Cái nghèo vùng cao

YBĐT - Khi nói đến đời sống của đồng bào vùng cao, đặc biệt là đồng bào Mông ở hai huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải, người ta nghĩ ngay đến sự nghèo. Nhưng để trả lời cho câu hỏi. “Vì sao” lại là một hệ thống những vướng mắc ẩn trong từng câu chuyện, việc làm, đời sống của họ mà tựu chung lại vẫn là nghèo do thiếu hiểu biết, lười lao động...?

Sự nghèo ở vùng cao

Cách đây 3 đến 4 năm về trước, giữa cái gió vùng cao gào thét và từng cơn mưa phùn buốt lạnh, tôi cùng anh bạn đồng nghiệp lặn lội từ trung tâm huyện Trạm Tấu vượt trên 10 km đường gồ ghề, dựng đứng, trơn trượt hướng về các thôn, bản thuộc xã Bản Mù. Trong căn nhà tối om của Tráng A Su ở thôn Mông Đơ, người vợ trẻ đang cho con bú, thằng nhỏ chưa đầy 10 tháng tuổi giãy giụa, khóc nấc vì sốt. Đám trẻ con lít nhít, không quần áo, tóc đỏ hoe, mặt nhem nhuốc bên cái bếp lửa gần tàn với cái bụng lép kẹp sôi ùng ục.

Phía trước cửa nhà, phân trâu, bò be bét trộn với nước mưa bẩn thỉu và lầy lội, mùi hôi bốc lên khiến không khí thêm ngột ngạt. Gần đó, gia đình nhà Tráng A Tu thì sạch sẽ hơn vì chẳng có trâu, bò. Tu mình trần nằm trên phản bên cạnh đứa con gái chừng 3 tuổi không quần áo, đen nhẻm.

Lý giải cho sự nghèo và đông con nơi đây, anh Giàng A Mua - cán bộ chuyên trách dân số - KHHGĐ của xã cho biết: “Xã Bản Mù hiện có số hộ nghèo chiếm 65%. Đói nghèo chủ yếu do sinh đông con và những phong tục, tập quán lạc hậu”.

Cuối thu năm 2010, trời nắng đẹp, vượt qua suối Nậm Kim, chúng tôi ngược dốc hướng về thôn Tà Chơ, xã Chế Cu Nha (Mù Cang Chải) đến thăm gia đình Khang A Ninh. Anh Ninh có 6 đứa con, 1 trai 5 gái, cách mấy bận, thằng nhỏ bị ốm, không đưa xuống trạm cứu chữa mà nhờ thầy cúng ma đến nhà và kết quả thằng bé 3 tháng tuổi đã chết. Mong muốn của gia đình: “Dù có phải nộp phạt bao nhiêu thì vẫn quyết tâm đẻ thêm 1 thằng cu để nối dõi”. Không biết là hậu quả đông con ra sao nhưng nhìn gia đình Ninh thì cái đói hiện rõ trên từng lỗ thủng của nóc nhà, cái giường ọp ẹp và bầy con chẳng đủ quần áo mặc.

Chị Giàng Thị Sông - Trưởng thôn Tà Chơ (có 6 năm làm cộng tác viên dân số) cho biết: “Một bộ phận không nhỏ người Mông đông con. Họ đẻ với một nhu cầu phục vụ lao động và khi hỗ trợ gạo cứu đói sẽ được nhiều hơn. Đông con thì nghèo là đương nhiên rồi”.

 Sau hai ngày ở Tà Chơ, chúng tôi quyết định trở lại trung tâm xã Chế Cu Nha và một cuộc hành trình ngược dốc đến thôn Háng Chua Mua, Chống Tông. Mặc dù, trời nắng chang chang nhưng do cơn mưa đêm trước nên một số đoạn đường bị sạt nở phải mất gần 3 giờ đồng hồ chúng tôi mới đến được nhà chị Sùng Thị Mua ở thôn Chống Tông. Mới gần 40 tuổi mà chị Mua đã có 6 người con, đứa nhỏ nhất 2 tuổi, gia đình thiếu ăn từ 4 đến 5 tháng là bình thường.

Năm 2011, trở lại huyện Mù Cang Chải, chúng tôi hành trình đến các thôn Háng Bla Ha A và Háng Bla Ha B thuộc xã Khau Mang. Chưa đầy 6 giờ sáng, chúng tôi và anh Lù A Páo - cán bộ Trung tâm DS - KHHGĐ huyện đã có mặt tại gia đình Vàng A Chu và Lù Thị Dề - một trong những gia đình đông con và nghèo đói nhất thôn Háng Bla Ha B.

Chị Dê tâm sự: “Gia đình có 14 người nên đói lắm, thiếu ăn từ 4 đến 5 tháng là bình thường. Những khi đói, người lớn đi làm thuê, hoặc lên rừng kiếm củ mài, cái rau ăn qua bữa. Rau rừng là chủ yếu, ít khi có những món ăn khác, không thì chỉ có măng và muối”.

Mới đây nhất là tháng 10/ 2012, chúng tôi trở lại huyện Mù Cang Chải. Lần này là những câu chuyện về “đẻ dự phòng” và việc rà soát hộ nghèo từ cơ sở còn nhiều khó khăn vướng mắc, hay việc bình xét gia đình sinh 2 con có kinh tế trung bình với gia đình đông con kinh tế tương đương, song khi bình xét, chia bình quân đầu người thì hộ 2 con không phải hộ nghèo nên không được hỗ trợ, trong khi họ lại thực hiện tốt các chính sách dân số và tỷ lệ hộ nghèo nơi đây vẫn chiếm trên 70%. Sinh con thứ 3 trở lên, từ đầu năm 2012 đến nay toàn huyện Mù Cang Chải có 193 trường hợp. So với năm 2011 có giảm nhưng tỷ lệ này vẫn cao.

Trẻ em vùng cao xã Chế Cu Nha (Mù Cang Chải).

 Nguyên nhân

Trong quá trình tìm hiểu nguyên nhân cái nghèo ở vùng cao, ngoài những dẫn chứng nói trên, chúng tôi còn phát hiện ra khá nhiều lý do khác như: tập quán về nhà ở, người Mông vùng cao thường làm nhà ở các sườn đồi núi gần lưng chừng đỉnh để tiện cho việc đi làm nương rẫy, lấy củi; nhà làm thấp mái, lịa gỗ xung quanh nên rất tối tăm… Vào mùa mưa lũ rất hay bị sạt lở đất và nguy hiểm đến tính mạng, tài sản; gia súc, trâu, bò, lợn thường thả rông hoặc chuồng trại thường sát ngay cạnh nhà gây không khí ô nhiễm và trâu bò đuối nước, có khi rơi xuống vực.

 Thêm nữa, do người Mông có phong tục uống nước lã, vệ sinh môi trường không đảm bảo nên tỷ lệ người mắc các bệnh về tiêu chảy, hội chứng lỵ và tỷ lệ chị em các bệnh phụ khoa cao. Khi có người ốm, họ ít khi chuyển xuống các trạm y tế, nếu có ốm nặng thì mời thầy cúng hoặc dùng các bài thuốc tự chế của đồng bào. Nhiều trường hợp ốm quá nặng, mới chuyển về trạm nhưng khi điều trị chỉ 2 đến 3 ngày là tự ý bỏ về.

Do canh tác chủ yếu là nương rẫy, làm ruộng bậc thang nên người Mông thích đẻ nhiều con, đặc biệt là con trai để làm nhiều việc nhưng do công tác chăm sóc không đảm bảo nên tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng khá cao. Khi được vận động sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, một số chị em đi để “lấy tiền chế độ” nhưng khi về chỉ hai, ba ngày sau họ lại tự ý tháo bỏ. Người Mông thường cúng ma khi ốm đau, cúng ma khô khi người chết được 3 đến 5 năm. Khi có người chết, họ để vậy từ 5 đến 7 ngày, hiện nay còn 3 đến 4 ngày, người nhà mời thầy mo đến cúng ma.

Họ cho rằng thầy cúng nói chuyện riêng với ma bằng một thứ ngôn ngữ riêng nên ma đòi mổ con gì thầy cúng sẽ yêu cầu chủ nhà sắm thứ đó, như: gà, chó, lợn, dê, trâu bò, vịt trắng thì có nghèo thế nào cũng phải cố vay mượn mà sắm lễ. Nếu không có, thầy mo sẽ bảo ma phật ý, ma không bằng lòng dân làng sợ bỏ về hết không ai giúp đỡ đưa người chết đi chôn, vì vậy gia đình phải bán hết ruộng, nương để đổi lấy các đồ lễ rất tốn kém. Vì vậy, sau mỗi lần gia đình có người mất thì họ lại trở nên nghèo đói, thiếu thốn hơn.

Đối với tập quán về hôn nhân, đám cưới người Mông thường diễn ra trong 2 ngày ăn thịt, uống rượu, chú rể phải uống một hơi hai bát rượu và 2 miếng thịt mỡ to bằng bàn tay khổ dày. Đám cưới cả 2 họ, mỗi bên tiêu tốn khoảng 100 lít rượu, 100 cân thịt lợn và vài triệu đồng tiền mặt. Người Mông có phong tục cứ khác họ là lấy được nhau nên vấn đề hôn nhân cận huyết thống là phổ biến như con anh trai lấy con em cô cũng được vì khác họ.

Mặt khác, từ khi người Mông định cư tại Mù Cang Chải, toàn huyện chỉ có trên chục nóc nhà cũng là anh em họ hàng cho đến nay gần 5 vạn dân, xét về gốc tích thì cũng không xa là mấy; việc xây dựng hương ước, quy ước hiện nay theo quy định của UBND xã nhưng việc thực hiện chấp hành cũng chưa tốt như việc cưới, việc tang, không sinh con thứ 3. Bên cạnh những gia đình người Mông chịu khó lao động thì vẫn còn nhiều hộ có tư tưởng trông chờ, ỷ lại, sống phụ thuộc vào trợ cấp gạo cứu đói và các chương trình hỗ trợ của Nhà nước qua từng năm.

Giải pháp

Theo tiêu chí đánh giá sự phát triển thì Mù Cang Chải là huyện nghèo và đặc biệt khó khăn (đến hết ngày 31/12/2010, tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 80% và là một trong 62 huyện nghèo nhất trong cả nước theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững cho các huyện nghèo nhất nước), khoảng cách chênh lệch còn khá xa so với các huyện khác trong tỉnh. Sản xuất, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn và còn nhiều vấn đề cần giải quyết.

Để giải quyết bài toán nghèo của Mù Cang Chải nói riêng và các xã vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh nói chung thì việc tăng cường đầu tư, xóa đói, giảm nghèo một cách bền vững là rất cần thiết.

 Ông Ngô Thanh Giang - Bí thư Huyện ủy Mù Cang Chải cho biết: “Huyện đã thực hiện nhiều biện pháp tuyên truyền, vận động bà con nhân dân định canh, định cư, phát triển kinh tế gia đình, hỗ trợ về kỹ thuật, đầu tư con giống, hướng dẫn làm ruộng nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm, làm vườn rau, cây ăn quả, phát triển làng nghề thủ công truyền thống, chuyển dần sang sản xuất hàng hóa theo quy hoạch chung của huyện; vận động nhân dân trồng rừng phòng hộ, trồng cây công nghiệp, cây đặc sản, cây dược liệu để tăng thu nhập cải thiện đời sống. Tuy vậy, khó khăn vẫn còn nhiều vì nhận thức của người dân còn chậm”.

Có thể nói, việc củng cố hệ thống chính trị cơ sở, phát triển văn hóa xã hội, giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chống lại âm mưu phá hoại của kẻ địch ở vùng đồng bào dân tộc Mông, xây dựng làng bản văn hóa, làng văn hóa - sức khỏe... là những việc có tầm quan trọng đặc biệt. Từ đó khơi dậy ý thức, trách nhiệm của người dân đối với chính bản thân họ, gia đình, cộng đồng và xã hội.

Mặt khác, do người Mông sinh sống ở vùng núi cao, dốc, thường thiếu nước sinh hoạt, chưa có thói quen vệ sinh môi trường nên giải pháp là hướng dẫn họ làm vệ sinh nhà ở, đảm bảo cung cấp đủ nước sạch, tuyên truyền, hướng dẫn, vận động vệ sinh môi trường, cải tạo, vệ sinh nhà đảm bảo môi trường sống trong nhà sạch sẽ, thông thoáng, đủ ánh sáng; không thả rông gia súc; không cúng ma khi có người ốm; không để người chết lâu trong nhà; không tảo hôn; không kết hôn cận huyết thống; đẩy mạnh các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe; tổ chức các lớp tập huấn kiến thức tại cộng đồng; thực hiện tốt chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em; phát triển mạng lưới trường mẫu giáo, mầm non; đào tạo nghề, tạo việc làm tại chỗ tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho đồng bào vùng cao...

Trần Ngọc - Thiên Cầm

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Cẩn trọng mở rộng diện tích cây cà phê ở Lào Cai

Cẩn trọng mở rộng diện tích cây cà phê ở Lào Cai

Thời gian gần đây, tại một số xã thuộc khu vực Bảo Yên, Mường Khương, Bắc Hà, Bảo Thắng, người dân đã và đang trồng thử nghiệm cây cà phê. Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích trồng cà phê một cách tự phát, không theo quy hoạch tại các khu vực có điều kiện sinh thái không phù hợp, đang đặt ra nhiều thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao trong sản xuất nông nghiệp.

Thu hẹp khoảng cách phát triển sau hợp nhất

Thu hẹp khoảng cách phát triển sau hợp nhất

Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, các xã, phường trên địa bàn tỉnh đang đối mặt với nhiều thách thức trong thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các khu vực. Mỗi xã, thôn đều có những đặc điểm riêng về địa lý, kinh tế - xã hội, dẫn đến sự chênh lệch về mức sống và trình độ phát triển. Để giải quyết vấn đề này, các địa phương triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm hài hòa lợi ích, phát triển bền vững và khai thác hiệu quả tiềm năng từng vùng.

Một góc thôn Bỗng 2 nhìn từ trên cao.

Bản Dao đoàn kết

Nhắc đến thôn Bỗng 2, xã Bảo Hà, nhiều người vẫn còn nhớ đó là thôn người Dao nằm khuất sâu giữa núi rừng rậm rạp, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn do thiếu sinh kế phù hợp. Tuy nhiên, với việc xác định cây quế là cây trồng chủ lực mang lại giá trị kinh tế cao, địa phương đã từng bước chuyển mình mạnh mẽ, trở thành điểm sáng trong phát triển kinh tế. Hành trình thoát nghèo của người dân nơi đây đã thể hiện tinh thần đoàn kết của cộng đồng, tạo sức lan tỏa cùng nhau phát triển.

Lào Cai: Quan tâm bảo vệ môi trường mùa lễ hội xuân

Lào Cai: Quan tâm bảo vệ môi trường mùa lễ hội xuân

Sau Tết Nguyên đán, các địa phương trong tỉnh rộn ràng bước vào mùa lễ hội xuân truyền thống. Qua những lễ hội đã diễn ra, phóng viên ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực khi công tác bảo vệ môi trường được các cấp chính quyền, ngành chức năng, người dân và du khách quan tâm hơn, góp phần gìn giữ không gian lễ hội văn minh, bền vững.

Bừng sáng tương lai sau lũ dữ

Bừng sáng tương lai sau lũ dữ

Ngày đầu năm, trong ánh nắng dịu nhẹ, chúng tôi trở lại những khu tái định cư - nơi từng oằn mình chịu đau thương sau những trận lũ dữ. Những ngôi nhà mới khang trang, những tuyến đường bê tông phẳng lì và những nương quế xanh mướt trải dài đã làm nên bức tranh hồi sinh đầy hy vọng. Đó không chỉ là thành quả từ sự hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và các nhà hảo tâm, mà còn là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên của cộng đồng.

Bình yên An San

Bình yên An San

65 năm qua, An San không chỉ là nơi lưu giữ ký ức của những ngày đầu gian khó mà còn là biểu tượng của sự gắn bó, đoàn kết và phát triển.

Suối Xuân bừng sáng xuân này

Suối Xuân bừng sáng xuân này

Suối Xuân là thôn đặc biệt khó khăn của xã Phình Hồ. Nơi thôn 100% người Mông sinh sống này, bao năm qua vẫn quen với bóng tối khi đêm xuống. Thế nhưng mùa xuân này đã khác, điện lưới quốc gia đã về tới Suối Xuân. Tết ở  thôn người Mông này vì thế cũng bừng sáng, rộn ràng hơn bao giờ hết!

Ngày mới ở Tân Tiến

Ngày mới ở Tân Tiến

Những ngày này, thôn Tân Tiến, xã Gia Phú như một đại công trường. Các dự án trọng điểm như đường Trần Hưng Đạo kéo dài, Dự án tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng hay Dự án hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp Thống Nhất đều đang được đẩy nhanh tiến độ. Cả vùng quê Tân Tiến đang chuyển mình, mang theo hy vọng về diện mạo mới, hiện đại và phát triển.

Đón xuân sớm ở Abyei

Đón xuân sớm ở Abyei

Giữa bụi đỏ mịt mù và cái nắng như đổ lửa của vùng đất Abyei, những ngày cuối năm đối với những người lính mũ nồi xanh Việt Nam đang làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình tại đây trở nên bận rộn hơn bởi không khí chuẩn bị đón Tết cổ truyền. Trong doanh trại của Đội Công binh số 4 Việt Nam tại Phái bộ An ninh lâm thời Liên hợp quốc ở Abyei (UNISFA), không khí chuẩn bị đón Tết cổ truyền đang lan tỏa khắp nơi.

Nắng ấm Bản Giàng

Nắng ấm Bản Giàng

Nằm cheo leo trên sườn núi cao và xa nhất xã Pa Cheo cũ (nay là xã Bản Xèo), thôn Bản Giàng là nơi sinh sống của hơn 50 hộ đồng bào Mông. Xuân mới Bính Ngọ 2026, Bản Giàng có thêm ngôi trường mới khang trang, đồng bào vùng cao tích cực phát triển kinh tế, mở ra trang mới đầy tươi sáng.

Xuân mới Nhìu Cù San

Xuân mới Nhìu Cù San

Trong các thôn, bản của xã Sàng Ma Sáo cũ (nay là xã Dền Sáng), Nhìu Cù San từng là nơi xa xôi, cách trở nhất. Chỉ ba năm trước, việc đi lại còn đầy gian nan. Trở lại hôm nay, chúng tôi cảm nhận rõ niềm vui hiện hữu trên gương mặt đồng bào Mông khi tuyến đường vào thôn đang được mở rộng, trải nhựa. Đặc biệt, mùa xuân 2026, hàng chục hộ dân nơi đây sẽ đón Tết trong ngôi nhà mới kiên cố, an toàn dưới chân núi “sừng trâu”.

Quyết tâm đưa dự án về đích đúng hẹn

Dự án nâng cấp cao tốc Nội Bài - Lào Cai: Quyết tâm đưa dự án về đích đúng hẹn

Dự án nâng cấp cao tốc Nội Bài - Lào Cai, đoạn qua tỉnh Lào Cai từ 2 lên 4 làn xe dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2026. Trên toàn tuyến, những ngày đầu năm, không khí thi công diễn ra khẩn trương, sôi động. Các nhà thầu đang huy động tối đa nhân lực, máy móc, tổ chức thi công đồng loạt nhiều mũi, quyết tâm đưa dự án về đích đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng.

Đổi thay vùng đất ven sông Chảy

Đổi thay vùng đất ven sông Chảy

Vùng đất ven sông Chảy thuộc thôn Hàm Rồng, xã Phúc Khánh, là nơi gắn bó của những hộ dân đã rời quê hương, nhường đất để xây dựng công trình thủy điện Thác Bà 60 năm trước. Từ những ngày đầu gian khó, đến nay vùng đất này đã khoác lên mình một diện mạo mới, minh chứng cho sự nỗ lực vượt khó và tinh thần đoàn kết của người dân nơi đây.

Thực trạng hoạt động các trạm dừng nghỉ trên cao tốc Nội Bài – Lào Cai (đoạn qua tỉnh Lào Cai)

Thực trạng hoạt động các trạm dừng nghỉ trên cao tốc Nội Bài – Lào Cai (đoạn qua tỉnh Lào Cai)

Thời gian qua, hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ tại một số trạm dừng nghỉ trên tuyến cao tốc Nội Bài – Lào Cai, đoạn qua tỉnh Lào Cai, phát sinh nhiều tồn tại về chất lượng dịch vụ, vệ sinh môi trường, ảnh hưởng đến quyền lợi người tham gia giao thông, gây dư luận không tốt. Trước thực trạng này, Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) đã chính thức đề nghị các cơ quan chức năng tỉnh Lào Cai phối hợp kiểm tra, xử lý dứt điểm.

Niềm vui mới trên núi Láo Vàng

Niềm vui mới trên núi Láo Vàng

Chỉ còn hơn một tháng nữa là đến Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, những ngày này, ở vùng lũ Phìn Ngan, xã Bát Xát, nhiều hộ đồng bào Dao đỏ đang khẩn trương di chuyển nhà đến nơi ở mới - khu tái định cư Láo Vàng. 

Xây dựng vùng cây ăn quả ôn đới gắn với sản phẩm OCOP

Xây dựng vùng cây ăn quả ôn đới gắn với sản phẩm OCOP

Nằm ở vùng đất thượng nguồn sông Chảy, xã Si Ma Cai và Sín Chéng nổi tiếng có phong cảnh đẹp, đặc biệt là vựa hoa quả ôn đới của tỉnh. Ngày đầu năm mới 2026, khi những cành hoa lê, hoa mận đang chúm chím nụ chào đón xuân về, chúng tôi có dịp đến với vùng đất lưu dấu ngựa thần để “mục sở thị” câu chuyện phát triển vùng cây ăn quả ôn đới trên núi đá tai mèo.

Bài ca nơi thượng nguồn sông Hồng

Bài ca nơi thượng nguồn sông Hồng

Đứng trên đỉnh đèo, phóng tầm mắt về phía thượng nguồn, tôi lặng nhìn dòng sông Hồng uốn lượn từ Trung Quốc chảy vào đất Việt. Khoảnh khắc ấy, tôi chợt hiểu vì sao người ta vẫn gọi thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung, là “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”.

Phụ nữ Cao Sơn viết tiếp câu chuyện đổi thay

Phụ nữ Cao Sơn viết tiếp câu chuyện đổi thay

Chúng tôi đến Cao Sơn trong một buổi sớm vùng cao còn bảng lảng sương mây và dễ dàng cảm nhận được những đổi thay đang hiện hữu trong từng nếp nhà, từng con đường nhỏ dẫn vào thôn bản; những ngôi nhà khang trang, những nương chè, nương ngô xanh mướt và hơn cả là sự đổi thay trong nếp nghĩ, cách làm của phụ nữ vùng cao.

Bước từng bước nhỏ để đi đến hành trình lớn

Phụ nữ Mường Khương: Bước từng bước nhỏ để đi đến hành trình lớn

Từ những người phụ nữ vùng cao quen với nương rẫy, bếp núc, ít nói, ít ra khỏi bản làng, phụ nữ Mường Khương hôm nay đang từng bước thay đổi. Không ồn ào, không vội vã, sự chuyển mình ấy diễn ra lặng lẽ nhưng bền bỉ - qua những mô hình kinh tế do phụ nữ làm chủ, những buổi sinh hoạt hội hay từng cú “chạm” đầu tiên với công nghệ, thị trường và tri thức mới. Những bước đi nhỏ ấy đang góp lại thành một hành trình lớn.

Khẩn trương khắc phục tình trạng thiếu nước ở vùng trồng rau Tuy Lộc

Khẩn trương khắc phục tình trạng thiếu nước ở vùng trồng rau Tuy Lộc

Vùng đất bãi Tuy Lộc ven sông Hồng trải rộng trên 6 tổ dân phố của phường Nam Cường (trước đây là xã Tuy Lộc, thành phố Yên Bái cũ) là vùng trồng rau lớn cung cấp cho các phường đô thị trung tâm của tỉnh Lào Cai hiện nay. Tuy nhiên, thời điểm này, bước vào thời điểm mùa hanh khô, hàng chục ha rau màu đang đối mặt với tình trạng thiếu nước tưới; nếu không có giải pháp khắc phục sớm, nguy cơ mất mùa là khó tránh khỏi.

fb yt zl tw