Về miền ấm no

LCĐT - Vĩ Kẽm vốn là vùng núi đồi hoang vu. Tuy nhiên, nhờ sự cần mẫn ươm trồng của các hộ dân người Dao tuyển, nơi đây đã có nhiều đổi thay, không chỉ mang lại thu nhập ổn định, mà còn dần thay đổi tư duy phát triển kinh tế cho người dân.

“Dù còn nhiều gian khó, nhưng chính nhờ sự chịu thương, chịu khó, không ngại đổi thay trong phát triển kinh tế của bà con nên cuộc sống ở Vĩ Kẽm thay đổi từng ngày…”, đứng trên đỉnh núi cao, anh Lý Văn Nện, Trưởng thôn Vĩ Kẽm, xã Cốc Mỳ (Bát Xát) chỉ ra vùng núi rừng xanh thẫm, hồ hởi.

Dựng xây quê hương mới

Theo tiếng địa phương, Vĩ Kẽm có nghĩa là vùng đất có mỏ đồng. Trước đây, Vĩ Kẽm là vùng đất núi đồi hoang vu. Năm 1979, những hộ người Dao tuyển đầu tiên từ trung tâm xã Cốc Mỳ về đây lập nghiệp. Nhiều người khi ấy khuyên nên sang các xã khác, huyện khác tìm nơi bằng phẳng để định cư, nhưng phần lớn các hộ vẫn muốn gắn bó với mảnh đất “chôn nhau, cắt rốn” Cốc Mỳ, nên quyết định khai hoang, lập làng dù đất đai có cằn khô, đường sá có gập ghềnh, không thuận tiện. Cứ kiên định vậy, nên từ hơn chục nóc nhà thuở ban sơ, giờ Vĩ Kẽm đã là nơi quần cư của 66 hộ người Dao tuyển với 297 nhân khẩu. Hơn 40 năm qua, người Vĩ Kẽm lớp cha trước, lớp con sau cứ cần mẫn ươm trồng, để rồi từ cuộc sống khốn khó ban đầu với bắp ngô, củ sắn, Vĩ Kẽm giờ đã nhiều đổi thay với sự hiện hữu của những cây trồng mới như chuối, quế, không chỉ mang lại kinh tế ổn định, mà còn dần thay đổi tư duy phát triển kinh tế cho người dân.

Về miền ấm no ảnh 1

Cùng trưởng thôn đi thăm đồng đất Vĩ Kẽm, từ những trùng điệp núi đồi vang tiếng nói cười rôm rả, tiếng dao phát cỏ, tiếng cuốc làm đất ràn rạt gần, xa. Nhớ khi nãy đi dọc tuyến đường vào thôn, 2 bên là những ngôi nhà xây san sát, cửa đóng im lìm, anh Nện bảo: Bà con đi làm hết rồi nhà báo ạ. Giờ đi dọc thôn cũng khó tìm thấy có người ở nhà, trừ các cụ già sức yếu, không thể lên nương.

Tôi thầm nghĩ, đúng là “đất Vĩ Kẽm cả làng chăm chỉ”.

Miền ấm no

Ông Trần Văn Đằng, Bí thư Đảng ủy xã Cốc Mỳ cho biết: Vĩ Kẽm là điển hình của xã về xây dựng nông thôn mới, tiêu biểu là nâng cao tiêu chí thu nhập cho các hộ. Đời sống của người dân không ngừng được nâng lên, nhiều hộ đã xây nhà khang trang, mua sắm các trang - thiết bị, phương tiện hiện đại phục vụ cuộc sống. Chúng tôi luôn lấy Vĩ Kẽm là điển hình để nhân rộng ra các thôn khác của xã, cùng thúc đẩy phong trào xây dựng nông thôn mới tại địa phương.

Một trong những minh chứng sinh động cho việc thay đổi tư duy phát triển kinh tế của người dân Vĩ Kẽm là việc chuyển đổi diện tích trồng ngô, sắn kém hiệu quả sang trồng chuối cấy mô. Cách đây gần chục năm, thực hiện mô hình sản xuất liên kết với doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm, 10 hộ của thôn đã trồng thử nghiệm cây chuối cấy mô trong vườn nhà. Chuối bén duyên đất, duyên người nên sinh trưởng, phát triển tốt và cho thu nhập cao. Sau thành công của những hộ đầu tiên, các hộ trong thôn đẩy mạnh trồng loại cây mới. Vĩ Kẽm “nổi danh” khắp vùng, tiếng lành đồn xa, người dân nhiều thôn, xã lân cận đến học hỏi kinh nghiệm trồng chuối, phát triển kinh tế hộ ở “mảnh đất ấm no”.

Về miền ấm no ảnh 2
Trưởng thôn Lý Văn Nện là một trong những người tiên phong trong phát triển kinh tế tại thôn Vĩ Kẽm.

"5 - 6 năm nay, đất Vĩ Kẽm khá lên là nhờ trồng chuối. Những năm “hoàng kim”, tất cả các ngọn đồi, đỉnh núi của thôn đều phủ xanh màu của cây chuối. Người dân còn tận dụng cả những khu vườn cạnh nhà để mở rộng diện tích, cả thôn khi ấy có gần 100 ha chuối. Nhiều hộ thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm từ trồng loại cây này", Trưởng thôn Lý Văn Nện vui vẻ chia sẻ.

Tuy nhiên, cũng như nhiều vùng trồng chuối khác trong tỉnh, những năm gần đây, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, đầu ra khó khăn nên bà con không mở rộng diện tích trồng mà thu hẹp và chuyển dần sang những loại cây khác. Một trong những cây trồng chuyển đổi đang đem lại hy vọng cho bà con là cây quế.

Về miền ấm no ảnh 3

Năm 2015, những cây quế đầu tiên được trồng thí điểm tại thôn theo Dự án trồng rừng sản xuất của Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện hỗ trợ. Ngày ấy, đang thời “hoàng kim” của cây chuối, những khu đất đẹp đều được dành cho loại cây này, nên quế chỉ trồng ở những khu đất dốc, nơi không thể canh tác chuối. Sau gần chục năm bén duyên, những diện tích quế đầu tiên đã cho thu hoạch, mang lại nguồn thu bước đầu cho bà con.

Tính đến nay, 100% hộ trong thôn trồng quế. Bà con ưu tiên loại cây quý trồng trong vườn nhà, trên những vạt đồi màu mỡ. Bình quân mỗi hộ trồng khoảng 1 ha quế, Những hộ trồng nhiều, như gia đình ông Lý Văn Khoái 6 ha, ông Đặng Thanh Toàn 5 ha, ông Lý Văn Nện 4 ha… Tổng diện tích quế toàn thôn là hơn 60 ha. Hiện cả thôn còn hơn 30 ha trồng chuối, nhưng dự tính những diện tích này sẽ được chuyển đổi sang quế và các cây lâm nghiệp khác.

Về miền ấm no ảnh 4
Màu xanh no ấm ở Vĩ Kẽm.

Cũng nhờ năng động trong phát triển kinh tế, chủ động vượt qua khó khăn nên phần lớn các hộ trong thôn người Dao tuyển ở Vĩ Kẽm có kinh tế khá. Đây cũng là thôn đầu tiên của xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2016. Cuộc sống ở mảnh đất khó đang đổi thay từng ngày, đem đến những hy vọng về cuộc sống mới trên miền đất ấm no.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Lào Cai là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư phân bố rải rác, khiến việc đầu tư, vận hành các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong khi ngân sách Nhà nước chưa thể đáp ứng nhu cầu đầu tư, sửa chữa và vận hành, việc quy hoạch lại hạ tầng cấp nước, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia đang rất cấp thiết.

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Xã Tằng Loỏng là địa bàn đông dân cư, tập trung Khu công nghiệp luyện kim, hóa chất trọng điểm của quốc gia và tỉnh, với nhiều doanh nghiệp, nhà máy đang hoạt động. Thế nhưng, giữa nhịp phát triển công nghiệp sôi động, người dân và công nhân lao động vẫn phải mua bán trong một khu chợ tạm hình thành từ nhiều năm trước. Sự thiếu hụt hạ tầng thương mại đang trở thành nghịch lý cần được giải quyết.

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Khi "vùng lõm" từng bước được phủ sóng, thông tin đến gần hơn với người dân, cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ, thị trường tiêu thụ cũng rộng mở hơn, tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Phía sau những khối nhà mang dáng dấp kiến trúc vùng cao là câu chuyện nhiều tháng ngày khảo sát, lắng nghe và điều chỉnh của những kiến trúc sư, với mong muốn dựng nên không chỉ một ngôi trường, mà còn là một không gian gìn giữ văn hóa cho học sinh nơi biên cương Tổ quốc.

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Từ khi hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, điều thay đổi quan trọng không chỉ là mở rộng diện tích hay quy mô dân số mà còn tạo ra không gian phát triển lớn hơn cho tỉnh Lào Cai mới. Trong không gian đó, đầu tư hạ tầng giữ vai trò kết nối các vùng động lực, thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, khai thác khoáng sản và kinh tế cửa khẩu, hướng tới mục tiêu xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Sức sống mới nơi thượng nguồn Lũng Pô Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Trên hành trình ngược suối Lũng Pô với chiều dài hơn 30 km từ thôn Lũng Pô (xã A Mú Sung) đến thôn Hồng Ngài (xã Y Tý), cùng với cảm nhận về sự đổi thay ở những vùng đất bên dòng suối biên giới, điều làm chúng tôi tự hào là khung cảnh bình yên hiện hữu khắp dải biên cương xa xôi. Ở nơi ấy, dù đường biên giới dài và địa hình hiểm trở, những chiến sĩ biên phòng vẫn luôn chắc tay súng cùng đồng bào các dân tộc giữ bình yên biên giới.

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Hạ tầng giao thông có vai trò quan trọng mở ra không gian phát triển, kết nối các vùng kinh tế, tạo động lực thu hút đầu tư và nâng cao đời sống người dân. Thế nhưng, do vướng mắc mặt bằng khiến tiến độ nhiều công trình bị ảnh hưởng, nguồn vốn đầu tư chưa được phát huy

Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đời sống đồng bào các dân tộc nơi thượng nguồn suối Lũng Pô đã có nhiều đổi thay. Hiện nay, nhiều chi bộ khu vực biên giới giữ vai trò nòng cốt trong công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trẻ, góp phần “đánh thức” tiềm năng phát triển nông - lâm nghiệp, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, giúp người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

fb yt zl tw