Đi trẩy nước non

“Con cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo đưa chồng nước mắt nỉ non; Nàng về nuôi cái cùng con/ Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng” là ca dao cổ có từ khoảng thế kỷ XVII, có lẽ do những chinh phu đi quân dịch và chiến đấu cho nhà Mạc làm nên. GS-TS Phan Đăng Nhật khi khảo cứu về câu ca gánh gạo (đảm mễ chi dao) này của chặng đường ròng rã hơn 300km từ Thăng Long lên Cao Bằng cho rằng, còn có 5 dị bản và 14 tiểu dị bản.

Có dị bản sửa: “Để anh gánh vác nước non Cao Bằng”; hoặc thêm: “Để anh đi trẩy nước non kịp người/ Cho kịp chân ngựa chân voi/ Cho kịp chân người kẻo thiếu việc quan”; hoặc thêm: “Ngày đi trúc chửa mọc măng/ Ngày về trúc đã cao bằng ngọn tre/ Ngày đi lúa chửa chia vè/ Ngày về lúa đã đỏ hoe đầy đồng”; hoặc thêm: “Ở nhà có nhớ anh chăng/ Để anh kể nỗi Cao Bằng mà nghe”. Ông cho rằng, đây không phải là những tiếng than van hờn giận oán sầu, mà là những tâm tình thắm thiết của những người đi xây dựng căn cứ Cao Bằng chống lại sự thống trị hà khắc thời Lê mạt được phổ thành lời, cho thấy nhà Mạc rất được nhân dân thời ấy yêu quý, ủng hộ sự nghiệp, tin theo tự nguyện và lâu dài, ở miền xuôi cũng như miền núi. “Công minh lịch sử đem lại cho con em trăm họ niềm vui, lòng quý trọng và tình thương yêu nhau” - ông nhận định.

Hái chè trên triền núi cao Phja Đén - Phja Oắc.
Hái chè trên triền núi cao Phja Đén - Phja Oắc.

Sau nhiều lỗi hẹn, lần đầu tiên tôi “đi trẩy nước non”. Còn nhớ một bài báo xuất bản từ lâu lắm viết rằng, “Cao Bằng có nghĩa là lên cao thì bằng”. Quả vậy, sau khi xe qua miền Bắc Kạn, ngược lên cao mãi tới đỉnh Đèo Gió (Ngân Sơn), đường bắt đầu bằng dần trở lại, chỉ còn là những đợt sóng nhẹ nhấp nhô uốn lượn cho tới tận thủ phủ trung tâm. Đương dịp cuối xuân đầu hạ nên ven đường dễ bắt gặp cả hoa ban và hoa gạo, còn khẽ điểm đây đó là những đọt trắng non mơn mởn của thông mã vĩ chồi lên dài tới cả gang tay không lẫn vào đâu giữa mênh mông xanh đồi núi.

1.Ngay từ 1884, sau khi chiếm thành Hà Nội, quân Pháp đã tìm thấy một tài liệu bằng chữ Hán thống kê các mỏ khoáng sản của Việt Nam. Chiếm được Cao Bằng cuối năm 1886, Pháp bắt tay ngay vào việc nghiên cứu 4 mỏ vàng và 4 mỏ sắt trong tài liệu nêu trên. 10 năm sau, người Pháp nhận ra rằng, dãy núi Phja Oắc phía tây Cao Bằng là vùng đa kim loại, có tiềm năng khoáng sản lớn chưa được khai thác, hoặc đã khai thác không đáng kể. Khi cơ bản bình định xong Bắc Kỳ, ngày 22.3.1897, Toàn quyền Paul Doumer gửi Bộ trưởng Thuộc địa Pháp một chương trình khai thác kinh tế quy mô toàn xứ Đông Dương nhằm vơ vét những sản phẩm chính quốc thiếu thốn. Cao Bằng nhiều tài nguyên khoáng sản nên đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng của khai thác thuộc địa. 

Ngay sau đó, giới tư bản Pháp đổ xô vào vùng Phja Oắc. Tính tới năm 1904 đã có 59 đơn và giấy phép xin thăm dò mỏ ở Cao Bằng. Tư bản Pháp tranh giành nhau mua bán đất đai và lập ra 24 nhượng khu độc quyền, ngoài ra còn một số nhượng khu nhỏ của tư sản Việt Nam. Đến 1.1.1938, ở Cao Bằng có 55 nhượng địa mỏ kim loại đã được khai thác trên tổng số 354 nhuợng địa mỏ kim loại của cả Đông Dương. Pháp, sau đó là Nhật, đã cướp đoạt từ dãy Phja Oắc một số lượng khổng lồ cassitérite (hàm lượng 70%), wolframmit (hàm lượng 60-65%), vàng, kim loại phóng xạ... Các khu mỏ bị bóc lột khủng khiếp nhất là mỏ Tĩnh Túc (nhượng khu Adèle), mỏ Phja Oắc (nhượng khu Saint Alexandre), mỏ Tài Soỏng (nhượng khu Beau-site), mỏ Bản Ổ (nhượng khu Ariane - Thèdra và Ganynèdo) đều nằm xung quanh dãy núi lớn Phja Oắc.

Trung tâm Lưu trữ quốc gia I hiện bảo quản khá nhiều tài liệu khác về giai đoạn kể trên liên quan tới Phja Oắc; các hồ sơ mang số hiệu 21369-06, 77003, 77004, 69904... của Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, Toàn quyền Đông Dương vẫn chưa được dịch và số hóa để tiện cho bạn đọc việc nghiên cứu. Nó đã gợi niềm cảm hứng cho tôi tìm đến dải núi này.

Phja Oắc - nóc nhà của Cao Bằng - quanh năm mây phủ, thuộc huyện Nguyên Bình, nơi có các dân tộc Dao, Tày, Nùng, Mông, Kinh, Ngái, Hoa cùng sinh sống. Nguyên Bình cơ bản là núi đá và núi đất, trừ một vài đồng cỏ rộng lớn như Phja Đén, Nà Nu, nhiệt độ thường ổn định ở 16-280C. Nằm không xa các công trường khai khoáng lớn của Pháp, Nhật, nhưng “nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất”, các bậc đại tiền bối của cách mạng Việt Nam đã chọn Nguyên Bình để mưu cầu đại sự. 

Thời tiền khởi nghĩa, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao đồng chí Võ Nguyên Giáp lựa chọn cán bộ chiến sĩ, tìm địa điểm sao cho có thể “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”, chiều 22.12.1944, lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ đã được tổ chức tại rừng Trần Hưng Đạo của Nguyên Bình. Dưới cờ đỏ sao vàng 5 cánh, trước đông đảo đại biểu các dân tộc Tày, Nùng, Dao của hai tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và đại biểu của Liên Tỉnh ủy, các chiến sĩ đã đồng thanh đọc 10 lời thề danh dự của Quân đội cách mạng Việt Nam. 17h ngày 25.12.1944, Đội đã tấn công trận đầu và tiêu diệt đồn Phai Khắt trên địa bàn huyện Nguyên Bình; rạng sáng ngày 26.12.1944 tiếp tục tiêu diệt đồn Nà Ngần, cũng thuộc huyện Nguyên Bình. Nguyên Bình vì lẽ đó mà trở thành quê hương, nơi khai sinh của Quân đội Việt Nam hiện đại.

2.Bây giờ, 5 ngày một lần, đồng bào các dân tộc vẫn đổ về trung tâm huyện Nguyên Bình dự chợ phiên đã có nhiều đời, mua cái mình cần, bán cái mình tự nuôi trồng trong một không gian thật thà, chất phác, giản dị, giàu tình cảm. Văn hóa Nguyên Bình còn rất sâu, đúng như lời Giám đốc Sở VHTTDL Cao Bằng Phạm Văn Cao nói. Để hiểu sơ bộ về cư dân sống dưới bóng núi lớn Phja Oắc, cần nhắc tới nghiên cứu mới đây của nhà báo kỳ cựu Chu Triều Đương - một người con của Nguyên Bình - về một làng có tên Vài Khao.

Người Dao Tiền đã định cư ở làng này trên dưới 300 năm, có thể là những người đầu tiên xuống núi canh tác lúa nước. Họ đã chứng kiến hậu quả cuộc khởi nghĩa nông dân do Hồng Tú Toàn đứng đầu, cuộc chiến giữa nhà Thanh và Thái Bình Thiên Quốc đã khiến một bộ phận quân lính bại trận tràn sang các tỉnh phía bắc Việt Nam, trong đó có Cao Bằng. Đi theo đám tàn quân này là những nông dân người Ngái (Trung Quốc gọi là người Khánh Gia, người Hẹ). Đám tàn quân này chủ yếu hà hiếp, cướp bóc dân trong vùng để sống và tổ chức khai thác quặng xung quanh Phja Oắc để bán về cố quốc. “Thổ phỉ” sau này có nguồn gốc từ đám phiến quân trên, tiếng Dao Tiền gọi là “Kiàn Ch’iề Tộp”, tiếng Dao Đỏ gọi là “Quáng Má”.

Triều đình phong kiến Việt Nam lúc đó chỉ chú tâm củng cố quyền lực của mình tại vùng đồng bằng người Kinh, các dân tộc thiểu số vùng cao bỏ mặc, dân tự lo liệu. Vài Khao hiện có 35 hộ Dao Tiền, gồm hai dòng họ Chu và Lý. Các nghi lễ truyền thống dòng họ như Chấu Đàng, Tẩu Sai (Lễ tạ ơn Bàn vương và Lễ trưởng thành/ cấp sắc), Kiều Mìu (Cầu mùa)... vẫn được duy trì thường xuyên tại nhà đặt bàn thờ tổ của hai họ. Khi tổ chức nghi lễ truyền thống, người trong cùng dòng họ dù ở đâu cũng phải về nhà bàn thờ tổ tham gia, nếu không là đã tự tách ra khỏi dòng họ, dòng họ không có trách nhiệm với người đó nữa trong lĩnh vực tín ngưỡng - ma chay. 

Các hoạt động văn hóa vẫn còn nguyên ở đây như hát đối đáp trong giao duyên trai gái, múa bắt ba ba, múa trống, học nhảy dịp xuân mới, bói nhảy lửa... Người Dao Tiền ở Vài Khao sống bằng lúa nước, ngô, chăn nuôi trâu bò và nghề rừng; tự chạm bạc, thêu thùa, đặc biệt có nghề in váy bằng cách chấm, vẽ sáp ong lên vải, hoa văn truyền miệng từ bà sang mẹ, từ mẹ sang con gái, rồi mới đem nhuộm chàm. Trong làng còn khoanh giữ nghiêm ngặt 2 vùng vách đá để hàng năm ong quay về làm tổ, lấy sáp vẽ hoa văn, không cho ai phá phách, lấy mật. 

Trong chuyện làm ăn, người Vài Khao có một số thế mạnh mà người vùng khác không thể cạnh tranh nổi: Trồng nấm, nho rừng và dược liệu quý hiếm, nuôi ếch hương; cây phong lan kim tuyến chỉ duy nhất khu vực này có, giá trên dưới 1 triệu đồng/kg cả gốc lẫn rễ, cây 7 hoa 1 lá cũng chỉ có ở khu vực này. Ông cho rằng ở đây cần phải trồng Ngọc Am để thu hút khách tham quan và lưu lại cho hậu thế. Tên đúng của cây này là Hoàng Đàn rủ, tiếng Tày thường gọi là Mảy Oắc, thơm như trầm hương, không mục mọt. Ngọc Am đã gần như tuyệt chủng tại các vùng đất Nguyên Bình, Bảo Lạc, Bảo Lâm của Cao Bằng, dân tìm đào lấy rễ từ lòng đất hoặc tìm gỗ bị vùi dưới lòng suối để bán. Vì không thấy có nhiều trên mặt đất mà phải đào từ trong lòng đất ra, lại có người tìm mua giá rất cao nên gây sự tò mò của nhiều người. Tại chợ đường biên cột mốc 53 (cũ) trên thác Bản Giốc, nhiều người Trung Quốc bán gỗ Ngọc Am với giá vài triệu đến vài trăm triệu đồng một cục, một khúc. Cây Hoàng Đàn rủ hiện nay vẫn còn ở đỉnh núi Tây Côn Lĩnh, xã Tả Sử Choóng, huyện Hoàng Su Phì của Hà Giang. Với trình độ khoa học - kỹ thuật hiện nay, hoàn toàn có thể phục hồi lại rừng cây cực quý này tại Nguyên Bình, vùng đất mà xa xưa nó đã từng mọc thành tên Phja Oắc - núi Ngọc Am.

3.Nguyên Bình nằm lọt thỏm giữa muôn trùng núi. Huyện ủy, UBND huyện cho hay, quý I/2016 vùng Phja Oắc - Phja Đén đón khoảng 80 đoàn với 1.200 khách ghé thăm. Cả một vùng hoang sơ, hùng vĩ, thơ mộng, “rừng vàng, núi bạc” theo đúng nghĩa đen, kho di sản thiên nhiên độc đáo và giàu có, báu vật của trời đất ban tặng, mà lượng khách đến du lịch có lẽ còn ít hơn khách vào nhậu ở một quán bia hơi tại Hà Nội. Năm 2012, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam đã hoàn thành đề tài Nghiên cứu, điều tra, đánh giá thực trạng đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên, làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng khu bảo tồn Phja Oắc - Phja Đén. Hệ thực vật có 90/295 họ, chiếm 30% tổng số họ của hệ thực vật Việt Nam, với 13 loài trong tổng số 37 loài thực vật bậc cao, quý hiếm được ghi trong sách đỏ. 222 loài động vật có xương sống hiện sinh sống ở đây, chiếm 66,7% số bộ thú của Việt Nam và chiếm 34,5% tổng số loài thú trên cạn của cả nước, trong đó có những động vật quý hiếm cần bảo vệ như hươu xạ, vượn đen, báo, sơn dương, gấu, trĩ đỏ, gà tiên mặt vàng, rắn hổ mang chúa... 

Tài liệu này nhận định: “Không chỉ đa dạng về loài, hệ sinh thái, thiên nhiên đã ban tặng cho vùng Phja Oắc - Phja Đén một môi trường khí hậu mát mẻ trong lành, lại có rất nhiều sản vật quý hiếm đã tạo tiền đề quan trọng cho phát triển nhiều loại hình du lịch. Nơi đây vẫn còn lưu giữ một số địa danh nghỉ mát cuối tuần của người Pháp (Tài Soỏng), khu Nhà Đỏ (Tatsloom)... Tất cả tạo nên một phong cảnh thiên nhiên mang đậm nét hoang sơ của vùng núi tươi đẹp. Ngày 9.8.1986, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã đưa Phja Oắc vào danh mục dự kiến quy hoạch rừng đặc dụng/phòng hộ. Ngay sau đó, một số cuộc điều tra do Viện Sinh thái - Tài nguyên sinh vật và Đại học Lâm nghiệp đã được tiến hành. Tuy nhiên, do nhiều lý do, việc quy hoạch thành khu bảo tồn đã không được thực hiện cho đến nay, để lọt một đối tượng rất độc đáo về đa dạng sinh học trên vùng núi đá cao trên 1.500m của nước ta”.

Giám đốc BQL Rừng đặc dụng Phja Oắc - Phja Đén (rộng 10.000ha) là Long Văn Bằng (người Tày, sinh năm 1963) nói rằng, vùng đất này như một nàng công chúa ngủ quên chưa được hoàng tử nào đánh thức: “Từ trung tâm Phja Oắc - Phja Đén, theo tỉnh lộ 212 về Hà Nội chỉ có 240km, gần hơn khoảng 100km so với Sa Pa về Hà Nội. Các cụ kể lại xưa kia ở đây có một loại cây cứ về đêm lại phát ra ánh sáng lân tinh khiến cả một ngọn núi sáng như đèn, nên mới có tên là núi đèn - Phja Đén. Nhiều năm khi mà cả nước không nơi nào có tuyết rơi thì ở Phja Oắc vẫn có băng tuyết. Có tản bộ trong rừng nguyên sinh nơi này mới thấy hết được vẻ bồng lai tiên cảnh như sót lại từ thời tiền sử”.

Tại Phja Oắc - Phja Đén, người dân vẫn sản xuất hằng ngày miến dong, giấy bản, sợi lanh, nấu rượu, vài năm gần đây mới có thêm những dự án lớn như trồng chè, nuôi cá nước lạnh và trồng thảo dược. Hoàng Mạnh Ngọc chủ trì dự án trồng 20ha chè nơi này. Anh đặt tên thương hiệu là Kolia, phỏng theo tên một nữ kỹ sư người Pháp lên đây mở đường rồi mãi mãi nằm lại, được đồng bào các dân tộc tôn vinh. Cha anh là người dưới xuôi, sau khi lên tham gia chiến dịch Biên giới 1950 thì ông ở lại làm nghề dạy học. Anh sinh năm 1971 tại Nguyên Bình, là con út trong gia đình có 8 anh chị em, đều do cha anh tự tay đỡ đẻ. Tuổi thơ chân trần luồn rừng vượt núi đi học xa nhà gần 5km, thiếu thốn đủ bề, “đói bơ vơ” như trong câu thơ của nhà thơ Nguyên Bình Bàn Tài Đoàn từng viết. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của các bậc thầy trồng trà núi cao người Đài Loan và các chuyên gia chè Việt Nam, đến nay anh đã sản xuất được trà Tiên, trà Lão, trà Đông Phương mỹ nhân... theo tiêu chuẩn organic và sản phẩm đã có mặt ở thị trường Bắc Mỹ.

Hoàng Mạnh Ngọc lái chiếc bán tải leo ngược con đường nhỏ ngoằn ngoèo rải bêtông đưa tôi lên đỉnh Phja Oắc. Non trưa mà rừng mờ mịt hơi sương. Thi thoảng chúng tôi dừng xe để ghé thăm một biệt thự Pháp cổ đã hoang phế vì sương gió, hoặc ngắm những loài kỳ hoa dị thảo đột ngột nở tràn xuống lề đường, tỏa hương thơm hiền dịu. Đại ngàn đang mùa hồi sinh, cây cối đua nhau đâm chồi nảy lộc, với màu vàng non tinh khôi của lá và chồi cây xanh biếc, huyền ảo trong mây núi khói sương. 

Càng lên cao nhiệt độ càng giảm, gió càng mạnh, chỉ có gió và gió thổi mãi theo một hướng quanh năm suốt tháng đã làm cho thảm thực vật nghiêng dạt hẳn theo một hướng; càng lên cao rừng càng lùn xuống, bám đầy rêu mốc, cây trúc chỉ còn cao chừng nửa mét, thân cây vầu chỉ còn bé như ngón tay, hẳn rằng do thời tiết khắc nghiệt khiến cây không sao lớn nổi. Phủ kín mặt đất là những cây sặt cũng chỉ cao độ 2 gang, lác đác có những loài cây thân trơ trụi, phủ đầy rêu, như nét vẽ trong tranh thủy mặc, đen đúa, già cỗi không thể đoán được là bao nhiêu năm tuổi. Trên đỉnh cao nhất 1.931m, chìm trong mây bạc và lộng gió ngàn, Đài Tiếng nói Việt Nam đã cho lắp đặt cột phát sóng cao 76,9m. Sầm Ngọc Sơn, sinh năm 1972, người Nguyên Bình - nhân viên kỹ thuật Trạm Phát sóng Phja Oắc - kể rằng, trạm có từ năm 2007, anh chuyển về đây làm từ 2011, hiện có 1 tiểu đội công an bảo vệ và 6 anh em nhà đài trực trạm, sáng nào cũng phải dậy từ 4h để chuẩn bị, công việc kết thúc vào 24h hằng đêm. Nhà trên đỉnh Phja Oắc nồm quanh năm, rêu bám đầy cửa kính; tivi, đài luôn phải bật 24/24h, nếu không sẽ hỏng vì hơi ẩm. Mùa hè mưa to sấm sét ác liệt, có lần đang nằm trên giường mà sét đánh bật tung người; mùa đông sương mù giăng kín, đóng băng hết cả lá cây lẫn đường đi, khiến người đau đầu, chóng mặt, khớp, khó thở, ai huyết áp cao ở lâu không chịu được. Ngày rét nhất, nhiệt kế trong phòng chỉ âm 100C. Lạ là những ngày lạnh nhất ấy, khách thập phương lại lũ lượt cuốc bộ lên đây, có ngày đông tới mấy trăm người, như đi hội, đói rét vào cả trong trạm có gì cùng ăn nấy. Bên này núi mưa, bên kia núi nắng là thường. Gặp buổi quang mây nắng đẹp, ai đứng đây nhìn xuống là thấy trùng điệp ngút tầm mắt những ngọn núi thấp rải rác dọc các thung lũng, những con suối nhỏ không tên, những cánh đồng bậc thang, nương ngô, làng bản, những ngôi nhà nhỏ thanh bình ẩn hiện ven sườn núi, yên ả lạ thường.

4.Hoàng Mạnh Ngọc lại đưa tôi ghé qua vùng chè anh trồng dưới chân Phja Oắc, ghé vùng đồng cỏ Phja Đén, ghé Nhà Đỏ Tatsloom và miếu cổ Vọng Cung Tiên. Phía ngoài miếu có đôi câu đối: “Phong phong tại thượng bất ngôn nhị tín bất nộ nhi thành/ Diệu diệu chuyết linh hữu cảm tất thông hữu tình tất ứng” (tạm dịch: Phong thái cao sang, không cần nói cũng đã tin, không cần giận mà vẫn thành/ Ngời ngời anh linh có cảm có thông có tình tất ứng). Ngọc nói rằng, đây rất có thể là công trình cổ của những tài chủ người Hoa đến làm bạc ở Tài Soỏng dựng nên, vừa để ca ngợi huyền thoại tiên giáng trần ở Phja Oắc, vừa để thờ cúng và cũng là chỗ thảnh thơi ngắm cảnh.

Trưởng ban Dân tộc Cao Bằng Mạc Văn Nheo là người họ Mạc chính gốc, tổ tiên ông từ Nam Sách (Hải Dương) lên Cao Bằng tìm người nhà, tính đến ông là đời thứ 8. Ông cũng là một người con của quê hương Nguyên Bình và từng là Chủ tịch, Bí thư Huyện ủy. Ông nói với tôi: “Cả Cao Bằng chỉ còn mỗi Phja Đén - Phja Oắc là còn rừng nguyên sinh, lại có khí hậu Châu Âu. Tôi từng nói với các anh em, hay mình đánh liều di chuyển trung tâm huyện vào Phja Đén - Phja Oắc, chỉ cần bỏ vài chục tỉ đồng xây công sở là dân khắc đi theo. Được như thế thì không chỉ Cao Bằng mà cả vùng Đông Bắc có thêm một vùng nghỉ dưỡng tầm cỡ Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt”.

Hành trình lần đầu tiên tôi đặt chân đến Cao Bằng là như vậy.

Lao Động

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Cẩn trọng mở rộng diện tích cây cà phê ở Lào Cai

Cẩn trọng mở rộng diện tích cây cà phê ở Lào Cai

Thời gian gần đây, tại một số xã thuộc khu vực Bảo Yên, Mường Khương, Bắc Hà, Bảo Thắng, người dân đã và đang trồng thử nghiệm cây cà phê. Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích trồng cà phê một cách tự phát, không theo quy hoạch tại các khu vực có điều kiện sinh thái không phù hợp, đang đặt ra nhiều thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao trong sản xuất nông nghiệp.

Thu hẹp khoảng cách phát triển sau hợp nhất

Thu hẹp khoảng cách phát triển sau hợp nhất

Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, các xã, phường trên địa bàn tỉnh đang đối mặt với nhiều thách thức trong thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các khu vực. Mỗi xã, thôn đều có những đặc điểm riêng về địa lý, kinh tế - xã hội, dẫn đến sự chênh lệch về mức sống và trình độ phát triển. Để giải quyết vấn đề này, các địa phương triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm hài hòa lợi ích, phát triển bền vững và khai thác hiệu quả tiềm năng từng vùng.

Một góc thôn Bỗng 2 nhìn từ trên cao.

Bản Dao đoàn kết

Nhắc đến thôn Bỗng 2, xã Bảo Hà, nhiều người vẫn còn nhớ đó là thôn người Dao nằm khuất sâu giữa núi rừng rậm rạp, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn do thiếu sinh kế phù hợp. Tuy nhiên, với việc xác định cây quế là cây trồng chủ lực mang lại giá trị kinh tế cao, địa phương đã từng bước chuyển mình mạnh mẽ, trở thành điểm sáng trong phát triển kinh tế. Hành trình thoát nghèo của người dân nơi đây đã thể hiện tinh thần đoàn kết của cộng đồng, tạo sức lan tỏa cùng nhau phát triển.

Lào Cai: Quan tâm bảo vệ môi trường mùa lễ hội xuân

Lào Cai: Quan tâm bảo vệ môi trường mùa lễ hội xuân

Sau Tết Nguyên đán, các địa phương trong tỉnh rộn ràng bước vào mùa lễ hội xuân truyền thống. Qua những lễ hội đã diễn ra, phóng viên ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực khi công tác bảo vệ môi trường được các cấp chính quyền, ngành chức năng, người dân và du khách quan tâm hơn, góp phần gìn giữ không gian lễ hội văn minh, bền vững.

Bừng sáng tương lai sau lũ dữ

Bừng sáng tương lai sau lũ dữ

Ngày đầu năm, trong ánh nắng dịu nhẹ, chúng tôi trở lại những khu tái định cư - nơi từng oằn mình chịu đau thương sau những trận lũ dữ. Những ngôi nhà mới khang trang, những tuyến đường bê tông phẳng lì và những nương quế xanh mướt trải dài đã làm nên bức tranh hồi sinh đầy hy vọng. Đó không chỉ là thành quả từ sự hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và các nhà hảo tâm, mà còn là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên của cộng đồng.

Bình yên An San

Bình yên An San

65 năm qua, An San không chỉ là nơi lưu giữ ký ức của những ngày đầu gian khó mà còn là biểu tượng của sự gắn bó, đoàn kết và phát triển.

Suối Xuân bừng sáng xuân này

Suối Xuân bừng sáng xuân này

Suối Xuân là thôn đặc biệt khó khăn của xã Phình Hồ. Nơi thôn 100% người Mông sinh sống này, bao năm qua vẫn quen với bóng tối khi đêm xuống. Thế nhưng mùa xuân này đã khác, điện lưới quốc gia đã về tới Suối Xuân. Tết ở  thôn người Mông này vì thế cũng bừng sáng, rộn ràng hơn bao giờ hết!

Ngày mới ở Tân Tiến

Ngày mới ở Tân Tiến

Những ngày này, thôn Tân Tiến, xã Gia Phú như một đại công trường. Các dự án trọng điểm như đường Trần Hưng Đạo kéo dài, Dự án tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng hay Dự án hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp Thống Nhất đều đang được đẩy nhanh tiến độ. Cả vùng quê Tân Tiến đang chuyển mình, mang theo hy vọng về diện mạo mới, hiện đại và phát triển.

Đón xuân sớm ở Abyei

Đón xuân sớm ở Abyei

Giữa bụi đỏ mịt mù và cái nắng như đổ lửa của vùng đất Abyei, những ngày cuối năm đối với những người lính mũ nồi xanh Việt Nam đang làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình tại đây trở nên bận rộn hơn bởi không khí chuẩn bị đón Tết cổ truyền. Trong doanh trại của Đội Công binh số 4 Việt Nam tại Phái bộ An ninh lâm thời Liên hợp quốc ở Abyei (UNISFA), không khí chuẩn bị đón Tết cổ truyền đang lan tỏa khắp nơi.

Nắng ấm Bản Giàng

Nắng ấm Bản Giàng

Nằm cheo leo trên sườn núi cao và xa nhất xã Pa Cheo cũ (nay là xã Bản Xèo), thôn Bản Giàng là nơi sinh sống của hơn 50 hộ đồng bào Mông. Xuân mới Bính Ngọ 2026, Bản Giàng có thêm ngôi trường mới khang trang, đồng bào vùng cao tích cực phát triển kinh tế, mở ra trang mới đầy tươi sáng.

Xuân mới Nhìu Cù San

Xuân mới Nhìu Cù San

Trong các thôn, bản của xã Sàng Ma Sáo cũ (nay là xã Dền Sáng), Nhìu Cù San từng là nơi xa xôi, cách trở nhất. Chỉ ba năm trước, việc đi lại còn đầy gian nan. Trở lại hôm nay, chúng tôi cảm nhận rõ niềm vui hiện hữu trên gương mặt đồng bào Mông khi tuyến đường vào thôn đang được mở rộng, trải nhựa. Đặc biệt, mùa xuân 2026, hàng chục hộ dân nơi đây sẽ đón Tết trong ngôi nhà mới kiên cố, an toàn dưới chân núi “sừng trâu”.

Quyết tâm đưa dự án về đích đúng hẹn

Dự án nâng cấp cao tốc Nội Bài - Lào Cai: Quyết tâm đưa dự án về đích đúng hẹn

Dự án nâng cấp cao tốc Nội Bài - Lào Cai, đoạn qua tỉnh Lào Cai từ 2 lên 4 làn xe dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2026. Trên toàn tuyến, những ngày đầu năm, không khí thi công diễn ra khẩn trương, sôi động. Các nhà thầu đang huy động tối đa nhân lực, máy móc, tổ chức thi công đồng loạt nhiều mũi, quyết tâm đưa dự án về đích đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng.

Đổi thay vùng đất ven sông Chảy

Đổi thay vùng đất ven sông Chảy

Vùng đất ven sông Chảy thuộc thôn Hàm Rồng, xã Phúc Khánh, là nơi gắn bó của những hộ dân đã rời quê hương, nhường đất để xây dựng công trình thủy điện Thác Bà 60 năm trước. Từ những ngày đầu gian khó, đến nay vùng đất này đã khoác lên mình một diện mạo mới, minh chứng cho sự nỗ lực vượt khó và tinh thần đoàn kết của người dân nơi đây.

Thực trạng hoạt động các trạm dừng nghỉ trên cao tốc Nội Bài – Lào Cai (đoạn qua tỉnh Lào Cai)

Thực trạng hoạt động các trạm dừng nghỉ trên cao tốc Nội Bài – Lào Cai (đoạn qua tỉnh Lào Cai)

Thời gian qua, hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ tại một số trạm dừng nghỉ trên tuyến cao tốc Nội Bài – Lào Cai, đoạn qua tỉnh Lào Cai, phát sinh nhiều tồn tại về chất lượng dịch vụ, vệ sinh môi trường, ảnh hưởng đến quyền lợi người tham gia giao thông, gây dư luận không tốt. Trước thực trạng này, Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) đã chính thức đề nghị các cơ quan chức năng tỉnh Lào Cai phối hợp kiểm tra, xử lý dứt điểm.

Niềm vui mới trên núi Láo Vàng

Niềm vui mới trên núi Láo Vàng

Chỉ còn hơn một tháng nữa là đến Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, những ngày này, ở vùng lũ Phìn Ngan, xã Bát Xát, nhiều hộ đồng bào Dao đỏ đang khẩn trương di chuyển nhà đến nơi ở mới - khu tái định cư Láo Vàng. 

Xây dựng vùng cây ăn quả ôn đới gắn với sản phẩm OCOP

Xây dựng vùng cây ăn quả ôn đới gắn với sản phẩm OCOP

Nằm ở vùng đất thượng nguồn sông Chảy, xã Si Ma Cai và Sín Chéng nổi tiếng có phong cảnh đẹp, đặc biệt là vựa hoa quả ôn đới của tỉnh. Ngày đầu năm mới 2026, khi những cành hoa lê, hoa mận đang chúm chím nụ chào đón xuân về, chúng tôi có dịp đến với vùng đất lưu dấu ngựa thần để “mục sở thị” câu chuyện phát triển vùng cây ăn quả ôn đới trên núi đá tai mèo.

Bài ca nơi thượng nguồn sông Hồng

Bài ca nơi thượng nguồn sông Hồng

Đứng trên đỉnh đèo, phóng tầm mắt về phía thượng nguồn, tôi lặng nhìn dòng sông Hồng uốn lượn từ Trung Quốc chảy vào đất Việt. Khoảnh khắc ấy, tôi chợt hiểu vì sao người ta vẫn gọi thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung, là “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”.

Phụ nữ Cao Sơn viết tiếp câu chuyện đổi thay

Phụ nữ Cao Sơn viết tiếp câu chuyện đổi thay

Chúng tôi đến Cao Sơn trong một buổi sớm vùng cao còn bảng lảng sương mây và dễ dàng cảm nhận được những đổi thay đang hiện hữu trong từng nếp nhà, từng con đường nhỏ dẫn vào thôn bản; những ngôi nhà khang trang, những nương chè, nương ngô xanh mướt và hơn cả là sự đổi thay trong nếp nghĩ, cách làm của phụ nữ vùng cao.

Bước từng bước nhỏ để đi đến hành trình lớn

Phụ nữ Mường Khương: Bước từng bước nhỏ để đi đến hành trình lớn

Từ những người phụ nữ vùng cao quen với nương rẫy, bếp núc, ít nói, ít ra khỏi bản làng, phụ nữ Mường Khương hôm nay đang từng bước thay đổi. Không ồn ào, không vội vã, sự chuyển mình ấy diễn ra lặng lẽ nhưng bền bỉ - qua những mô hình kinh tế do phụ nữ làm chủ, những buổi sinh hoạt hội hay từng cú “chạm” đầu tiên với công nghệ, thị trường và tri thức mới. Những bước đi nhỏ ấy đang góp lại thành một hành trình lớn.

fb yt zl tw