Lâm nghiệp Việt Nam: 80 năm giữ "lá phổi xanh" và tạo dựng thịnh vượng

Tám mươi năm phát triển, ngành lâm nghiệp phục hồi rừng, nâng tỷ lệ che phủ, thúc đẩy kinh tế xanh và đóng góp quan trọng cho tăng trưởng, bảo vệ môi trường.

Tám mươi năm hình thành, xây dựng và phát triển của đất nước cũng là hành trình 80 năm ngành lâm nghiệp bền bỉ, kiên trì bảo vệ, nuôi dưỡng, gìn giữ và phát triển “lá phổi xanh” của đất nước.

Từ những năm tháng đầu tiên của chính quyền cách mạng, vượt qua muôn vàn khó khăn của chiến tranh, thiên tai và đói nghèo, ngành lâm nghiệp đã từng bước định hình, vươn lên trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật có vai trò ngày càng quan trọng, đóng góp thiết thực trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ vững quốc phòng - an ninh và từng bước nâng cao vai trò, vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị (phải) trồng cây tại Tết trồng cây ở Tuyên Quang.

Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị (phải) trồng cây tại Tết trồng cây ở Tuyên Quang.

Vai trò lịch sử đặc biệt trong dựng nước và giữ nước

Ngay sau ngày độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sớm nhận ra vai trò sống còn của tài nguyên rừng với sự phát triển của đất nước. Ngày 1/12/1945, Sắc lệnh 69 hợp nhất các cơ quan nông - lâm - ngư đã đặt nền móng cho tổ chức quản lý rừng của nước Việt Nam mới. Từ đây, lâm nghiệp trở thành lĩnh vực được quan tâm xuyên suốt, gắn nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc với xây dựng đất nước.

Trong suốt 2 cuộc kháng chiến trường kỳ, rừng là không gian chiến lược - nơi che chở lực lượng cách mạng, cung cấp nguyên liệu, bảo vệ các tuyến giao thông vận tải, duy trì, cung cấp năng lượng và vật tư phục vụ chiến trường.

Ngành lâm chính khi đó đã xây dựng hệ thống chính sách đầu tiên, tổ chức bảo vệ rừng, khai thác gỗ, sản xuất, cung cấp lâm sản phục vụ kháng chiến, đồng thời phát động phong trào trồng cây sâu rộng trong nhân dân. Tinh thần “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” khẳng định vai trò to lớn của rừng, đồng thời là biểu tượng của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.

Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị kiểm tra rừng trồng nguyên liệu.

Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị kiểm tra rừng trồng nguyên liệu.

Từ suy thoái rừng đến kỳ tích phủ xanh đất trống, đồi núi trọc - dấu ấn nổi bật trong 80 năm phát triển

Lịch sử phát triển rừng Việt Nam từng trải qua giai đoạn suy giảm nghiêm trọng, từ 14,42 triệu ha rừng năm 1943 xuống còn 8,97 triệu ha năm 1990; tỷ lệ che phủ giảm sâu xuống còn 27,2% - mức thấp nhất trong lịch sử. Đây là thách thức lớn đòi hỏi quyết tâm chính trị mạnh mẽ, chính sách đồng bộ và sự tham gia, chung sức phục hồi rừng của toàn xã hội.

Bằng những nỗ lực chưa từng có, từ năm 1991 đến nay, Việt Nam liên tục gia tăng diện tích rừng, tỷ lệ che phủ rừng thông qua các chương trình lớn như: Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc (Chương trình 327), Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (Chương trình 661), Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững (Chương trình 886 và 809).

Theo số liệu công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2024: diện tích rừng đạt 14,87 triệu ha, tăng 5,41 triệu ha so với năm 1995; tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,03%, hoàn thành chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XIII đề ra, và đảm bảo duy trì ổn định ngưỡng an toàn sinh thái quốc gia.

Từ thành công trong phục hồi rừng, Việt Nam đã được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá là quốc gia đứng thứ 5 trong nhóm có tốc độ tăng diện tích, tỷ lệ che phủ rừng nhanh nhất thế giới, thuộc nhóm dẫn đầu châu Á về phát triển rừng trồng (Báo cáo về đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu năm 2020 - FAO). Đây không chỉ là thành tựu về môi trường, mà là minh chứng mạnh mẽ cho hiệu quả của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi các cơ chế, chính sách để phát triển một nền lâm nghiệp hiện đại, bền vững và từng bước hội nhập quốc tế.

Song song với đó, hệ thống rừng đặc dụng và rừng phòng hộ từng bước được thiết lập ổn định. Đến nay, đã có 167 khu rừng đặc dụng với diện tích hơn 2,23 triệu ha, trong đó có 35 vườn quốc gia; bảo tồn gần 16.500 loài thực vật và khoảng 10.500 loài động vật. Rừng phòng hộ với 4,689 triệu ha giữ vai trò then chốt trong bảo vệ khu vực đầu nguồn, phòng chống thiên tai, chống xói mòn, sạt lở đất, giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu.

Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị thăm cơ sở chế biến gỗ tại Quảng Trị.

Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị thăm cơ sở chế biến gỗ tại Quảng Trị.

Động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế quốc gia

Lâm nghiệp không chỉ là “lá chắn xanh” mà còn ngày càng khẳng định là ngành kinh tế quan trọng. Giai đoạn 2021-2024, tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân đạt trên 4,7%/năm; ước thực hiện giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 5,0%/năm, đạt mục tiêu của Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững.

Công nghiệp chế biến gỗ trở thành ngành sản xuất và xuất khẩu chiến lược theo hướng bền vững, hiệu quả theo chuỗi giá trị từ trồng rừng, khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản giai đoạn 2021-2024 bình quân 16,2 tỷ USD/năm, trong đó, năm 2024 đạt giá trị cao kỷ lục là 17,35 tỷ USD.

Năm 2025, tiếp đà thành công, ước giá trị xuất khẩu khoảng trên 18 tỷ USD. Trong nhiều năm, xuất khẩu lâm sản của Việt Nam luôn duy trì vị trí thứ 5 thế giới, thứ 2 châu Á, thứ 1 Đông Nam Á; sản phẩm gỗ Việt Nam đã có mặt trên thị trường của hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Thành quả này, ngoài khối óc, bàn tay tài hoa của người thợ và bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của các doanh nhân, thì một yếu tố quan trọng, mang tính quyết định đó là nguồn cung nguyên liệu trong nước ngày càng chủ động của người trồng rừng ngày đêm chăm chỉ, miệt mài.

Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng tập trung (chưa bao gồm gỗ cao su và gỗ từ cây phân tán) giai đoạn 2021 - 2024 đạt bình quân 20,5 triệu m³/năm, đáp ứng khoảng 80% nhu cầu nguyên liệu chế biến. Nhờ đó, giá trị xuất siêu của ngành luôn cao, thể hiện bước tiến và vai trò quan trọng của lâm nghiệp trong cơ cấu ngành nông nghiệp, cũng như bảo đảm cán cân thương mại của toàn nền kinh tế.

Ngoài nguồn thu từ khai thác gỗ, nguồn thu nhập khác từ rừng cũng ngày càng được mở rộng. Nổi bật là nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng - mô hình tiên phong trong huy động nguồn tài chính xanh. Giai đoạn 2011-2024, tổng thu dịch vụ môi trường rừng cả nước đạt 31.086 tỷ đồng. Nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng đã góp phần quản lý, bảo vệ hơn 7,45 triệu ha rừng, chiếm 53,5% tổng diện tích rừng toàn quốc; góp phần tăng thu nhập, ổn định sinh kế cho hàng trăm nghìn hộ dân.

Đặc biệt, nguồn thu từ thí điểm dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng theo Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ với 56,5 triệu USD (tương đương 1.400 tỷ đồng), bước đầu đặt nền móng cho việc hình thành, thể chế hóa và phát triển nguồn thu này trong tương lai.

Những cơ chế này là "cú hích" quan trọng cho xã hội hóa nghề rừng, huy động nguồn lực tư nhân, cộng đồng và doanh nghiệp vào quản lý, bảo vệ rừng. Đến hết năm 2024, đã có 11,62 triệu ha rừng được giao cho các chủ rừng, đạt 78,1% với hơn 1,1 triệu hộ gia đình và cộng đồng là chủ rừng hợp pháp. Khoảng 500.000 lao động làm việc trong ngành chế biến gỗ và 25 triệu người (trong đó có khoảng 12 triệu đồng bào dân tộc thiểu số) hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp từ rừng.

Lâm nghiệp đã trở thành động lực quan trọng góp phần xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái, phát triển các mô hình nông - lâm - ngư kết hợp và dược liệu dưới tán rừng.

Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị tại không gian triển lãm gỗ và sản phẩm gỗ, thuộc khuôn khổ sự kiện A80.

Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị tại không gian triển lãm gỗ và sản phẩm gỗ, thuộc khuôn khổ sự kiện A80.

Tầm nhìn mới - Khát vọng đưa lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế hiện đại, xanh và bền vững trong kỷ nguyên vươn mình

Bước vào giai đoạn phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, ngành lâm nghiệp Việt Nam định hướng phát triển dựa trên ba trụ cột chiến lược:

Thứ nhất là, tiếp tục bảo vệ và phát huy giá trị tài nguyên rừng quốc gia. Duy trì tỷ lệ che phủ rừng ổn định 42-43%; tăng năng suất, chất lượng rừng; phát triển mạnh rừng gỗ lớn, rừng sản xuất tập trung; mở rộng diện tích rừng được cấp mã số vùng trồng và diện tích được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững.

Thứ hai là, nâng tầm kinh tế lâm nghiệp. Phấn đấu đến năm 2030, giá trị xuất khẩu lâm sản đạt đạt 23 - 25 tỷ USD. Hình thành các khu lâm nghiệp công nghệ cao, các trung tâm chế biến gỗ quy mô khu vực. Phát triển dịch vụ môi trường rừng, đa dạng hóa và mở rộng các nguồn thu, đặc biệt là dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon; thúc đẩy trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng. Đảm bảo nguồn thu tiền dịch vụ môi trường rừng tăng bình quân 5%/năm.

Thứ ba là, tăng cường vai trò của rừng trong thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu; nâng cao hiệu quả bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và năng lực phòng hộ của rừng; tăng cường nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ của khoa học công nghệ như: công nghệ sinh học trong nghiên cứu cải thiện chất lượng giống cây trồng, công nghệ số, AI, viễn thám, cảm biến… trong quản lý tài nguyên rừng.

Trong suốt hành trình 80 năm vừa qua, Ngành lâm nghiệp tự hào đã góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Từ những năm tháng kháng chiến đến thời kỳ đổi mới và hội nhập, từ những nỗ lực bảo vệ, phục hồi rừng đến xây dựng, phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ quy mô, vị thế toàn cầu, lâm nghiệp Việt Nam đã khẳng định vai trò không thể thay thế trong tiến trình phát triển của đất nước.

Với niềm tin, khát vọng lớn lao, ngành lâm nghiệp quyết tâm đóng góp mạnh mẽ hơn nữa vào công cuộc xây dựng đất nước xanh - thịnh vượng - bền vững, đóng góp xứng đáng vào hành trình phát triển của nước Việt Nam độc lập.

Ngày 28/11/1959, trong không khí khắp nơi đang thi đua sôi nổi để lập thành tích chào mừng Đảng tròn 30 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân. “Bên đợt thi đua ấy, chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây. Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”, Người viết.

Lời kêu gọi, phát động của Người là khởi đầu cho phong trào trồng cây gây rừng ở nước ta từ 1960 về sau. “Tết trồng cây” do Bác Hồ khởi xướng được sự hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân, đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Để động viên toàn dân, cán bộ, công nhân viên và lao động lâm nghiệp; các cơ quan, trường học, lực lượng vũ trang... phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, thực hiện tốt lời dạy thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Tết trồng cây”, năm 1995, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định lấy ngày 28/11 hằng năm là “Ngày Lâm nghiệp Việt Nam”.

Trang thông tin Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

"Hồi sinh" những vườn bưởi già cỗi ở xã Thác Bà bằng mô hình mới

"Hồi sinh" những vườn bưởi già cỗi ở xã Thác Bà bằng mô hình mới

Những ngày này, tại các vườn bưởi ở xã Thác Bà (Lào Cai), không khí lao động trở nên nhộn nhịp hơn khi người dân bắt đầu tham gia mô hình ghép cải tạo, thâm canh cây bưởi theo hướng VietGAP. Đây là mô hình do Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Thác Bà triển khai với kỳ vọng mở ra hướng phát triển bền vững cho cây ăn quả có múi tại địa phương.

Lào Cai: Đột phá hỗ trợ khoa học công nghệ cho doanh nghiệp chủ lực

Lào Cai: Đột phá hỗ trợ khoa học công nghệ cho doanh nghiệp chủ lực

Trong bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trở thành yêu cầu cấp thiết, tỉnh Lào Cai đang đổi mới cách hỗ trợ doanh nghiệp theo hướng có trọng tâm, trọng điểm. Thay vì dàn trải, tỉnh ưu tiên đồng hành cùng các doanh nghiệp có tiềm năng, sản phẩm chủ lực để tháo gỡ khó khăn về công nghệ, quản trị và chuyển đổi số. Các nhiệm vụ được xây dựng sát nhu cầu thực tế, hướng tới nâng cao giá trị sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường.

Hiệu quả từ mô hình "Thôn thông minh" trong xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu tại xã Mậu A

Hiệu quả từ mô hình "Thôn thông minh" trong xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu tại xã Mậu A

Là tiêu chí quan trọng trong xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu, mô hình “Thôn thông minh” tại xã Mậu A đang chứng minh hiệu quả vượt trội khi đưa công nghệ số đến từng hộ dân. Những kết quả bước đầu không chỉ làm thay đổi phương thức quản lý của chính quyền mà còn mang lại nhiều tiện ích thiết thực, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân nông thôn.

Văn Bàn khẩn trương khống chế dịch tả lợn châu Phi

Văn Bàn khẩn trương khống chế dịch tả lợn châu Phi

Những ngày này, chính quyền và người dân xã Văn Bàn đang căng mình triển khai các biện pháp phòng, chống dịch tả lợn châu Phi. Ngay sau khi phát hiện ổ dịch đầu tiên, địa phương đã khẩn trương khoanh vùng, tiêu độc khử trùng, kiểm soát vận chuyển, đồng thời tuyên truyền người dân chủ động bảo vệ đàn vật nuôi, không để dịch bệnh lan rộng.

Trao sinh kế, mở hướng thoát nghèo cho phụ nữ xã Mậu A

Trao sinh kế, mở hướng thoát nghèo cho phụ nữ xã Mậu A

Từ các mô hình hỗ trợ chăn nuôi gắn với nguồn vốn tín dụng chính sách, nhiều hội viên phụ nữ nghèo ở xã Mậu A từng bước ổn định cuộc sống, chủ động phát triển kinh tế hộ gia đình. Không chỉ hỗ trợ con giống và tiếp cận vốn vay, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã còn đồng hành hướng dẫn kỹ thuật, theo sát quá trình sản xuất, giúp hội viên thay đổi tư duy, mạnh dạn vươn lên.

Quy Mông giữ màu xanh đồi quế

Quy Mông giữ màu xanh đồi quế

Thời gian qua, khi thời tiết chuyển mùa, nền nhiệt cao, độ ẩm lớn, mưa nắng xen kẽ, trên địa bàn xã Quy Mông xuất hiện sâu đo, sâu róm gây hại trên cây quế. Với đặc tính phát sinh nhanh, gây hại mạnh, sâu ăn lá đã ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây, đặt ra yêu cầu cấp thiết về công tác kiểm tra, phòng trừ kịp thời.

Người dân Tả Van "khát" nước sinh hoạt!

Người dân Tả Van "khát" nước sinh hoạt!

Giữa những ngày nắng nóng đầu hè, tại xã Tả Van, câu chuyện thiếu nước sinh hoạt lại trở thành nỗi ám ảnh thường trực của hàng trăm hộ dân. Những chiếc bể chứa cạn khô, vòi nước “im lìm” suốt nhiều tháng qua khiến cuộc sống của người dân đảo lộn. Đằng sau tình trạng ấy là bài toán tranh chấp nguồn nước giữa nhu cầu sản xuất và sinh hoạt vẫn chưa tìm được lời giải.

Si Ma Cai nỗ lực hồi sinh vùng dược liệu tam thất

Si Ma Cai nỗ lực hồi sinh vùng dược liệu tam thất

Từng được xem là “cây tiền tỷ” của vùng cao Si Ma Cai, cây tam thất đã mở ra kỳ vọng về hướng phát triển kinh tế hiệu quả cho đồng bào các dân tộc nơi đây. Sau giai đoạn phát triển mạnh rồi dần thu hẹp diện tích vì nhiều nguyên nhân, chính quyền địa phương đang nỗ lực khôi phục loại cây dược liệu quý này, từng bước làm chủ kỹ thuật sản xuất, hướng tới xây dựng tam thất trở thành cây hàng hóa có giá trị kinh tế cao.

Hội nghị tháo gỡ khó khăn cho ngành hàng quế Lào Cai

Hội nghị tháo gỡ khó khăn cho ngành hàng quế Lào Cai

Chiều 15/5, tại xã Mậu A, Hội Quế hồi tỉnh Lào Cai tổ chức hội nghị “Tháo gỡ khó khăn ngành hàng quế”, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất giải quyết các vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu.

Kiên trì tạo thành công

Kiên trì tạo thành công

Giữa những triền núi quanh năm mây phủ của xã Púng Luông, những vườn lê xanh mướt sai trĩu quả. Ít ai biết rằng, để có được những mùa quả ngọt hôm nay là cả hành trình hơn chục năm bền bỉ vượt khó của chàng trai dân tộc Mông Mùa A Mạnh, người từng bị cho là “liều lĩnh” khi quyết định theo đuổi trồng cây lê.

“Cánh tay nối dài” bảo vệ lá phổi xanh

“Cánh tay nối dài” bảo vệ lá phổi xanh

Lào Cai hiện có hơn 860.000 ha đất có rừng, tỷ lệ che phủ đạt 61,5%. Những cánh rừng không chỉ là “lá phổi xanh” điều hòa khí hậu, giữ nguồn nước, chống xói mòn, mà còn là nguồn sinh kế quan trọng của đồng bào vùng cao. Tuy nhiên, để giữ được màu xanh ấy trước nguy cơ cháy rừng, phát nương hay khai thác lâm sản trái phép chưa bao giờ là nhiệm vụ dễ dàng.

Gỡ khó cho cây sơn tra Nậm Có

Gỡ khó cho cây sơn tra Nậm Có

Từng là loài cây mọc tự nhiên trên núi cao, sơn tra nay đang trở thành cây kinh tế giúp nhiều hộ dân xã Nậm Có cải thiện thu nhập, giữ đất, giữ rừng và ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, để “vàng xanh” vùng cao phát huy hết giá trị, địa phương vẫn đang đối mặt với bài toán đầu ra, liên kết tiêu thụ và chế biến sản phẩm.

Mường Hum nâng cao giá trị cây lê

Mường Hum nâng cao giá trị cây lê

Với lợi thế khí hậu và thổ nhưỡng, xã Mường Hum đang đẩy mạnh phát triển cây lê theo hướng hàng hóa. Nhờ chú trọng áp dụng khoa học kỹ thuật trong chăm sóc, nâng cao chất lượng sản phẩm và liên kết tiêu thụ, cây lê không chỉ giúp nhiều hộ dân tăng thu nhập mà còn trở thành hướng phát triển kinh tế hiệu quả của địa phương.

fb yt zl tw