vật liệu xây dựng, xã Yên Bình trở thành địa bàn tập trung nhiều cơ sở chế biến đá, bãi tập kết hàng hóa và bến thủy nội địa. Sự phát triển này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho lao động địa phương, song cũng kéo theo nhiều áp lực về môi trường gây ảnh hưởng đến đời sống người dân.

Gỡ “điểm nghẽn” giao thông nông thôn ở Lào Cai

Gỡ “điểm nghẽn” giao thông nông thôn ở Lào Cai

Những ngày đầu tháng 4, người dân phấn khởi hiến đất, góp công và huy động máy móc san gạt mặt bằng, mong muốn sớm có các tuyến đường bê tông kiên cố, thuận tiện đi lại và đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, sau ít ngày triển khai, nhiều công trình buộc phải tạm dừng do vướng cơ chế đầu tư, thủ tục phức tạp và thiếu kinh phí đối ứng. Các tuyến đường được kỳ vọng tạo động lực phát triển khu vực nông thôn, miền núi hiện đứng trước nguy cơ chậm tiến độ nếu không sớm tháo gỡ các “điểm nghẽn”.

“Viên ngọc xanh” chờ được “đánh thức”

“Viên ngọc xanh” chờ được “đánh thức”

Ẩn sâu giữa đại ngàn vùng giáp ranh Púng Luông - Nả Háng (xã Chế Tạo), Tà Cây Đằng thuộc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải là nơi lưu giữ hàng nghìn cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Những cây pơ mu, thiết sam cổ không chỉ tạo nên giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học mà còn mở ra tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái. Tuy nhiên, làm thế nào để đánh thức “viên ngọc xanh” này mà không làm “tổn thương” màu xanh nguyên bản của đại ngàn vẫn là bài toán lớn đặt ra với địa phương.

Si Ma Cai nỗ lực hồi sinh vùng dược liệu tam thất

Si Ma Cai nỗ lực hồi sinh vùng dược liệu tam thất

Từng được xem là “cây tiền tỷ” của vùng cao Si Ma Cai, cây tam thất đã mở ra kỳ vọng về hướng phát triển kinh tế hiệu quả cho đồng bào các dân tộc nơi đây. Sau giai đoạn phát triển mạnh rồi dần thu hẹp diện tích vì nhiều nguyên nhân, chính quyền địa phương đang nỗ lực khôi phục loại cây dược liệu quý này, từng bước làm chủ kỹ thuật sản xuất, hướng tới xây dựng tam thất trở thành cây hàng hóa có giá trị kinh tế cao.

Tuyến đường hy vọng ở A Mú Sung

Tuyến đường hy vọng ở A Mú Sung

A Mú Sung là xã vùng cao biên giới đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai, với đường biên dài gần 26,8 km. Nhiều năm qua, mưa lũ, sạt lở khiến những tuyến đường nơi đây thường xuyên hư hỏng, việc đi lại của người dân gặp nhiều khó khăn. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đến nay đoạn đường biên giới từ thôn Lũng Pô đến thôn Phù Lao Chải (giáp địa phận xã Y Tý) dài 14km đang được mở rộng, bê tông hóa, góp phần đổi thay cuộc sống người dân vùng biên.

fb yt zl tw