Lão nông và đồi chè Bát Tiên

Ông Trần Duy Sửu rót mời tôi chén nước chè mới pha sóng sánh màu mật ong rừng, cười khà khà: “Chè Bát Tiên đấy chú ạ. Đời tôi trồng chè đã mấy chục năm, nhưng chỉ thấy giống chè này trồng ở đất Mường Hum là thơm ngon nhất, uống một lần nhớ mãi, uống hai lần thành thèm, uống đến lần thứ ba trở đi thành “nghiện”, chẳng còn muốn uống loại chè khác nữa”.

Hơn chục năm “ăn gió nằm sương”

Lâu nay, tôi nghe nói ở Mường Hum (Bát Xát) có loại chè thơm ngon lắm. Tôi vượt Cổng Trời sâu hun hút, cuồn cuộn gió và mây mù đến thung lũng Mường Hum. Anh cán bộ xã chỉ tay lên phía thượng nguồn suối Mường Hum nói rằng, muốn uống chè Bát Tiên thì phải lên núi gặp lão nông trồng giống chè này. Vợ chồng ông sống trong căn nhà nhỏ ở gần Ao Tiên. Tôi háo hức vượt dốc lên lưng chừng núi, tìm đến ngôi nhà đơn sơ ngay ven đường, nằm lọt thỏm giữa những đồi chè xanh bát ngát.

Ông Trần Duy Sửu năm nay 62 tuổi, nhưng mái tóc vẫn đen, đôi mắt vẫn tinh anh, bắp tay chắc nịch như gốc chè cổ thụ. Ông nhanh nhẹn, khỏe mạnh chẳng khác gì mấy lão nông sinh ra ở núi rừng nơi đây. Chỉ có gương mặt đã hằn lên những nếp nhăn sương gió. Dẫn tôi lên thăm đồi chè, ông Sửu tâm sự: Năm 2002, tôi cùng vợ con tạm biệt quê hương “rừng cọ, đồi chè”, khăn gói lên làm thuê cho Công ty Cổ phần Linh Dương, phụ trách hướng dẫn kỹ thuật trồng chè cho bà con. Ngày ấy, toàn bộ những đồi chè ở Mường Hum bây giờ là rừng cây bụi, lau lách mọc. Nhưng nhìn những mỏm đồi hình mâm xôi, đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào, khí hậu mát mẻ, tôi đã hình dung ra sau này, nơi đây sẽ trở thành vùng chè rộng lớn”. Nghĩ là làm, ông Sửu mua đất, phát cây, san đồi, bắt tay vào trồng chè và tận tình hướng dẫn bà con cùng trồng chè Shan Tuyết, chè Bát Tiên trên núi. Khát vọng của ông Sửu cũng là mong ước đổi đời từ cây chè của nhân dân Mường Hum.

Lão nông và đồi chè Bát Tiên ảnh 1
Ông Trần Duy Sửu trên đồi chè Bát Tiên.

Quả thực, năm 2008 là thời “hoàng kim” của cây chè ở Mường Hum, có những hộ trồng chè thu từ 150 - 200 triệu đồng. Nhiều lao động địa phương nhờ hái chè thuê mà có thêm thu nhập. Bà con phấn khởi vì lên nương hái chè cũng là “hái tiền bỏ túi”. Thế nhưng mấy năm qua, “sinh mệnh” cây chè trên vùng đất này gặp không ít thăng trầm. Có thời điểm giá chè sụt giảm, đầu ra khó khăn, nhiều người bỏ chè mọc hoang không đốn tỉa, thậm chí chặt chè trồng cây khác. Ông Sửu nhìn những nương chè “kêu cứu” mà xót xa như dao cứa trong lòng.

“Bỏ cây chè làm sao được. Bỏ về quê sao được. Đồi chè còn đó, mồ hôi nước mắt của mình cũng ở đó. Còn đồi chè là còn hy vọng”. Ông Sửu quyết tâm không bỏ cuộc. Giữa rừng sương núi gió, vợ chồng ông yêu chè đã kiên cường bám trụ lại mảnh đất này. Các con đi làm xa, chỉ có ông bà nương tựa vào nhau sống trong ngôi nhà đơn sơ giữa vùng chè bát ngát. Hằng ngày, ông Sửu đều dậy từ khi gà chưa gáy để đun nước, tự tay pha ấm chè thật ngon. Trời mưa hay nắng, hôm nào ông bà cũng leo lên đồi “bầu bạn” với chè, khi thì hái chè về sao, khi thì nhặt cỏ, vun gốc, lúc thì đốn tỉa.

Ông Sửu bấm đốt ngón tay chai sạn bám đầy nhựa chè “Vậy mà đã 13 năm rồi. Chè đắng, chè ngọt tôi đều nếm trải đủ cả”. Giờ đây, ông Sửu có 3 ha chè. Vợ chồng ông thuê người hái chè về bán cho nhà máy chè hoặc tự sao bán. Thu nhập từ cây chè mỗi năm trung bình được 200 triệu đồng.

Lão nông và đồi chè Bát Tiên

Tôi hỏi ông Sửu về thứ chè đặc sản nổi tiếng Mường Hum có tên khá mĩ miều là chè Bát Tiên. Ông cười khà khà, rót nước sôi vào ấm chè mới, rồi dẫn tôi lên đồi chè sau nhà để “mục sở thị” loại chè quý này. Đứng giữa đồi chè lên xanh mơn mởn, ông Sửu bảo chè Shan Tuyết và những giống chè thông thường có búp màu xanh, lá xanh và to, còn chè Bát Tiên có lá nhỏ hơn, ngọn chè lên non có màu phớt hồng, tim tím như màu huyết dụ. Chè Bát Tiên cũng có hương vị thơm hơn hẳn chè thường. Ông Sửu hái một nắm chè Bát Tiên tươi, ngọn chè non vừa ngắt khỏi cành, nhựa ứa ra đọng giọt trong suốt, tỏa hương dìu dịu.

- Chè ngon vậy sao ngày trước bác không trồng thật nhiều để bán? - Tôi hỏi.

- Chè Bát Tiên “khó tính” lắm, khi mới trồng ở đất Mường Hum, gặp phải thời tiết giá lạnh, nhiều cây bị chết. Những cây nào tồn tại được thì lên rất tốt và cho chè đặc biệt thơm ngon. Mường Hum hiện có trên 120 ha chè, nhưng chỉ có 4 ha chè Bát Tiên. Chè Bát Tiên trồng ở Yên Bái, Phú Thọ, chất lượng cao đến mấy không thể so sánh với chè Bát Tiên trên núi Mường Hum được.

Sinh ra ở xứ chè, ông Sửu hiểu về cây chè còn hơn chính bản thân mình. Theo ông, sở dĩ chè Bát Tiên trồng ở Mường Hum có hương vị đặc biệt như vậy là do chất đất, nước và khí trời ở đây không nơi nào có được. Mường Hum có đỉnh núi Ky Quan San cao vời vợi, bốn mùa mây phủ, có dòng suối trong xanh chảy từ rừng già trên thượng nguồn về, đặc biệt lại có Ao Tiên đầy nước trên lưng chừng núi; tương truyền ngày xưa có bầy tiên nữ xuống tắm. Cây chè Bát Tiên bén rễ trên vùng đất nhiều huyền thoại, hấp thu được tinh túy của đất trời, nên búp chè hồng màu huyết dụ, đẹp mơn mởn như thiếu nữ tuổi trăng rằm.

Một cân chè bằng… 50 cân thóc

Tôi về căn nhà đơn sơ của ông Sửu khi ấm chè Bát Tiên đã ngấm. Ông lão rót ra chén mời tôi thứ nước chè vàng ong sóng sánh, tựa như vừa hong ra nắng sớm mai và có ai đó vô ý thả vào mấy giọt mật ong rừng. Chè vừa rót, hương đã lan tỏa trong không gian. Hương thơm vừa dịu dàng như hương hoa nhài, vừa thanh tao như hương sen, vừa ngất ngây, khoan khoái.

Quả là chè Bát Tiên ở Mường Hum, pha bằng thứ nước suối Mường Hum, nên hương vị thật tuyệt vời. Tôi nhấp ngụm nhỏ, tận hưởng vị thơm ngọt của thứ chè đặc sản. Dù không am hiểu nhiều về trà đạo, nhưng tôi thầm nghĩ mỗi buổi sớm, ngồi thiền lặng trong không gian yên tĩnh mà thưởng thức một chén chè Bát Tiên thế này, thì tâm hồn thanh tịnh. Trong câu chuyện cởi mở với ông, tôi biết thêm chè Bát Tiên bản chất đã ngon, nhưng cũng phải sao rất công phu thì mới ra được loại chè hảo hạng. Muốn chè ngon, thì sau khi hái về phải phơi trong nhà, quạt cho chè héo để lên hương thì mới sao. Sao chè Bát Tiên cũng có nhiều công đoạn, ban đầu phải sao tái ở nhiệt độ khoảng 150 độ, dùng tay bóp thấy chè mềm có độ đàn hồi thì cho ra quạt tiếp để làm khô. Công đoạn tiếp theo là sao lần 2, giảm nhiệt độ xuống còn 100 - 120 độ. Lúc nào thấy chè săn giòn đều thì bỏ ra quạt tiếp cho khô và đóng vào túi kín để chè không bay hương. Chè Bát Tiên ở Mường Hum không làm mốc, mà vẫn giữ nguyên màu chè để giữ trọn vị. Người sao chè giỏi chỉ cần nhìn lửa trong lò và ngửi hương thơm của chè đã biết chè sao già hay non.

Nghe ông Trần Duy Sửu say sưa chia sẻ kinh nghiệm hằng chục năm sao chè, tôi hiểu vì sao ông lại làm ra loại chè Bát Tiên thơm ngon đến vậy. Mỗi cân chè Bát Tiên ở Mường Hum có giá 300 - 400 nghìn đồng, nếu quy ra thóc có trị giá bằng… 50 cân thóc. Chè Bát Tiên ở Mường Hum bán giá cao là vậy, nhưng luôn “cháy hàng”, vì làm ra đến đâu khách mua đến đó. Nhà ông Sửu ở tận trên núi, nhưng người ta vẫn ngược dốc tìm đến tận nhà để mua chè Bát Tiên. Mỗi khi có khách đến nhà hỏi mua chè Bát Tiên mà hết chè để bán, lão nông đều mời khách chén chè thơm nghi ngút khói, không quên tặng khách nắm chè Bát Tiên làm quà, như lời hứa cho lần sau trở lại.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Bài cuối: Cần những giải pháp toàn diện

Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra: Bài cuối: Cần những giải pháp toàn diện

Thực trạng hàng loạt bến thủy nội địa không phép, hết phép vẫn hoạt động tại nhiều địa phương đang đặt ra yêu cầu cấp bách trong công tác quản lý. Không chỉ dừng ở kiểm tra, xử lý vi phạm mà cần có giải pháp tháo gỡ những “điểm nghẽn” trong quy hoạch, đăng ký hoạt động bến thủy nội địa trên địa bàn tỉnh.

Bài 2: “Mắc kẹt” giữa nhu cầu và thủ tục

Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra: Bài 2: “Mắc kẹt” giữa nhu cầu và thủ tục

Sông Hồng, sông Chảy và các lòng hồ thủy điện trên địa bàn đang trở thành trục vận tải quan trọng của tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, phía sau sự nhộn nhịp là thực trạng nhiều bến thủy nội địa không phép, hết phép vẫn hoạt động kéo dài. Điều này đặt ra những vấn đề rất đáng quan tâm trong công tác quản lý. 

Bài 1: Bến không phép hoạt động tràn lan

Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra: Bài 1: Bến không phép hoạt động tràn lan

Cùng với sự phát triển của các tuyến vận tải đường thủy, trên sông Hồng, sông Chảy và khu vực các lòng hồ trong tỉnh đang hình thành mạng lưới bến thủy nội địa hoạt động sôi động mỗi ngày. Tuy nhiên, phía sau bức tranh nhộn nhịp ấy là tình trạng “bến dù, bến cóc” hoạt động tự phát, không phép hoặc hết phép, thiếu điều kiện an toàn kỹ thuật đang đặt ra thách thức lớn đối với công tác quản lý của chính quyền cơ sở và cơ quan chức năng.

Đảm bảo chính sách bảo vệ rừng không bị gián đoạn sau sáp nhập

Đảm bảo chính sách bảo vệ rừng không bị gián đoạn sau sáp nhập

Sau khi phương án quản lý, bảo vệ rừng gỗ nghiến, gỗ trai giai đoạn 2021 - 2025 kết thúc, lực lượng giữ rừng ở cơ sở vẫn duy trì tuần tra, bám rừng từng ngày. Từ thực tế địa bàn, điều địa phương, lực lượng kiểm lâm và người dân mong muốn lúc này là sớm có chủ trương duy trì chính sách đặc thù cho giai đoạn tiếp theo để công tác bảo vệ rừng quý tiếp tục được duy trì ổn định, không bị gián đoạn trong giai đoạn chuyển tiếp.

Điện về bản xa

Điện về bản xa

Ngày 21/4 vừa qua có lẽ là ngày vui và hạnh phúc nhất với người dân 4 thôn vùng cao: Làng Ca, Khe Kẹn, Pín Pé, Ba Chum (xã Cát Thịnh) khi điện lưới quốc gia về tới bản làng sau rất nhiều năm mong mỏi. Ánh sáng ấy mở ra nhiều cơ hội phát triển cho những bản làng còn gian khó.

Khám phá chợ đá quý Lục Yên

Khám phá chợ đá quý Lục Yên

Vùng đất ngọc Lục Yên, nơi được mệnh danh là “vương quốc đá quý” của Việt Nam. Đến đây, du khách sẽ lạc vào những gam màu lấp lánh của hàng nghìn viên đá quý trong phiên chợ đặc biệt - chợ đá quý. Phiên chợ mang trong mình những nét văn hóa độc đáo, khiến bất cứ ai ghé thăm cũng không khỏi tò mò và say mê.

Nậm Chày: Điểm trường sạt lở, gần 100 học sinh phải học nhờ nhà dân

Nậm Chày: Điểm trường sạt lở, gần 100 học sinh phải học nhờ nhà dân

Do điểm trường nằm trong khu vực nguy cơ sạt lở cao, ảnh hưởng từ hoàn lưu bão số 3 (Yagi) cuối năm 2024, gần 100 học sinh mầm non và tiểu học tại thôn Hỏm Trên, xã Nậm Chày phải rời trường và học nhờ tại nhà dân. Tuy nhiên, điều kiện học tập tại các điểm tạm thời này không đảm bảo, khiến việc dạy và học gặp rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập của học sinh vùng cao nơi đây.

Về làng cao gắm Liêm Phú

Về làng cao gắm Liêm Phú

Thôn Liêm (xã Liêm Phú cũ, nay thuộc xã Khánh Yên) là nơi đồng bào dân tộc Tày sinh sống lâu đời. Trải qua nhiều thế hệ gắn bó với núi rừng, người Tày nơi đây đã đúc kết được nhiều bài thuốc quý từ dược liệu tự nhiên. Hiện nay, nhiều hộ dân vẫn miệt mài duy trì nghề nấu cao gắm truyền thống, vừa hỗ trợ điều trị bệnh xương khớp cho cộng đồng, vừa mang lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình.

Cẩn trọng mở rộng diện tích cây cà phê ở Lào Cai

Cẩn trọng mở rộng diện tích cây cà phê ở Lào Cai

Thời gian gần đây, tại một số xã thuộc khu vực Bảo Yên, Mường Khương, Bắc Hà, Bảo Thắng, người dân đã và đang trồng thử nghiệm cây cà phê. Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích trồng cà phê một cách tự phát, không theo quy hoạch tại các khu vực có điều kiện sinh thái không phù hợp, đang đặt ra nhiều thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao trong sản xuất nông nghiệp.

Thu hẹp khoảng cách phát triển sau hợp nhất

Thu hẹp khoảng cách phát triển sau hợp nhất

Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, các xã, phường trên địa bàn tỉnh đang đối mặt với nhiều thách thức trong thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các khu vực. Mỗi xã, thôn đều có những đặc điểm riêng về địa lý, kinh tế - xã hội, dẫn đến sự chênh lệch về mức sống và trình độ phát triển. Để giải quyết vấn đề này, các địa phương triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm hài hòa lợi ích, phát triển bền vững và khai thác hiệu quả tiềm năng từng vùng.

Một góc thôn Bỗng 2 nhìn từ trên cao.

Bản Dao đoàn kết

Nhắc đến thôn Bỗng 2, xã Bảo Hà, nhiều người vẫn còn nhớ đó là thôn người Dao nằm khuất sâu giữa núi rừng rậm rạp, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn do thiếu sinh kế phù hợp. Tuy nhiên, với việc xác định cây quế là cây trồng chủ lực mang lại giá trị kinh tế cao, địa phương đã từng bước chuyển mình mạnh mẽ, trở thành điểm sáng trong phát triển kinh tế. Hành trình thoát nghèo của người dân nơi đây đã thể hiện tinh thần đoàn kết của cộng đồng, tạo sức lan tỏa cùng nhau phát triển.

Lào Cai: Quan tâm bảo vệ môi trường mùa lễ hội xuân

Lào Cai: Quan tâm bảo vệ môi trường mùa lễ hội xuân

Sau Tết Nguyên đán, các địa phương trong tỉnh rộn ràng bước vào mùa lễ hội xuân truyền thống. Qua những lễ hội đã diễn ra, phóng viên ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực khi công tác bảo vệ môi trường được các cấp chính quyền, ngành chức năng, người dân và du khách quan tâm hơn, góp phần gìn giữ không gian lễ hội văn minh, bền vững.

Bừng sáng tương lai sau lũ dữ

Bừng sáng tương lai sau lũ dữ

Ngày đầu năm, trong ánh nắng dịu nhẹ, chúng tôi trở lại những khu tái định cư - nơi từng oằn mình chịu đau thương sau những trận lũ dữ. Những ngôi nhà mới khang trang, những tuyến đường bê tông phẳng lì và những nương quế xanh mướt trải dài đã làm nên bức tranh hồi sinh đầy hy vọng. Đó không chỉ là thành quả từ sự hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và các nhà hảo tâm, mà còn là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên của cộng đồng.

Bình yên An San

Bình yên An San

65 năm qua, An San không chỉ là nơi lưu giữ ký ức của những ngày đầu gian khó mà còn là biểu tượng của sự gắn bó, đoàn kết và phát triển.

fb yt zl tw