LCĐT - 5 giờ, trời mờ sáng, chúng tôi dựng xe ở bìa rừng. Dải mây vắt ngang hông núi trầm mặc và kiêu hãnh dường như chưa muốn thức giấc. Anh Tẩn Phù Vần ngước lên cao rồi quay sang nhìn chúng tôi hỏi: “Xa lắm đấy, có leo nổi không?” và nhận được câu trả lời là cái gật đầu đầy quyết tâm. Hành trình chinh phục đỉnh Sừng Trâu để khám phá vùng “rừng tỏi tiên” của chúng tôi bắt đầu.
>>> Bài 1: Những câu chuyện kỳ bí
Vượt núi
Đỉnh núi Sừng Trâu cao gần 2.700 m so với mực nước biển, đứng sừng sững ở phía tây Tỉnh lộ 158, huyện Bát Xát. Từ nhiều đời nay, đỉnh núi đã như một bức tường thành vững chãi chở che cho các bản làng. Thẳng tiến vào rừng già, trên tay cầm dao phát, lưng đeo ba lô với đầy đủ tư trang và lương thực dự trữ, đỉnh Sừng Trâu trở thành thử thách lớn đối với chúng tôi.
Bị ảnh hưởng qua 3 mùa đông tuyết rơi dày, những nương thảo quả đang trong thời kỳ tái sinh, lối vào rừng vắng bước chân người, nên mọc đầy cỏ dại, dây gai chằng chịt. Để giữ sức, 4 chúng tôi âm thầm đi và ít trò chuyện. Anh Vần và anh Tả đi trước dẫn đường, cảnh báo cho chúng tôi từng mỏm đá trơn trượt, từng “cái bẫy” vô tình được tạo ra do đám thực bì phủ lên các hốc cây, kẽ đá.
Gian nan chinh phục đỉnh Sừng Trâu.
Sau 3 tiếng đồng hồ đi bộ ròng rã, chúng tôi dừng chân bên một con suối nhỏ. Anh Tả lấy đầy nước vào những chiếc chai nhựa mang theo. Vừa dừng chân, đàn muỗi bám theo chúng tôi vo ve như bầy ong. Mặt trời đã bắt đầu tỏa những tia nắng đầu tiên, nắng lọt qua đám lá, chiếu lấp lánh trên những tán cây thảo quả. Anh Tả rất tự hào về các cánh rừng bởi rừng như người mẹ, nuôi sống bao nhiêu thế hệ và cũng bởi thế, người Dao giữ rừng, yêu rừng, bước vào rừng là thấy quen thân, tươi vui đến lạ. Chúng tôi nối thành hàng cứ thế bám theo nhau mà đi. Càng vào sâu, rừng càng rậm rạp, nắng yếu hơn, thỉnh thoảng sương mù sà xuống che khuất lối đi. Những bụi cây vươn “cánh tay” đầy gai, găm đầy lên áo quần, ba lô. Anh Vần chặt một cây nhỏ, vót thành chiếc gậy đưa chúng tôi để di chuyển dễ dàng hơn. Con đường lên núi bởi thế như dài thêm.
Buổi trưa, chúng tôi dừng chân bên một lán thảo quả bỏ hoang giữa rừng. Anh Vần nhóm lửa nấu mì tôm, còn anh Tả loanh quanh gần khe nước và kiếm rau rừng để “cải thiện”. Theo lời các anh, từ vị trí này, đường bắt đầu khó đi và rất nguy hiểm do độ dốc cao, người dân không trồng thảo quả nữa. Ăn vội bữa trưa “dã chiến”, lấy thêm nước vào chai nhựa, chúng tôi tiếp tục hành trình vượt dốc lên đỉnh Sừng Trâu.
Đi tìm “rừng tỏi tiên”
Cây cối thấp dần, rừng rậm rạp và dần khó đi hơn nhiều. Những bụi trúc lùn ken cứng, cây gai chằng chịt và gai sắc hơn. Anh Tả giải thích: “Trên núi này, cây cối đều rất cứng, đủ sức chống lại gió ngàn, sương muối và mưa tuyết mỗi năm”. Chúng tôi vạch từng bụi trúc để tìm lối đi mà chẳng thấy bóng của người đi trước dù nghe tiếng sột soạt rất gần. Anh Tả, người đi đầu tiên bỗng đạp phải bẫy thú, may là bẫy chỉ ngoạm được giầy, nếu vào cổ chân thì chắc chắn chúng tôi phải đưa anh trở về để cấp cứu.
Dừng chân trên một đỉnh núi cao, từ đây nhìn xuống thôn Ngải Chồ - nơi anh Tả sinh sống chỉ là những ngôi nhà lô nhô, trông xa như những cây nấm. Nhìn ngắm quê hương từ trên cao, các anh tự hào rằng, người Dao, người Mông nơi đây đã chinh phục thiên nhiên để sống yên bình và giữ từng tấc đất. Tự hào rằng sức người nhỏ bé mà đã chinh phục bao đỉnh núi như Nhìu Cồ San, Ky Quan San, Lử Thẩn, Sừng Trâu... Chúng tôi tiếp tục bám theo từng mỏm đá chênh vênh, dưới là vực sâu hun hút, xuyên qua từng lùm cây để đi tìm “rừng tỏi tiên”. Anh Tả dẫn đường theo trí nhớ. Dưới vết chân của chính mình, chúng tôi bất giác ngửi thấy mùi tỏi thơm. Anh Tả reo lên: “Đến rồi, đến “rừng tỏi tiên” rồi”.
Tỏi mọc nhiều trên đỉnh Sừng Trâu.
Theo thiết bị định vị chúng tôi mang theo, tỏi mọc tự nhiên từ độ cao 2.600 m so với mặt nước biển, xen kẽ giữa những lùm cây gai nhỏ. Đất phủ trên đá nơi núi cao này là thứ đất mùn màu mỡ, tơi xốp cho tỏi ngự trị. Tỏi mọc thành bãi lớn, phân bố rải rác khoảng 2 - 3 ha, cao ngang đầu gối, xanh non, mỡ màng như có người chăm bón lâu ngày. Người dẫn đường nhanh tay dùng con dao mang theo đào một cây tỏi lớn đưa cho chúng tôi xem thử.
Theo quan sát của chúng tôi, giống tỏi trên đỉnh Sừng Trâu rất lạ, thân lớn bằng ngón tay cái, gốc tía, củ nhỏ, mọc rất sâu với bộ rễ khỏe, chắc chắn đâm xuyên lớp đất mùn bám chặt vào đá núi, phía trên là nhánh dài vài gang tay, xanh mướt. Bóc lớp vỏ dính, thân tỏi lộ ra màu trắng pha tía lạ mắt, mùi tỏi thơm khiến chúng tôi không khỏi phấn khích. Cảm nhận đầu tiên khi nhai thử một miếng tỏi rừng này là vị cay nồng cùng mùi thơm xộc lên khoang mũi. Sau khi nhai và nuốt hết, khoang miệng không còn cay nồng mà dần dịu xuống, thay vào đó là vị ngọt hậu nơi cuống họng, mọi mệt mỏi của chuyến chinh phục gần như tan biến hết trong chúng tôi. Chẳng trách các cụ cao niên trong làng kể rằng: “Xưa kia, người đi rừng bị lạc phải ở lại trên đỉnh Sừng Trâu có thể sống nhiều ngày mà vẫn khỏe, dù không có lương thực mang theo nhờ ăn giống tỏi quý này”.
Hít đầy lồng ngực hương tỏi thơm trong gió, chúng tôi leo lên đá, qua vực cao, dốc đứng để tới đỉnh núi, tìm dấu vết ao tiên thời xa xưa. Đến nơi, anh Tả chỉ cho chúng tôi vùng trũng lớn như lòng chảo, cây cối mọc lên thưa thớt. Anh tiếc rẻ: “Đấy, giá mà còn nước thì chúng ta lạc vào tiên cảnh rồi. Tiếc là giờ đây hồ nước chỉ còn lại dấu vết này để người Dền Sáng kể lại cho nhau nghe…”.
Chiều, chúng tôi vội vã thu xếp đồ đạc để xuống núi bởi “mặt trời lặn nhanh như có ai lấy tấm khăn lớn trùm vào”. Anh Vần nói câu gì đó bằng tiếng Dao như để “xin” thần núi cho người dân mang tỏi trở về rồi bỏ vài nhánh tỏi vào túi. Những bước chân bắt đầu rã rời nhưng ai nấy trong chúng tôi đều rộn ràng vì đã lên đỉnh Sừng Trâu thành công và thành quả là những nhánh tỏi thơm, hơi khí đất trời căng tràn trong huyết quản.
Chúng tôi trở về đến chiếc lán đã nghỉ ban trưa khi trời sập tối, vội vã phân công nhau nhóm lửa, chuẩn bị đồ ăn, chỗ ngủ an toàn sau hành trình mệt mỏi. Anh Vần tự hào: “Vậy là có thêm một kỷ lục mới khi có thể trở về từ đỉnh núi vào giờ này, trước đây đi tìm rừng tỏi phải mất đến 2 - 3 ngày”. Nói rồi anh cầm chiếc đèn pin lần theo những tiếng “ộp oạp” gần khe nước để soi ếch rừng.
Tối hôm đó, chúng tôi ăn cơm với rau rừng, với “tỏi tiên” mang theo và mầm thảo quả non băm nhỏ. Các anh tươi cười đùa vui: “Phải ăn cho hết không là quên lối về thành phố”. Uống với nhau đôi, ba chén rượu cho ấm bụng, những người đàn ông chân đất thật thà kể cho chúng tôi nghe về câu chuyện sinh tồn của người vùng cao, về niềm tự hào với rừng thiêng, với núi non hùng vĩ. Những câu chuyện trong bữa ăn đơn sơ giữa chốn “rừng thiêng, nước độc” khiến chúng tôi thấy tình người, thấy sức mạnh của đôi tay, sự kiên cường của những đôi chân là điều tuyệt vời nhất, đó mới là sức mạnh để chinh phục đỉnh Sừng Trâu, tìm đến “rừng tỏi tiên”.
Đêm, mưa rừng rơi lách tách trên tấm tôn lợp cũ của lán thảo quả bỏ hoang, chúng tôi chìm vào giấc ngủ giữa rừng già, chờ mai trời sáng sẽ trở về thành phố, mang theo nhiều điều thú vị trong hành trình khám phá “rừng tỏi tiên”.