Thực tiễn tại Lào Cai cho thấy, bảo vệ rừng không còn là nhiệm vụ đơn tuyến của lực lượng chuyên trách, mà là “bài toán tổng hợp” đòi hỏi kỷ cương quản lý, giải pháp đồng bộ và sự tham gia thực chất của cộng đồng.
Theo Ban Quản lý rừng phòng hộ Trạm Tấu, đơn vị đang quản lý trên 51.194 ha đất lâm nghiệp, trong đó hơn 37.000 ha có rừng, tỷ lệ che phủ đạt gần 80%. Đáng chú ý, phần lớn diện tích rừng tự nhiên nằm ở độ cao trên 1.500 m, địa hình dốc lớn, giao thông khó khăn và chịu tác động trực tiếp của khí hậu phía Tây.
Từ đầu năm 2026, diễn biến thời tiết có nhiều bất thường, gió Lào xuất hiện với tần suất dày hơn, độ ẩm không khí nhiều thời điểm xuống dưới 50%, khiến lớp thực bì khô giòn, chỉ cần một nguồn lửa nhỏ cũng có thể bùng phát thành cháy lớn.
Đi liền với đó, các tập quán sản xuất truyền thống như đốt nương để canh tác, xử lý thực bì, thả rông gia súc… nếu không được quản lý chặt chẽ sẽ tiềm ẩn nguy cơ, trở thành tác nhân trực tiếp gây rủi ro cho rừng.
Ông Lại Văn Quang - Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Trạm Tấu thẳng thắn nhìn nhận: Khi thời tiết cực đoan, chỉ một sơ suất nhỏ trong sử dụng lửa cũng có thể dẫn đến hậu quả rất lớn. Vì vậy, chúng tôi xác định phải chuẩn bị kịch bản từ sớm, từ xa, lấy phòng ngừa là trọng tâm, không để bị động.
Từ nhận thức đó, cách tiếp cận trong bảo vệ rừng tại địa phương đã có sự chuyển dịch rõ rệt, trọng tâm là gắn trách nhiệm với lợi ích của người dân thông qua chính sách khoán bảo vệ rừng.
Hiện nay, 55 cộng đồng thôn bản với 6.455 hộ gia đình đã tham gia nhận khoán, tạo nên một “mạng lưới bảo vệ rừng” ngay tại cơ sở.
Tại các khu vực có nguy cơ cao như thôn Tả Chử, xã Hạnh Phúc - nơi đất canh tác đan xen với rừng phòng hộ, công tác tuần tra được duy trì nghiêm ngặt. Hằng ngày, các tổ từ 15 - 17 người luân phiên kiểm tra thực địa, kịp thời phát hiện nguy cơ, đồng thời tuyên truyền, nhắc nhở người dân.
Ông Hầu A Giao, Trưởng thôn Tả Chử chia sẻ: Chúng tôi duy trì tuyên truyền qua hệ thống loa truyền thanh bằng cả tiếng phổ thông và tiếng Mông, phát ba lần mỗi ngày, giúp người dân nhận thức rõ tác hại của cháy rừng. Khi hiểu đúng, bà con sẽ chủ động sử dụng lửa an toàn và tích cực tham gia bảo vệ rừng.
Thực tế cho thấy, khi mỗi hộ nhận khoán trở thành “tai mắt” trong công tác bảo vệ rừng, hiệu quả quản lý không chỉ tăng lên mà còn tạo ra sự gắn kết giữa cộng đồng với tài nguyên rừng.
Tuy nhiên, tại các khu vực giáp ranh, bài toán bảo vệ rừng vẫn đặt ra nhiều thách thức mang tính đặc thù. Tình trạng lấn chiếm đất rừng làm bãi chăn thả, đốt thực bì không kiểm soát, hay tranh chấp sử dụng đất giữa người dân các địa phương lân cận vẫn còn xảy ra. Một số vị trí sau điều chỉnh quy hoạch lâm nghiệp chưa hoàn tất cắm mốc ngoài thực địa, tạo ra những “khoảng trống” trong quản lý hành chính.
Trước thực tế đó, các giải pháp được triển khai không chỉ dừng ở việc tăng cường tuần tra, kiểm soát mà tập trung vào thiết lập cơ chế phối hợp liên vùng. Ban Quản lý rừng phòng hộ Trạm Tấu đã kiện toàn lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng, duy trì trực 24/24 giờ trong cao điểm, đồng thời tổ chức diễn tập liên xã để thống nhất quy trình xử lý khi có sự cố lan ranh.
Song song với đó, việc hoàn thiện hồ sơ ranh giới, cắm mốc ngoài thực địa được đẩy nhanh nhằm xác lập rõ trách nhiệm quản lý, hạn chế phát sinh tranh chấp.
Điểm nổi bật trong cách làm ở các địa phương vùng cao là việc đưa các quy định bảo vệ rừng vào hương ước, quy ước thôn bản. Tại xã Púng Luông, các thôn đã thống nhất xây dựng quy ước chung, làm cơ sở để quản lý và xử lý vi phạm một cách đồng bộ.
Ông Phạm Tiến Lâm, Chủ tịch UBND xã Púng Luông cho biết: Khi quy định được cụ thể hóa trong hương ước, người dân dễ hiểu, dễ thực hiện hơn, đồng thời tạo ra sự ràng buộc mang tính cộng đồng rất rõ.
Ở thôn Nà Háng Tâu, hơn 370 ha rừng được giao cho cộng đồng quản lý với cơ chế phân công cụ thể đến từng hộ. Hằng ngày, các hộ luân phiên tuần tra, canh gác; trường hợp không thực hiện sẽ bị trừ tiền dịch vụ môi trường rừng. Cách làm này không chỉ đảm bảo kỷ luật, mà còn tạo ra áp lực tự giác trong cộng đồng, nơi mỗi hành vi vi phạm không chỉ bị xử lý theo quy định, mà còn bị đánh giá bởi chính tập thể.
Khi lực lượng kiểm lâm còn mỏng, địa hình phức tạp, việc “dựa vào dân” đã trở thành lựa chọn mang tính chiến lược.
Tại xã Lao Chải, hơn 1.700 hộ dân đã ký cam kết bảo vệ rừng, tự nguyện tham gia các tổ tự quản và được trang bị dụng cụ chữa cháy tại chỗ thông qua nguồn lực xã hội hóa.
Không dừng ở đó, địa phương còn chú trọng phát triển sinh kế dưới tán rừng như trồng thảo quả, sơn tra, giúp người dân có nguồn thu ổn định, từ đó gắn bó hơn với rừng.
Một trụ cột quan trọng khác là chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Hằng năm, nguồn kinh phí hàng chục tỷ đồng được chi trả cho người dân tham gia bảo vệ rừng đã tạo ra động lực kinh tế rõ rệt.
Khi rừng mang lại thu nhập, người dân không còn coi đó là “tài nguyên chung vô chủ”, mà là tài sản gắn bó trực tiếp với đời sống của mình. Đây cũng là cơ sở để hình thành tư duy “giữ rừng là giữ sinh kế”, thay vì khai thác ngắn hạn.
Thực tế từ đầu năm 2026 đến nay, trên diện tích rừng do các đơn vị quản lý không xảy ra cháy rừng, cho thấy hiệu quả bước đầu của việc chuyển trọng tâm từ “chữa cháy” sang “phòng cháy”. Tuy nhiên, trước diễn biến ngày càng cực đoan của biến đổi khí hậu, nguy cơ vẫn luôn hiện hữu, đòi hỏi các giải pháp phải tiếp tục được hoàn thiện và duy trì thường xuyên.
Giữ rừng giáp ranh, vì thế, không chỉ là câu chuyện của lực lượng kiểm lâm hay chính quyền địa phương, mà là phép thử năng lực quản trị tổng hợp. Khi người dân thực sự làm chủ cánh rừng, khi lợi ích kinh tế song hành với trách nhiệm, và khi các cơ chế phối hợp được thiết kế chặt chẽ, mỗi cánh rừng sẽ không chỉ được giữ xanh, mà còn trở thành nền tảng bền vững cho phát triển kinh tế - xã hội vùng cao trong dài hạn.