Giữ rừng giáp ranh: Chủ động “phòng” để hạn chế “chống”

Khi đồng bào vùng cao bước vào cao điểm sản xuất, những cánh rừng đầu nguồn cũng đứng trước áp lực gia tăng rõ rệt cả từ tự nhiên lẫn con người. Ở các khu vực giáp ranh, nơi địa hình chia cắt, ranh giới hành chính đan xen, nguy cơ xâm hại rừng không chỉ đến từ một phía mà thường là hệ quả cộng hưởng của tập quán canh tác, nhu cầu sinh kế và những “khoảng trống” trong quản lý.

0:00 / 0:00
0:00

Thực tiễn tại Lào Cai cho thấy, bảo vệ rừng không còn là nhiệm vụ đơn tuyến của lực lượng chuyên trách, mà là “bài toán tổng hợp” đòi hỏi kỷ cương quản lý, giải pháp đồng bộ và sự tham gia thực chất của cộng đồng.

baolaocai-br_sequence-8500-03-19-13still004.jpg
Tổ bảo vệ rừng thôn Tà Chử, xã Hạnh Phúc chủ động phát dọn thực bì, giảm nguy cơ cháy rừng mùa khô.

Theo Ban Quản lý rừng phòng hộ Trạm Tấu, đơn vị đang quản lý trên 51.194 ha đất lâm nghiệp, trong đó hơn 37.000 ha có rừng, tỷ lệ che phủ đạt gần 80%. Đáng chú ý, phần lớn diện tích rừng tự nhiên nằm ở độ cao trên 1.500 m, địa hình dốc lớn, giao thông khó khăn và chịu tác động trực tiếp của khí hậu phía Tây.

Từ đầu năm 2026, diễn biến thời tiết có nhiều bất thường, gió Lào xuất hiện với tần suất dày hơn, độ ẩm không khí nhiều thời điểm xuống dưới 50%, khiến lớp thực bì khô giòn, chỉ cần một nguồn lửa nhỏ cũng có thể bùng phát thành cháy lớn.

Đi liền với đó, các tập quán sản xuất truyền thống như đốt nương để canh tác, xử lý thực bì, thả rông gia súc… nếu không được quản lý chặt chẽ sẽ tiềm ẩn nguy cơ, trở thành tác nhân trực tiếp gây rủi ro cho rừng.

Ông Lại Văn Quang - Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Trạm Tấu thẳng thắn nhìn nhận: Khi thời tiết cực đoan, chỉ một sơ suất nhỏ trong sử dụng lửa cũng có thể dẫn đến hậu quả rất lớn. Vì vậy, chúng tôi xác định phải chuẩn bị kịch bản từ sớm, từ xa, lấy phòng ngừa là trọng tâm, không để bị động.

Từ nhận thức đó, cách tiếp cận trong bảo vệ rừng tại địa phương đã có sự chuyển dịch rõ rệt, trọng tâm là gắn trách nhiệm với lợi ích của người dân thông qua chính sách khoán bảo vệ rừng.

Hiện nay, 55 cộng đồng thôn bản với 6.455 hộ gia đình đã tham gia nhận khoán, tạo nên một “mạng lưới bảo vệ rừng” ngay tại cơ sở.

Tại các khu vực có nguy cơ cao như thôn Tả Chử, xã Hạnh Phúc - nơi đất canh tác đan xen với rừng phòng hộ, công tác tuần tra được duy trì nghiêm ngặt. Hằng ngày, các tổ từ 15 - 17 người luân phiên kiểm tra thực địa, kịp thời phát hiện nguy cơ, đồng thời tuyên truyền, nhắc nhở người dân.

Ông Hầu A Giao, Trưởng thôn Tả Chử chia sẻ: Chúng tôi duy trì tuyên truyền qua hệ thống loa truyền thanh bằng cả tiếng phổ thông và tiếng Mông, phát ba lần mỗi ngày, giúp người dân nhận thức rõ tác hại của cháy rừng. Khi hiểu đúng, bà con sẽ chủ động sử dụng lửa an toàn và tích cực tham gia bảo vệ rừng.

Thực tế cho thấy, khi mỗi hộ nhận khoán trở thành “tai mắt” trong công tác bảo vệ rừng, hiệu quả quản lý không chỉ tăng lên mà còn tạo ra sự gắn kết giữa cộng đồng với tài nguyên rừng.

baolaocai-br_sequence-8500-20-41-15still001.jpg
Cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ Trạm Tấu tuyên truyền, vận động hộ dân nâng cao ý thức phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô.

Tuy nhiên, tại các khu vực giáp ranh, bài toán bảo vệ rừng vẫn đặt ra nhiều thách thức mang tính đặc thù. Tình trạng lấn chiếm đất rừng làm bãi chăn thả, đốt thực bì không kiểm soát, hay tranh chấp sử dụng đất giữa người dân các địa phương lân cận vẫn còn xảy ra. Một số vị trí sau điều chỉnh quy hoạch lâm nghiệp chưa hoàn tất cắm mốc ngoài thực địa, tạo ra những “khoảng trống” trong quản lý hành chính.

Trước thực tế đó, các giải pháp được triển khai không chỉ dừng ở việc tăng cường tuần tra, kiểm soát mà tập trung vào thiết lập cơ chế phối hợp liên vùng. Ban Quản lý rừng phòng hộ Trạm Tấu đã kiện toàn lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng, duy trì trực 24/24 giờ trong cao điểm, đồng thời tổ chức diễn tập liên xã để thống nhất quy trình xử lý khi có sự cố lan ranh.

Song song với đó, việc hoàn thiện hồ sơ ranh giới, cắm mốc ngoài thực địa được đẩy nhanh nhằm xác lập rõ trách nhiệm quản lý, hạn chế phát sinh tranh chấp.

baolaocai-br_sequence-7000-00-03-11still001.jpg
Rừng thông Púng Luông được cộng đồng dân cư nhận khoán bảo vệ, góp phần giữ vững “lá phổi xanh” và sinh kế bền vững cho người dân vùng cao.

Điểm nổi bật trong cách làm ở các địa phương vùng cao là việc đưa các quy định bảo vệ rừng vào hương ước, quy ước thôn bản. Tại xã Púng Luông, các thôn đã thống nhất xây dựng quy ước chung, làm cơ sở để quản lý và xử lý vi phạm một cách đồng bộ.

Ông Phạm Tiến Lâm, Chủ tịch UBND xã Púng Luông cho biết: Khi quy định được cụ thể hóa trong hương ước, người dân dễ hiểu, dễ thực hiện hơn, đồng thời tạo ra sự ràng buộc mang tính cộng đồng rất rõ.

Ở thôn Nà Háng Tâu, hơn 370 ha rừng được giao cho cộng đồng quản lý với cơ chế phân công cụ thể đến từng hộ. Hằng ngày, các hộ luân phiên tuần tra, canh gác; trường hợp không thực hiện sẽ bị trừ tiền dịch vụ môi trường rừng. Cách làm này không chỉ đảm bảo kỷ luật, mà còn tạo ra áp lực tự giác trong cộng đồng, nơi mỗi hành vi vi phạm không chỉ bị xử lý theo quy định, mà còn bị đánh giá bởi chính tập thể.

Khi lực lượng kiểm lâm còn mỏng, địa hình phức tạp, việc “dựa vào dân” đã trở thành lựa chọn mang tính chiến lược.

Tại xã Lao Chải, hơn 1.700 hộ dân đã ký cam kết bảo vệ rừng, tự nguyện tham gia các tổ tự quản và được trang bị dụng cụ chữa cháy tại chỗ thông qua nguồn lực xã hội hóa.

Không dừng ở đó, địa phương còn chú trọng phát triển sinh kế dưới tán rừng như trồng thảo quả, sơn tra, giúp người dân có nguồn thu ổn định, từ đó gắn bó hơn với rừng.

baolaocai-br_sequence-7000-00-00-22still002.jpg
Thông tin chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được cắm tại khu rừng, giúp người dân nắm rõ quyền lợi, trách nhiệm, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

Một trụ cột quan trọng khác là chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Hằng năm, nguồn kinh phí hàng chục tỷ đồng được chi trả cho người dân tham gia bảo vệ rừng đã tạo ra động lực kinh tế rõ rệt.

Khi rừng mang lại thu nhập, người dân không còn coi đó là “tài nguyên chung vô chủ”, mà là tài sản gắn bó trực tiếp với đời sống của mình. Đây cũng là cơ sở để hình thành tư duy “giữ rừng là giữ sinh kế”, thay vì khai thác ngắn hạn.

baolaocai-br_sequence-8000-01-32-01still012.jpg
baolaocai-br_sequence-8000-00-08-01still001.jpg
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu với hệ sinh thái tự nhiên phong phú, giữ vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học và phòng hộ đầu nguồn, đang được chính quyền và cộng đồng địa phương chung tay gìn giữ.

Thực tế từ đầu năm 2026 đến nay, trên diện tích rừng do các đơn vị quản lý không xảy ra cháy rừng, cho thấy hiệu quả bước đầu của việc chuyển trọng tâm từ “chữa cháy” sang “phòng cháy”. Tuy nhiên, trước diễn biến ngày càng cực đoan của biến đổi khí hậu, nguy cơ vẫn luôn hiện hữu, đòi hỏi các giải pháp phải tiếp tục được hoàn thiện và duy trì thường xuyên.

Giữ rừng giáp ranh, vì thế, không chỉ là câu chuyện của lực lượng kiểm lâm hay chính quyền địa phương, mà là phép thử năng lực quản trị tổng hợp. Khi người dân thực sự làm chủ cánh rừng, khi lợi ích kinh tế song hành với trách nhiệm, và khi các cơ chế phối hợp được thiết kế chặt chẽ, mỗi cánh rừng sẽ không chỉ được giữ xanh, mà còn trở thành nền tảng bền vững cho phát triển kinh tế - xã hội vùng cao trong dài hạn.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Cảnh sát cơ động hỗ trợ người dân phường Lào Cai khắc phục hậu quả mưa lũ

Cảnh sát cơ động hỗ trợ người dân phường Lào Cai khắc phục hậu quả mưa lũ

Mưa lớn sáng 03/8 khiến nhiều khu vực tại phường Lào Cai ngập sâu, giao thông bị chia cắt, nhiều hộ dân phải di dời tài sản. Ngay khi tiếp nhận được thông tin, lực lượng Cảnh sát cơ động nhanh chóng có mặt tại hiện trường, phối hợp hỗ trợ người dân ứng phó với mưa lũ và hạn chế thiệt hại.

Nậm Có - Khi tiềm năng được đánh thức

Nậm Có - Khi tiềm năng được đánh thức

Có những vùng đất chỉ cần mở thêm một con đường là mở ra một hướng phát triển mới. Có những địa phương chỉ cần tìm đúng lợi thế để khơi dậy nội lực sẽ tạo nên bước chuyển mình mạnh mẽ. Xã Nậm Có, tỉnh Lào Cai là như vậy. Từ một xã vùng cao nhiều khó khăn, địa phương đang khai thác lợi thế rừng, nông nghiệp và du lịch để tạo động lực phát triển kinh tế.

Tái sinh đất dốc, mở hướng sinh kế bền vững ở Bắc Hà

Tái sinh đất dốc, mở hướng sinh kế bền vững ở Bắc Hà

Địa hình đồi núi dốc, chia cắt mạnh khiến sản xuất nông nghiệp ở Bắc Hà từ lâu đối mặt với tình trạng đất bạc màu, xói mòn và năng suất thấp. Nhiều diện tích nương rẫy của người dân chỉ canh tác ngô với hiệu quả kinh tế không cao, trong khi độ phì của đất ngày càng suy giảm. Tuy nhiên, từ các mô hình nông - lâm kết hợp và thực hành nông nghiệp sinh thái đang được triển khai, nhiều vùng đất dốc đã dần được phục hồi, mở ra hướng phát triển sinh kế bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Kiểm tra tiến độ các dự án chế biến nông sản, định hướng phát triển chuỗi giá trị

Kiểm tra tiến độ các dự án chế biến nông sản, định hướng phát triển chuỗi giá trị

Chiều 31/7, Đoàn công tác do ông Trần Minh Sáng - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường làm trưởng đoàn, đã kiểm tra thực tế một số mô hình sản xuất nông, lâm nghiệp và các dự án chế biến nông sản trên địa bàn tỉnh, nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư, nắm bắt tình hình sản xuất, kịp thời tháo gỡ khó khăn và định hướng phát triển ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.

Theo mùa trái ngọt về “Nông trại bốn mùa” phường Trung Tâm

Theo mùa trái ngọt về “Nông trại bốn mùa” phường Trung Tâm

Những ngày này, tại tổ dân phố 7, phường Trung Tâm, nhiều nhà vườn đang bước vào mùa thu hoạch nhãn, thanh long và vú sữa Hoàng Kim. Những khu vườn trĩu quả không chỉ báo hiệu một vụ mùa bội thu mà còn phản ánh hiệu quả từ mô hình “Nông trại bốn mùa” - hướng phát triển nông nghiệp xanh đang từng bước gắn với du lịch trải nghiệm, góp phần quảng bá hình ảnh vùng đất Mường Lò.

Bảo Ái: Mở lối sinh kế bền vững cho nông dân

Bảo Ái: Mở lối sinh kế bền vững cho nông dân

Từ những buổi sinh hoạt trên đồng ruộng đến các lớp tập huấn kỹ thuật, Hội Nông dân xã Bảo Ái đang đưa thông tin, tri thức sản xuất đến gần hơn với hội viên. Sự thay đổi trong cách nghĩ, cách làm của người nông dân đã tạo nên nhiều mô hình kinh tế hiệu quả, góp phần mở lối sinh kế bền vững trên chính mảnh đất quê hương.

Lá chắn bảo vệ đàn gia súc trước dịch bệnh

Lá chắn bảo vệ đàn gia súc trước dịch bệnh

Ngay sau khi có kết quả giám sát chủ động với 9/72 mẫu dương tính với virus lở mồm long móng tuýp A và tuýp O tại Chợ gia súc Bắc Hà, UBND xã cùng ngành chức năng đã khẩn trương triển khai đồng bộ các giải pháp. Trong đó, chính quyền quyết định tạm dừng hoạt động chợ gia súc từ ngày 11/7 nhằm ngăn chặn chuỗi lây nhiễm, nhanh chóng kiểm soát, khoanh vùng và dập dịch.

Kiểm tra, thống nhất phương án khẩn cấp khắc phục sạt lở tại thôn Nước Nóng

Kiểm tra, thống nhất phương án khẩn cấp khắc phục sạt lở tại thôn Nước Nóng

Sáng 30/7, đoàn công tác của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai phối hợp với Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Ban Quản lý bảo trì đường bộ Lào Cai và UBND xã Tú Lệ tiến hành kiểm tra thực địa, đánh giá hiện trạng và thống nhất phương án khắc phục khẩn cấp nguy cơ sạt lở đất tại thôn Nước Nóng.

Nâng tầm giá trị thủy sản hồ Thác Bà

Nâng tầm giá trị thủy sản hồ Thác Bà

Từ chỗ chỉ bán cá tươi phụ thuộc vào thương lái, anh Phạm Ngọc An, trưởng thôn Đoàn Kết, xã Bảo Ái, đã mạnh dạn chuyển sang chế biến sâu, xây dựng thương hiệu chả cá An Thường đạt OCOP 3 sao, góp phần nâng cao giá trị thủy sản hồ Thác Bà và tạo thêm việc làm cho lao động địa phương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Mở lối sinh kế mới ở Bảo Ái

Mở lối sinh kế mới ở Bảo Ái

Từ những đồi quế quen thuộc, nhiều hộ dân xã Bảo Ái đã mạnh dạn phát triển các mô hình sinh kế mới như nuôi hươu sao, trồng cây ăn quả và đa dạng hóa sản xuất. Đằng sau sự chuyển đổi ấy là quá trình người dân chủ động tiếp cận thông tin, học hỏi khoa học - kỹ thuật và thay đổi tư duy sản xuất để nâng cao thu nhập, hướng tới phát triển bền vững.

Báo động thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tân dược bán tràn lan ở chợ phiên

Báo động thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tân dược bán tràn lan ở chợ phiên

Giữa các phiên chợ vùng cao tấp nập người mua bán, bên cạnh nông sản và nhu yếu phẩm, những lọ thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tân dược không rõ nguồn gốc vẫn ngang nhiên được bày bán công khai. Đáng lo ngại hơn, cả người bán lẫn người mua đều không biết những sản phẩm này đến từ đâu, thành phần là gì, nhưng vẫn sử dụng mỗi ngày. Đằng sau sự dễ dãi ấy là những nguy cơ khó lường đối với sức khỏe cộng đồng và môi trường.

Lan tỏa thông tin - Khơi dậy khát vọng thoát nghèo

Lan tỏa thông tin - Khơi dậy khát vọng thoát nghèo

Không chỉ đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với người dân, công tác truyền thông giảm nghèo về thông tin tại xã Bảo Ái còn trở thành cầu nối giúp người dân tiếp cận khoa học kỹ thuật, nắm bắt thị trường và học hỏi các mô hình sản xuất hiệu quả. Khi khoảng cách thông tin từng bước được thu hẹp, nhận thức thay đổi, khát vọng vươn lên được khơi dậy, tạo nền tảng để nhiều hộ chủ động phát triển kinh tế, từng bước thoát nghèo bền vững.

Xã vùng cao Chế Tạo sau hơn 10 ngày vẫn bị cô lập: Vì sao tuyến đường độc đạo chậm trễ thông tuyến?

Xã vùng cao Chế Tạo sau hơn 10 ngày vẫn bị cô lập: Vì sao tuyến đường độc đạo chậm trễ thông tuyến?

Đã hơn 10 ngày kể từ trận mưa lũ lịch sử, tuyến đường độc đạo dài khoảng 35 km vào xã Chế Tạo vẫn chưa thể thông tuyến, khiến hàng nghìn người dân tiếp tục bị cô lập với bên ngoài. Mỗi ngày trôi qua là thêm một ngày người dân mong ngóng con đường được nối lại, còn các lực lượng thi công ngày đêm chạy đua khắc phục hàng trăm điểm sạt lở nhằm từng bước mở đường vào vùng bị cô lập.

fb yt zl tw