Huyền tích “rừng giếng ngọc”

LCĐT - Trong cái chênh vênh của tiết trời giao mùa cuối đông đầu xuân, đứng giữa nắng non cùng gió đông se lạnh tại điểm dốc cao vắt ngang núi Cù xã Bản Cái (Bắc Hà) nhìn xuống thũng lũng rộng lớn Làng Cù chúng tôi thấy mát mắt bởi  mảng xanh đằm thắm như một “giếng ngọc” của cây và lá đầy sức xuân tươi mới trái ngược với màu bàng bạc của ruộng đồng đang kỳ nghỉ đông. Hỏi người dân được biết đó là khu rừng cấm của thôn Làng Cù, nơi có những cây gỗ cổ thụ vài trăm năm tuổi.

Huyền tích “rừng giếng ngọc” ảnh 1
Người dân Làng Cù thường xuyên tuần tra, bảo vệ rừng quý.

Thông thường, những cánh rừng già hoặc ở trên những đỉnh núi cao, nhưng tại Làng Cù, cánh rừng quý lại nằm giữa thung lũng, nơi đây bốn mùa có mạch nguồn tuôn chảy cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp cho đồng bào Dao nơi đây. Nhìn từ trên đỉnh dốc cao xuống, khu rừng như một cái giếng xanh biếc. Cũng có lẽ vì vậy mà nhiều người gọi tên khu rừng là “giếng ngọc” của làng Dao.

Trong căn nhà xây khang trang nằm ngay sát bìa rừng cổ thụ ở thôn Làng Cù, bà Triệu Thị Chẳn, năm nay 91 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn cho biết: Tôi sinh ra tắm nước suối chảy ra từ rừng, uống nước từ rừng mà lớn lên, giờ già rồi vẫn được khu rừng này che chở. Từ thời ông bà, cha mẹ tôi cũng thế, khu rừng này có từ thời người Dao định cư nơi đây. Người Dao cần nước để sinh hoạt, để sản xuất nên luôn có tín ngưỡng thờ cúng, bảo vệ rừng.

Câu chuyện về ân nghĩa của rừng là động lực rất lớn thôi thúc thêm mong muốn của chúng tôi khám phá “giếng ngọc” của làng Dao. Theo chân các thành viên Tổ bảo vệ rừng của thôn, tôi bách bộ đầy háo hức. Ngay từ cửa rừng, màu xanh ngút ngàn đã khiến tôi choáng ngợp. Càng vào sâu, rừng càng đan cài nhiều tầng lớp dày đặc với 5 tầng tán từ tầng cao, trung, dây leo, thấp đến lớp cây bụi. Đâu đó giữa những tán cây tiếng chim hót líu lo, thỉnh thoảng có tiếng sột soạt của những chú sóc đang tìm hạt mầm trong lớp lá khô mục. Tôi mải ngắm chim muông, ngắm những lộc trồi tươi mới chẳng mấy chốc đã đến vùng lõi khu rừng. Khi cả đoàn dừng bước, hiện ra trước mắt chúng tôi là những gốc cây cổ thụ cao lớn sừng sững vượt khỏi tán những cây khác. Có cây đường kính tới 1,5 m, thân cây rêu phong, đang bong từng lớp vỏ như thay áo mới khi chuyển mùa. Ngước mắt nhìn lên ngọn cây, những tia nắng thưa thớt lọt qua tán lá dày xuyên xuống nhìn lung linh như vầng hào quang huyền ảo. Ông Đặng Văn Minh, Bí thư Chi bộ thôn Làng Cù tự hào: Khu rừng dổi này rộng chừng 5 đến 6 ha, đây là cây gỗ dổi tổ to nhất khu rừng này, tuổi đời có lẽ vài trăm năm.

Ông Minh và hai thành viên tổ bảo vệ rừng nắm tay nhau cũng không ôm hết gốc cây dổi tổ. Ông Minh cho biết thêm, khu rừng này rất đặc biệt, mùa hè nắng gắt đến mấy, cây cỏ ngoài nương, ruộng héo khô hay mùa đông lạnh giá, khắc nghiệt nhưng chỉ riêng khu rừng này vẫn duy trì một màu biếc xanh. Đặc biệt hơn, từ khu rừng có mạch nước ngầm chảy ra, tạo thành một dòng suối có nước chảy bốn mùa chưa từng bị khô hạn.

Huyền tích “rừng giếng ngọc” ảnh 2
Người dân lập miếu thờ thần rừng ngay dưới cây dổi tổ hàng trăm năm tuổi.

Thật tuyệt vời nhưng cũng thật lạ kỳ khi dổi là loại gỗ quý thường được người dân vùng cao lựa chọn làm nhà cửa, đóng đồ gỗ, vậy mà người dân ở đây lại không mảy may xâm hại rừng để chặt gỗ làm nhà. Thậm chí lâm tặc luôn săn lùng loại gỗ này ráo riết, nhưng khu rừng dổi ở thôn Làng Cù vẫn vững trãi qua bao đời. Ông Đặng Văn Minh “bật mí”: Khu rừng dổi này là rừng cấm của thôn. Mỗi cây trong rừng được coi như một thành viên của thôn. Từ ngày xưa, các cụ đã nghiêm cấm mọi người vào rừng chặt cây, lấy củi. Người dân ở đây tin rằng ai vi phạm điều này sẽ bị thần rừng trừng phạt, nên không dám vào rừng cấm linh thiêng.

Theo lời của các cụ cao niên ở Làng Cù, rừng cấm hay còn gọi là rừng dổi, rừng miếu, là khu rừng cổ thụ lâu đời nhất vùng đất này. Có nhiều câu chuyện kỳ bí về sự linh thiêng của khu rừng cấm. Theo lời kể, vào những năm 80 của thế kỷ trước, có một nhóm thanh niên đến từ nơi khác, khi đi qua thấy khu rừng có nhiều cây cổ thụ quý đã nảy sinh ý định xâm hại. Khi vừa vung dao chặt được mấy nhát thì tay chân tê cứng, không di chuyển được, phải nhờ người khênh ra khỏi rừng. Được người già trong thôn chỉ bảo, họ sắm lễ tạ tội với thần rừng mới được bình an. Đó cũng chính là lý do tại sao sau hàng trăm năm, rừng dổi Làng Cù vẫn xanh tươi như vậy.

Theo truyền thống, mỗi năm người dân thôn Làng Cù tổ chức 4 ngày lễ cúng tạ ơn thần rừng, trong đó ngày lễ đầu tiên và được coi là quan trọng nhất được tổ chức vào ngày Dần đầu tiên của đầu năm mới. Từ quý  hai trở đi, lễ cúng thần rừng được tổ chức vào các ngày lập hạ, lập thu, lập đông. Trong ngày diễn ra lễ cúng rừng, các hộ trong thôn dậy từ sớm dọn nhà cửa, sửa soạn bàn thờ tổ tiên. Mỗi hộ cử một đại diện là nam giới ra địa điểm cúng tế để dọn sạch sẽ khu vực miếu thờ, bàn thờ thần rừng, mang theo lễ vật xôi, gà, rượu, hương và giấy bản để in sênh tiền ngay tại khu vực cúng tế.

Thôn Làng Cù có 51 nóc nhà, đa số là đồng bào dân tộc Dao sinh sống quanh khu rừng thiêng. So với các thôn khác của xã Bản Cái, thì Làng Cù là thôn nằm trên cao, nơi thượng nguồn dòng suối Cù. Dạo quanh thôn một vòng, tôi thấy sự khởi sắc, ấm no trong đời sống của đồng bào Dao nơi đây. Trong thôn đã có nhiều nhà xây kiên cố mọc lên thay thế những ngôi nhà mái lợp lá cọ trước đây. Nhà nào cũng nhiều thóc, ngô, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Hầu như nhà nào cũng sắm sửa được tiện nghi sinh hoạt như ti vi, tủ lạnh, xe máy. Đi trên tuyến đường trục thôn đã được trải bê tông xi măng phong quang, sạch đẹp, ông Đặng Văn Minh, Bí thư Chi bộ Làng Cù khoe với chúng tôi: Nhiều năm liền thôn không có hộ tảo hôn hoặc sinh con thứ 3, không có người mắc tệ nạn xã hội. Bà con đoàn kết góp công, góp của để đổ bê tông đường trục thôn với chiều dài gần 5 km.

Chia sẻ về những đổi mới của thôn, ông Bàn Văn Tiến, Trưởng thôn Làng Cù cho biết: Hướng phát triển kinh tế luôn được người dân tìm tòi, trong đó chuyển đổi gần 50 ha đất nương đồi trồng sắn, ngô kém hiệu quả sang trồng quế, nâng tổng diện tích quế của thôn lên 80 ha. Nhờ trồng quế, nhiều hộ có thu nhập trên 100 triệu đồng mỗi năm như các hộ Đặng Văn Minh, Triệu Huy Điệp, Triệu Thị Khai… Cũng nhờ nguồn nước từ rừng mà hơn 40 ha lúa hai vụ của bà con trong thôn luôn xanh tốt, cho năng suất cao. Hiện thôn còn 9 hộ nghèo, thu nhập bình quân đầu người đạt 32 triệu đồng/năm.

Điều phấn khởi nhất đối với Trưởng thôn Bàn Văn Tiến là những năm gần đây, 100% học sinh trong thôn được đến trường. Làng Cù có nhiều cháu là học sinh giỏi, thi đỗ các trường đại học, cao đẳng. Thôn có 2 cháu đã học xong đại học, 3 cháu học xong cao đẳng và có việc làm ổn định, có 12 cháu đang học trung học phổ thông. Tin rằng những thế hệ măng non của Làng Cù sẽ đem tri thức tiến bộ để xây dựng quê hương thêm giàu đẹp.

Chia tay người dân Làng Cù trong buổi chiều tà, từng cơn gió nhẹ mang hơi ấm từ khu rừng quý như đang vẫy chào đầy lưu luyến. Nhìn những nếp nhà được xây dựng trên cao, bao quanh khu rừng chúng tôi mường tượng ra những viên gạch chắc chắn được xếp đặt để bảo vệ cho miệng giếng biếc xanh có chủ đích. Ngay dưới tán rừng dổi hàng trăm năm tuổi, những lớp cây non đang vươn mình đầy sức sống, mở ra một tương lai tươi sáng. Xanh mãi nhé “rừng giếng ngọc”.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Khi "vùng lõm" từng bước được phủ sóng, thông tin đến gần hơn với người dân, cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ, thị trường tiêu thụ cũng rộng mở hơn, tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Phía sau những khối nhà mang dáng dấp kiến trúc vùng cao là câu chuyện nhiều tháng ngày khảo sát, lắng nghe và điều chỉnh của những kiến trúc sư, với mong muốn dựng nên không chỉ một ngôi trường, mà còn là một không gian gìn giữ văn hóa cho học sinh nơi biên cương Tổ quốc.

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Từ khi hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, điều thay đổi quan trọng không chỉ là mở rộng diện tích hay quy mô dân số mà còn tạo ra không gian phát triển lớn hơn cho tỉnh Lào Cai mới. Trong không gian đó, đầu tư hạ tầng giữ vai trò kết nối các vùng động lực, thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, khai thác khoáng sản và kinh tế cửa khẩu, hướng tới mục tiêu xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Sức sống mới nơi thượng nguồn Lũng Pô Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Trên hành trình ngược suối Lũng Pô với chiều dài hơn 30 km từ thôn Lũng Pô (xã A Mú Sung) đến thôn Hồng Ngài (xã Y Tý), cùng với cảm nhận về sự đổi thay ở những vùng đất bên dòng suối biên giới, điều làm chúng tôi tự hào là khung cảnh bình yên hiện hữu khắp dải biên cương xa xôi. Ở nơi ấy, dù đường biên giới dài và địa hình hiểm trở, những chiến sĩ biên phòng vẫn luôn chắc tay súng cùng đồng bào các dân tộc giữ bình yên biên giới.

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Hạ tầng giao thông có vai trò quan trọng mở ra không gian phát triển, kết nối các vùng kinh tế, tạo động lực thu hút đầu tư và nâng cao đời sống người dân. Thế nhưng, do vướng mắc mặt bằng khiến tiến độ nhiều công trình bị ảnh hưởng, nguồn vốn đầu tư chưa được phát huy

Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đời sống đồng bào các dân tộc nơi thượng nguồn suối Lũng Pô đã có nhiều đổi thay. Hiện nay, nhiều chi bộ khu vực biên giới giữ vai trò nòng cốt trong công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trẻ, góp phần “đánh thức” tiềm năng phát triển nông - lâm nghiệp, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, giúp người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Những cột điện, đường dây điện quốc gia hôm nay đã vươn tới các thôn bản vùng cao của xã Lâm Giang. Nguồn điện ổn định đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho người dân. Tuy nhiên, phía sau những công trình đã phát huy hiệu quả nhiều năm vẫn còn một tồn tại kéo dài: hàng trăm hộ dân đã hiến đất, chặt bỏ cây trồng để phục vụ dự án nhưng đến nay vẫn chưa được chi trả tiền bồi thường theo quy định.

Từ hào khí Phố Ràng đến khát vọng phát triển

Từ hào khí Phố Ràng đến khát vọng phát triển

77 năm đã qua nhưng Chiến thắng Phố Ràng (26/6/1949) vẫn là niềm tự hào của Nhân dân các dân tộc trên quê hương Bảo Yên. Trên mảnh đất lịch sử ấy, truyền thống cách mạng năm xưa đang tiếp tục được các thế hệ hôm nay gìn giữ, phát huy bằng khát vọng dựng xây quê hương ngày càng giàu đẹp.

Yên Bình tăng cường kiểm soát môi trường tại các cơ sở công nghiệp và bến bãi

Yên Bình tăng cường kiểm soát môi trường tại các cơ sở công nghiệp và bến bãi

Những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển công nghiệp và sản xuất vật liệu xây dựng, xã Yên Bình trở thành địa bàn tập trung nhiều cơ sở chế biến đá, bãi tập kết hàng hóa và bến thủy nội địa. Sự phát triển này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho lao động địa phương, song cũng kéo theo nhiều áp lực về môi trường gây ảnh hưởng đến đời sống người dân.

Gỡ “điểm nghẽn” giao thông nông thôn ở Lào Cai

Gỡ “điểm nghẽn” giao thông nông thôn ở Lào Cai

Những ngày đầu tháng 4, người dân phấn khởi hiến đất, góp công và huy động máy móc san gạt mặt bằng, mong muốn sớm có các tuyến đường bê tông kiên cố, thuận tiện đi lại và đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, sau ít ngày triển khai, nhiều công trình buộc phải tạm dừng do vướng cơ chế đầu tư, thủ tục phức tạp và thiếu kinh phí đối ứng. Các tuyến đường được kỳ vọng tạo động lực phát triển khu vực nông thôn, miền núi hiện đứng trước nguy cơ chậm tiến độ nếu không sớm tháo gỡ các “điểm nghẽn”.

“Viên ngọc xanh” chờ được “đánh thức”

“Viên ngọc xanh” chờ được “đánh thức”

Ẩn sâu giữa đại ngàn vùng giáp ranh Púng Luông - Nả Háng (xã Chế Tạo), Tà Cây Đằng thuộc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải là nơi lưu giữ hàng nghìn cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Những cây pơ mu, thiết sam cổ không chỉ tạo nên giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học mà còn mở ra tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái. Tuy nhiên, làm thế nào để đánh thức “viên ngọc xanh” này mà không làm “tổn thương” màu xanh nguyên bản của đại ngàn vẫn là bài toán lớn đặt ra với địa phương.

Si Ma Cai nỗ lực hồi sinh vùng dược liệu tam thất

Si Ma Cai nỗ lực hồi sinh vùng dược liệu tam thất

Từng được xem là “cây tiền tỷ” của vùng cao Si Ma Cai, cây tam thất đã mở ra kỳ vọng về hướng phát triển kinh tế hiệu quả cho đồng bào các dân tộc nơi đây. Sau giai đoạn phát triển mạnh rồi dần thu hẹp diện tích vì nhiều nguyên nhân, chính quyền địa phương đang nỗ lực khôi phục loại cây dược liệu quý này, từng bước làm chủ kỹ thuật sản xuất, hướng tới xây dựng tam thất trở thành cây hàng hóa có giá trị kinh tế cao.

fb yt zl tw