Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

0:00 / 0:00
0:00

Hiện nay, trên những triền đồi ấy, ngày càng nhiều diện tích rừng được người dân giữ lại thêm vài năm để phát triển theo hướng rừng gỗ lớn. Phía sau quyết định này là hành trình thay đổi tư duy của người trồng rừng. Nhờ hiểu rõ kỹ thuật, thị trường và giá trị kinh tế của rừng gỗ lớn, người dân đã không còn vội vàng khai thác sớm như trước.

baolaocai-br_img-2397.jpg
Nhiều diện tích rừng trồng ở xã Bảo Ái đang được người dân kéo dài chu kỳ khai thác để phát triển theo hướng rừng gỗ lớn.

Bài toán "cơm áo" và quyết định ngược dòng

Ở Bảo Ái, nhắc đến người tiên phong phát triển rừng gỗ lớn, cán bộ kiểm lâm nghĩ ngay đến ông Nghiêm Xuân Thành, ở thôn Ngòi Bang. Không chỉ sở hữu diện tích rừng lớn, ông còn là một trong những người đầu tiên chứng minh: Muốn làm giàu từ rừng thì phải biết chờ đợi.

Hơn ba mươi năm trước, ông Thành từng theo bạn bè vào rừng khai thác gỗ. Khi ấy, những cánh rừng tự nhiên còn nhiều cây gỗ lớn. Hết chuyến này đến chuyến khác, những thân cây cả người ôm lần lượt bị đốn hạ. Nhưng rồi gỗ quý cũng cạn dần, đồi núi xác xơ, còn cuộc sống của nhiều gia đình vẫn quanh quẩn trong cảnh thiếu trước hụt sau.

Khi Nhà nước giao đất lâm nghiệp cho người dân, vợ chồng ông Thành nhận những quả đồi chỉ toàn lau lách để bắt đầu gây dựng lại từ đầu.

"Ngày ấy chẳng có gì ngoài sức lao động. Hai vợ chồng mang cơm lên đồi, ngày ngày đào hố, phát cỏ, trồng từng cây keo, cây bồ đề. Nhiều hôm làm từ sáng đến tối mịt mới trở về", ông Thành nhớ lại.

Sau 8 năm, ba héc-ta rừng đầu tiên cũng đến kỳ khai thác. Sau khi trừ chi phí giống, phân bón, công chăm sóc và vận chuyển, số tiền còn lại chỉ khoảng 80 triệu đồng. Cầm xấp tiền trên tay, ông chợt nhận ra nếu cứ khai thác khi cây vừa đủ tuổi làm gỗ nguyên liệu thì rất khó tích lũy để thoát nghèo. Tiền bán rừng lại tiếp tục dùng để mua giống, mua phân bón cho chu kỳ tiếp theo. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại, còn cuộc sống vẫn chưa có nhiều đổi khác.

Nghĩ là làm. Ông bàn với vợ giữ lại gần 7 ha rừng keo, quyết không bán sớm như trước. Đó là quyết định không hề dễ dàng. Những năm ấy, tiền nuôi con ăn học và chi phí sinh hoạt luôn đè nặng lên vai hai vợ chồng. Không ít lần thương lái tìm đến trả giá, chỉ cần gật đầu là có ngay một khoản tiền để trang trải cuộc sống. Nhưng rồi ông lại từ chối.

Để giữ được những cánh rừng, ông Thành đi làm đủ nghề, từ bốc vác, làm cửu vạn đến khai thác đá đỏ ở vùng hồ Thác Bà. Ở nhà, vợ ông nuôi thêm lợn, gà để lấy ngắn nuôi dài. Khi rừng bắt đầu khép tán, ông chỉ tỉa những cây nhỏ, cây sinh trưởng kém để có thêm thu nhập, còn những cây khỏe mạnh tiếp tục được giữ lại.

"Muốn có tiền ngay thì bán rừng non. Nhưng muốn rừng trả công xứng đáng thì phải biết đợi", ông Thành từng chia sẻ.

Hơn mười năm sau, những cây keo ngày nào giờ đã cao vút, thân thẳng, đường kính lớn hơn nhiều so với chu kỳ khai thác thông thường. Chỉ tính riêng lứa rừng gỗ lớn đầu tiên, gia đình ông thu khoảng 300 - 400 triệu đồng/ha, cao gấp nhiều lần so với những chu kỳ khai thác trước đây.

baolaocai-br_img-2393.jpg
Người dân xã Bảo Ái khai thác rừng trồng sau khi kéo dài chu kỳ kinh doanh, góp phần nâng cao giá trị kinh tế.

Thành quả từ lựa chọn năm nào đã thay ông trả lời. Từ mô hình của gia đình ông Thành, ngày càng nhiều hộ trồng rừng ở Bảo Ái mạnh dạn kéo dài chu kỳ kinh doanh, chuyển từ khai thác sớm sang "nuôi" rừng gỗ lớn.

Thay đổi cách nghĩ để giữ rừng lâu hơn

Nếu như trước đây nhiều người xem lựa chọn của ông Nghiêm Xuân Thành là khác thường thì hiệu quả từ cách làm của ông đã trở thành câu trả lời thuyết phục nhất. Từ một hộ tiên phong, mô hình phát triển rừng gỗ lớn dần lan sang nhiều hộ khác; người dân tìm đến học hỏi cách chăm sóc và tính toán hiệu quả kinh tế.

Theo ông Hoàng Xuân Hiểu, kiểm lâm viên Tổ Kiểm lâm địa bàn xã Bảo Ái, trở ngại lớn nhất của người trồng rừng trước đây không hẳn là thiếu đất hay thiếu vốn, mà là thiếu thông tin. "Nhiều hộ chỉ quen với chu kỳ 5 - 6 năm là khai thác vì nghĩ để lâu cũng không mang lại giá trị cao hơn. Họ chưa hình dung được sự khác biệt giữa gỗ nguyên liệu và gỗ lớn, chưa biết yêu cầu của thị trường cũng như lợi ích của quản lý rừng bền vững. Khi chưa có đầy đủ thông tin thì rất khó thay đổi cách làm", ông Hiểu chia sẻ.

Theo ông Hoàng Xuân Hiểu, trước đây rừng keo thường được khai thác sau 4 - 5 năm, mỗi héc-ta chủ yếu chỉ cho vài chục mét khối gỗ nguyên liệu, thu về khoảng 70 - 80 triệu đồng trước khi trừ chi phí. Khi kéo dài chu kỳ lên trên 10 năm, cây đạt đường kính lớn, sản lượng gỗ tăng lên nhiều lần, đủ tiêu chuẩn chế biến gỗ xẻ nên giá bán cũng cao hơn đáng kể.

Không chỉ giá trị kinh tế tăng, chi phí chăm sóc cũng giảm dần theo thời gian. Từ năm thứ bảy trở đi, khi rừng bắt đầu khép tán, lượng cỏ dại và thực bì giảm mạnh, chủ rừng hầu như không phải phát dọn thường xuyên như giai đoạn đầu. Với lợi thế này, chính quyền địa phương vừa vận động người dân giữ rừng lâu hơn, vừa khuyến khích chăn nuôi, trồng cây dược liệu dưới tán theo phương châm "lấy ngắn nuôi dài".

Nhưng để người dân giữ rừng lâu hơn, điều cần thay đổi trước tiên lại không phải là cây rừng, mà là cách nghĩ của người trồng rừng. Từ thực tế đó, chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm kiên trì đưa thông tin, kỹ thuật và kinh nghiệm làm rừng đến với từng thôn, từng hộ. Những lớp tập huấn, buổi hướng dẫn ngay tại hiện trường hay các chuyến tham quan mô hình đã giúp bà con nắm vững kỹ thuật chăm sóc rừng và hiểu rõ hơn giá trị của rừng gỗ lớn và nhu cầu của thị trường.

baolaocai-br_img-201809.jpg
Người dân xã Bảo Ái tham quan mô hình rừng gỗ lớn để học hỏi kinh nghiệm, từng bước thay đổi tư duy sản xuất lâm nghiệp.

"Có những điều giải thích nhiều lần bà con vẫn chưa hình dung được, nhưng chỉ cần đưa đến tận nơi, nhìn thấy những cây keo đường kính lớn bán được giá cao hơn nhiều so với gỗ nguyên liệu thì cách nghĩ thay đổi rất nhanh. Người dân tin vì đó là mô hình thực tế ngay tại địa phương", ông Hiểu nói.

Gia đình bà Nguyễn Thị Hà, thôn Ngòi Bang, hiện có khoảng 20 ha rừng keo và bồ đề. Theo bà Hà, trước đây cứ đến kỳ là gia đình bán vì sợ gió bão, sâu bệnh làm giảm giá trị rừng. Nay được hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, hiểu hơn về nhu cầu thị trường nên nhiều diện tích được giữ lại để phát triển theo hướng rừng gỗ lớn.

"Bán sớm thì có tiền ngay nhưng giá trị không cao. Để thêm vài năm, cây lớn, gỗ đẹp, bán được giá hơn nhiều. Bây giờ chúng tôi không còn nóng ruột như trước nữa", bà Hà chia sẻ.

Thành quả từ cách nghĩ mới

Sự thay đổi cách nghĩ ấy đã lan rộng trong cộng đồng. Từ chỗ chỉ quan tâm đến sản lượng gỗ sau mỗi chu kỳ khai thác, nhiều hộ đã bắt đầu chú trọng chất lượng rừng, giá trị kinh tế lâu dài và các yêu cầu của thị trường. Thông tin đến gần hơn cũng là lúc tư duy làm rừng của người dân từng bước thay đổi.

Xã Bảo Ái hiện có hơn 9.056 ha rừng, với độ che phủ đạt 52,86%. Trong đó, hơn 2.000 ha rừng trồng keo, bạch đàn, bồ đề và quế của 670 hộ gia đình, chủ rừng đã được cấp Chứng nhận quản lý rừng bền vững FSC-FM, tạo điều kiện nâng cao giá trị gỗ rừng trồng và mở rộng cơ hội tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao hơn.

baolaocai-br_trao-chung-chi.jpg
Chứng nhận quản lý rừng bền vững FSC - FM góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho rừng trồng ở xã Bảo Ái.

Theo ông Hoàng Quang - Phó Chủ tịch UBND xã Bảo Ái, mục tiêu địa phương hướng tới không chỉ là tăng diện tích rừng hay sản lượng gỗ khai thác, mà quan trọng hơn là giúp người dân thay đổi tư duy sản xuất.

"Khi người dân hiểu được giá trị của rừng gỗ lớn, nắm được kỹ thuật chăm sóc, các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và thông tin thị trường, họ sẽ chủ động lựa chọn hướng sản xuất phù hợp, không còn phụ thuộc vào cách làm cũ. Đó cũng là nền tảng để nghề rừng phát triển bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân", ông Hoàng Quang cho biết.

baolaocai-br_1111.jpg
Những cây rừng được kéo dài chu kỳ khai thác đang mang lại giá trị kinh tế cao hơn cho người trồng rừng ở Bảo Ái.

Điều đáng mừng nhất hiện nay không chỉ là diện tích hay số héc-ta rừng đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững liên tục tăng, mà chính là sự thay đổi trong tư duy của người dân. Thay vì tranh thủ khai thác sớm như trước, nhiều hộ trồng rừng tại Bảo Ái đã chủ động kéo dài chu kỳ, chấp nhận thu hoạch muộn hơn để nâng cao giá trị kinh tế và hướng tới phát triển bền vững.

Chiều xuống trên những triền đồi Bảo Ái, gió vẫn rì rào qua những cánh rừng keo, rừng quế đang bước vào tuổi trưởng thành. Ở nhiều quả đồi, người dân không còn thấp thỏm chờ ngày bán rừng như trước, mà kiên nhẫn chăm sóc để cây thêm tuổi, thân thêm lớn.

Từ bước đi tiên phong của ông Nghiêm Xuân Thành đến sự hưởng ứng của nhiều hộ dân, tư duy sản xuất mới đã thực sự bén rễ trên những triền đồi Bảo Ái. Được tiếp cận kỹ thuật và thông tin đầy đủ, những cánh rừng gỗ lớn ngày càng vươn xa, mở ra sinh kế dài lâu cho người vùng cao.

Đợi một cánh rừng lớn lên có thể mất hơn mười năm. Nhưng ý nghĩa hơn cả là người dân Bảo Ái đã tin rằng: giữ rừng lâu hơn chính là giữ lại cơ hội làm giàu bền vững cho chính mình.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Những cột điện, đường dây điện quốc gia hôm nay đã vươn tới các thôn bản vùng cao của xã Lâm Giang. Nguồn điện ổn định đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho người dân. Tuy nhiên, phía sau những công trình đã phát huy hiệu quả nhiều năm vẫn còn một tồn tại kéo dài: hàng trăm hộ dân đã hiến đất, chặt bỏ cây trồng để phục vụ dự án nhưng đến nay vẫn chưa được chi trả tiền bồi thường theo quy định.

Từ hào khí Phố Ràng đến khát vọng phát triển

Từ hào khí Phố Ràng đến khát vọng phát triển

77 năm đã qua nhưng Chiến thắng Phố Ràng (26/6/1949) vẫn là niềm tự hào của Nhân dân các dân tộc trên quê hương Bảo Yên. Trên mảnh đất lịch sử ấy, truyền thống cách mạng năm xưa đang tiếp tục được các thế hệ hôm nay gìn giữ, phát huy bằng khát vọng dựng xây quê hương ngày càng giàu đẹp.

Yên Bình tăng cường kiểm soát môi trường tại các cơ sở công nghiệp và bến bãi

Yên Bình tăng cường kiểm soát môi trường tại các cơ sở công nghiệp và bến bãi

Những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển công nghiệp và sản xuất vật liệu xây dựng, xã Yên Bình trở thành địa bàn tập trung nhiều cơ sở chế biến đá, bãi tập kết hàng hóa và bến thủy nội địa. Sự phát triển này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho lao động địa phương, song cũng kéo theo nhiều áp lực về môi trường gây ảnh hưởng đến đời sống người dân.

Gỡ “điểm nghẽn” giao thông nông thôn ở Lào Cai

Gỡ “điểm nghẽn” giao thông nông thôn ở Lào Cai

Những ngày đầu tháng 4, người dân phấn khởi hiến đất, góp công và huy động máy móc san gạt mặt bằng, mong muốn sớm có các tuyến đường bê tông kiên cố, thuận tiện đi lại và đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, sau ít ngày triển khai, nhiều công trình buộc phải tạm dừng do vướng cơ chế đầu tư, thủ tục phức tạp và thiếu kinh phí đối ứng. Các tuyến đường được kỳ vọng tạo động lực phát triển khu vực nông thôn, miền núi hiện đứng trước nguy cơ chậm tiến độ nếu không sớm tháo gỡ các “điểm nghẽn”.

“Viên ngọc xanh” chờ được “đánh thức”

“Viên ngọc xanh” chờ được “đánh thức”

Ẩn sâu giữa đại ngàn vùng giáp ranh Púng Luông - Nả Háng (xã Chế Tạo), Tà Cây Đằng thuộc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải là nơi lưu giữ hàng nghìn cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Những cây pơ mu, thiết sam cổ không chỉ tạo nên giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học mà còn mở ra tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái. Tuy nhiên, làm thế nào để đánh thức “viên ngọc xanh” này mà không làm “tổn thương” màu xanh nguyên bản của đại ngàn vẫn là bài toán lớn đặt ra với địa phương.

Si Ma Cai nỗ lực hồi sinh vùng dược liệu tam thất

Si Ma Cai nỗ lực hồi sinh vùng dược liệu tam thất

Từng được xem là “cây tiền tỷ” của vùng cao Si Ma Cai, cây tam thất đã mở ra kỳ vọng về hướng phát triển kinh tế hiệu quả cho đồng bào các dân tộc nơi đây. Sau giai đoạn phát triển mạnh rồi dần thu hẹp diện tích vì nhiều nguyên nhân, chính quyền địa phương đang nỗ lực khôi phục loại cây dược liệu quý này, từng bước làm chủ kỹ thuật sản xuất, hướng tới xây dựng tam thất trở thành cây hàng hóa có giá trị kinh tế cao.

Tuyến đường hy vọng ở A Mú Sung

Tuyến đường hy vọng ở A Mú Sung

A Mú Sung là xã vùng cao biên giới đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai, với đường biên dài gần 26,8 km. Nhiều năm qua, mưa lũ, sạt lở khiến những tuyến đường nơi đây thường xuyên hư hỏng, việc đi lại của người dân gặp nhiều khó khăn. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đến nay đoạn đường biên giới từ thôn Lũng Pô đến thôn Phù Lao Chải (giáp địa phận xã Y Tý) dài 14km đang được mở rộng, bê tông hóa, góp phần đổi thay cuộc sống người dân vùng biên.

Sức sống mới ở Hồng Ngài

Sức sống mới ở Hồng Ngài

Hồng Ngài là bản Mông xa nhất xã Y Tý, cách trung tâm xã khoảng 20 km, giáp với địa phận huyện Phong Thổ cũ, tỉnh Lai Châu và huyện Kim Bình, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Trước đây, nhắc đến Hồng Ngài ai cũng ngại vì giao thông rất khó khăn, nhưng nay, bản xa đã mang một diện mạo mới, đời sống người dân thêm ấm no.

Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra

Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra

Tình trạng “bến dù, bến cóc” hoạt động tự phát, không phép hoặc hết phép, thiếu điều kiện an toàn đang đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý. Loạt bài "Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra" (3 kỳ) của Báo và Phát thanh, Truyền hình Lào Cai phản ánh, làm rõ thực trạng này.

Bài cuối: Cần những giải pháp toàn diện

Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra: Bài cuối: Cần những giải pháp toàn diện

Thực trạng hàng loạt bến thủy nội địa không phép, hết phép vẫn hoạt động tại nhiều địa phương đang đặt ra yêu cầu cấp bách trong công tác quản lý. Không chỉ dừng ở kiểm tra, xử lý vi phạm mà cần có giải pháp tháo gỡ những “điểm nghẽn” trong quy hoạch, đăng ký hoạt động bến thủy nội địa trên địa bàn tỉnh.

Bài 2: “Mắc kẹt” giữa nhu cầu và thủ tục

Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra: Bài 2: “Mắc kẹt” giữa nhu cầu và thủ tục

Sông Hồng, sông Chảy và các lòng hồ thủy điện trên địa bàn đang trở thành trục vận tải quan trọng của tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, phía sau sự nhộn nhịp là thực trạng nhiều bến thủy nội địa không phép, hết phép vẫn hoạt động kéo dài. Điều này đặt ra những vấn đề rất đáng quan tâm trong công tác quản lý. 

Bài 1: Bến không phép hoạt động tràn lan

Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra: Bài 1: Bến không phép hoạt động tràn lan

Cùng với sự phát triển của các tuyến vận tải đường thủy, trên sông Hồng, sông Chảy và khu vực các lòng hồ trong tỉnh đang hình thành mạng lưới bến thủy nội địa hoạt động sôi động mỗi ngày. Tuy nhiên, phía sau bức tranh nhộn nhịp ấy là tình trạng “bến dù, bến cóc” hoạt động tự phát, không phép hoặc hết phép, thiếu điều kiện an toàn kỹ thuật đang đặt ra thách thức lớn đối với công tác quản lý của chính quyền cơ sở và cơ quan chức năng.

Đảm bảo chính sách bảo vệ rừng không bị gián đoạn sau sáp nhập

Đảm bảo chính sách bảo vệ rừng không bị gián đoạn sau sáp nhập

Sau khi phương án quản lý, bảo vệ rừng gỗ nghiến, gỗ trai giai đoạn 2021 - 2025 kết thúc, lực lượng giữ rừng ở cơ sở vẫn duy trì tuần tra, bám rừng từng ngày. Từ thực tế địa bàn, điều địa phương, lực lượng kiểm lâm và người dân mong muốn lúc này là sớm có chủ trương duy trì chính sách đặc thù cho giai đoạn tiếp theo để công tác bảo vệ rừng quý tiếp tục được duy trì ổn định, không bị gián đoạn trong giai đoạn chuyển tiếp.

Điện về bản xa

Điện về bản xa

Ngày 21/4 vừa qua có lẽ là ngày vui và hạnh phúc nhất với người dân 4 thôn vùng cao: Làng Ca, Khe Kẹn, Pín Pé, Ba Chum (xã Cát Thịnh) khi điện lưới quốc gia về tới bản làng sau rất nhiều năm mong mỏi. Ánh sáng ấy mở ra nhiều cơ hội phát triển cho những bản làng còn gian khó.

Khám phá chợ đá quý Lục Yên

Khám phá chợ đá quý Lục Yên

Vùng đất ngọc Lục Yên, nơi được mệnh danh là “vương quốc đá quý” của Việt Nam. Đến đây, du khách sẽ lạc vào những gam màu lấp lánh của hàng nghìn viên đá quý trong phiên chợ đặc biệt - chợ đá quý. Phiên chợ mang trong mình những nét văn hóa độc đáo, khiến bất cứ ai ghé thăm cũng không khỏi tò mò và say mê.

fb yt zl tw