Đèo Tả Phời lang thang ký

LCĐT - Tả Phời là xã đặc biệt trong 17 đơn vị hành chính của thành phố Lào Cai. Tất nhiên, là “xã đặc biệt khó khăn” thì đã thoát rồi, nhưng điều đặc biệt đáng nói nhất của Tả Phời là một xã có diện tích rộng đến 88,33 km², chiếm 31,29% diện tích toàn thành phố, nhưng mật độ dân số thấp nhất, chỉ 5 người/km². Chưa hết, đó là xã có “nóc nhà thành phố” và có một con đèo còn ít người biết đến.

Phìn Hồ Thầu vào xuân. Ảnh: Ngọc Bằng.
Phìn Hồ Thầu vào xuân.                                                                                Ảnh: Ngọc Bằng.

Ở thành phố Lào Cai, xưa nay chưa mấy ai nói đến đèo Tả Phời, dù có thể đã đi qua, bởi nó mới xuất hiện từ năm 2009, sau khi có đường bê tông rộng hơn 4 m, phẳng lì như con rắn vàng bò ngoằn ngoèo trên sườn núi qua 7 thôn, bản vùng cao, trong đó có những thôn cao nhất như Ú Sì Sung, Phìn Hồ Thầu.

Đã là đèo thì phải gắn với đường giao thông. Tuyến đường đưa chúng tôi từ vùng khí hậu nhiệt đới đến vùng ôn đới mà chỉ mất vài chục phút xe máy! Vừa mới ở chân núi, đầu thôn Đá Đinh, nóng như đổ lửa, lên đến bản Pèng đã mát như cái “phòng điều hòa” khổng lồ! Ấy chính là nhờ có đường đèo, kết quả trong chương trình xây dựng nông thôn mới của thành phố.

Tất nhiên trước kia cũng có đường rồi, nhưng là “đường mòn”. Đồng bào Dao đỏ sinh cơ lập nghiệp từ lâu đời trên sườn núi, khuất lấp dưới tán rừng già. Họ cứ đi mãi trong rừng, lên núi, xuống núi bằng chân con người, chân con ngựa mà thành. Đường như thế thì chả ai gọi là “đèo”! Khái niệm đèo (đèo núi) tồn tại gắn liền với đường giao thông, nên tùy theo sự phát triển giao thông và du lịch mà đèo có được biết đến hay không. Vậy là chính tuyến đường đã làm nên đèo Tả Phời mà nay tôi mới có thể gọi đúng tên của nó.

Nhiều người từng biết, ở miền núi phía Bắc có rất nhiều đèo, trong đó có 4 đèo nổi danh được người đời tặng danh hiệu “Tứ đại đèo Tây Bắc”. Đó là đèo Pha Đin, đèo Ô Quy Hồ, đèo Khau Phạ và đèo Mã Pí Lèng.

Đèo Tả Phời dài 26 km, chỉ kém đèo Pha Đin 6 km, kém đèo Khau Phạ 4 km, nhưng còn dài hơn đèo Mã Pí Lèng 6 km! Về độ cao thì đỉnh đèo Tả Phời cán mốc 1.713 m so với mực nước biển, trong khi đèo Khau Phạ cũng chỉ 1.200 đến 1.500 m. Nói về độ dài và độ cao thì đèo Tả Phời đứng cạnh “tứ đại đèo” cũng ngang ngửa “trứng gà trứng vịt”. Các đặc điểm khác của “tứ đại đèo” như vực sâu thăm thẳm, mây mù phất phơ, với những trảng ruộng bậc thang lung linh sóng lúa… làm “lác mắt” người đi đường, thì đèo Tả Phời cũng chả kém cạnh gì.

Tuy nhiên, đèo Tả Phời chưa có tiếng tăm gì, vì mới ra đời và chỉ nằm trên tuyến đường nông thôn mới, chứ không phải quốc lộ như các “đại ca tứ đại đèo”…

Đã không ít lần, tôi cùng bạn viết Phạm Công Thế đi qua đèo này, bắt đầu ngược dốc từ bản Đá Đinh lên bản Pèng, dài 12 km. Ở đây thời tiết khác hẳn. Khi phóng tầm mắt xuống hun hút thung sâu như nhìn từ cửa sổ máy bay, thấy trời chang chang nắng, ngay chỗ mình đứng mây mù từng đợt dâng lên, lấp dần cảnh vật xung quanh, khiến có cảm giác như được ai đó đưa lên giời! Đây cũng chính là ngã ba đáng nhớ. Một ngả rẽ ngược tiếp lên đỉnh đèo - bản Phìn Hồ Thầu, nơi “Nóc nhà thành phố” (tên bài ký của Công Thế). Một ngả rẽ trái, nếu muốn xuống đèo thì bắt đầu hạ sơn khoảng 14 km sẽ tiếp cận chân núi, thuộc thôn Cuống. Ở Cuống có nhà máy thủy điện nhỏ là 1 trong 2 nhà máy thủy điện tổng công suất 12,6 MW đang hoạt động.

Công Thế là một trong những nhân chứng khi anh từng tham gia xây dựng các nhà máy thủy điện này. Công Thế cho biết, hồi ấy mò vào đến đây để thi công nhà máy thủy điện quả là những con người dũng cảm. Đường đi chẳng có, công nhân toàn “đờ mi cuốc”. Thời tiết khắc nghiệt. Giải phóng mặt bằng đụng vào đất đai, rừng núi đã có chủ, phải xử lý đúng pháp luật và sao cho thấu tình đạt lý. Rất may là bà con ủng hộ, nên khá suôn sẻ...

Những lần đi trên đường đèo, chúng tôi thường dừng lại chụp ảnh. Nhưng cái chính là để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó với những khu rừng còn đầy dấu ấn hoang sơ, ruộng bậc thang rực rỡ lúa vàng, không kém gì danh thắng Sa Pa, Y Tý…

Đường đèo Tả Phời thường ngày còn ít phương tiện qua lại, thi thoảng mới gặp một chiếc xe hơi, còn phần lớn là xe máy và người đi bộ. Đôi khi gặp bà con dắt cả đàn bò, đàn dê diễu hành trên đèo. Thanh niên thì phi xe máy vù vù. Nom vậy tôi thầm nghĩ, đồng bào vùng cao ở đây cũng chả đến nỗi nào. Điện chiếu sáng cũng đã kéo đến từng nhà rồi… Hẳn đây là kết quả của công cuộc xây dựng nông thôn mới của địa phương.

Nhớ một lần, anh em tôi gặp chàng trai tên Lò Láo Lở. Cậu ta rủ chúng tôi leo lên nhà để chụp ảnh ruộng bậc thang hình mâm xôi. Cái nhánh đường cheo leo ấy cũng được làm bằng bê tông, nhưng chỉ rộng độ sải tay. Bên phải, ta luy dương dựng ngược toàn đá, bên trái, ta luy âm “vô tiền khoáng hậu”, hun hút chả thấy đáy vực đâu! Cứ ngoắt ngoéo phải gần 20 phút sau mới tới ngôi nhà gỗ nhỏ nhắn “treo” trên sườn núi trong tán rừng tạp âm u. Tôi bảo với Thế, giả như không có cây cối che kín thì ở dưới kia nhìn lên, chắc ngôi nhà sẽ y như cái chuồng chim gá vào vách đá! Lò Láo Lở chỉ lên đỉnh đồi lúa đang đỏ đuôi: “Đấy, muốn chụp ảnh ruộng bậc thang đẹp thì hai ông để xe máy ở đây, leo lên kia”. Tôi ngước mắt lên mà thấy hãi: “Chắc khó đi lắm?”. Láo Lở nói: “Cũng không khó mấy, chúng cháu đi bình thường mà”. Liếc qua cặp giò của Lở, tôi nghĩ bụng: “Các “anh già” chúng tớ đú làm sao được thanh niên sơn cước chú mày!”. Nghĩ vậy nhưng vẫn ra vẻ “anh hùng”: “Ừ, thì lúc nào nắng, có điều kiện chúng tớ lên…”. Chả là giữa lúc đó, mây ở đâu ùn ùn táp vào, cả dãy núi mênh mông đang nắng vàng rực rỡ bỗng tối sầm như sắp bước vào đêm, nên việc chụp hình đành hoãn lại.

Thấy ba người nói chuyện, một lão nông khoảng hơn 50 tuổi, từ ngôi nhà trên cao lò dò bước xuống từng bậc đất, bậc đá. Ông là bố Láo Lở. Chân ông xỏ đôi ủng cao đến đầu gối, tay cầm con dao phát. Mọi người chào nhau và làm quen. Chúng tôi hỏi thăm về đời sống đồng bào, ông bảo: “Cũng còn nhiều khó khăn lắm, đất núi thì có đấy, nhưng trồng cây gì cũng không lên được. Đấy, những cây lúa kia kìa, có quả rồi, nhưng khi thu hoạch cái hạt thóc nó không no. Giá như mình thì bảo hạt thóc lép, nhưng ông ấy nói “không no”, khiến một người quan tâm đến ngôn ngữ như tôi phải nghiêm túc suy nghĩ. “Ừ nhỉ, thế là mình học được một từ mới. Cái hay của ngôn từ này là nó chứa đựng chiều sâu tư duy của người vùng cao. Hạt thóc là biểu tượng của đời sống con người nơi đây. Cái thứ quan trọng nhất để chống đói cho người mà chính bản thân nó còn “không no” thì làm sao thực hiện được thiên chức vốn có của nó!

Tôi tỏ ra “khôn” hơn, bèn góp ý: “Này, ở đây canh tác, đi lại khó khăn thế mà sao bà con cứ bám trụ, không xuống dưới kia mà ở?”. Ông nói luôn: “Không được. Dưới đó người ta ở hết rồi, mình phải đến cái chỗ không phải tranh nhau với ai cả”!...

Đúng là đi một quãng đàng “học một sàng khôn”. Chỉ lang thang trên một khúc đèo, nơi thâm sơn cùng cốc mà chúng tôi học được cách nói của người dân lao động, những suy nghĩ giản dị mà chứa đựng triết lý cuộc sống và tầm vóc văn hóa! Quả là sự học thật vô cùng…

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đời sống đồng bào các dân tộc nơi thượng nguồn suối Lũng Pô đã có nhiều đổi thay. Hiện nay, nhiều chi bộ khu vực biên giới giữ vai trò nòng cốt trong công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trẻ, góp phần “đánh thức” tiềm năng phát triển nông - lâm nghiệp, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, giúp người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Những cột điện, đường dây điện quốc gia hôm nay đã vươn tới các thôn bản vùng cao của xã Lâm Giang. Nguồn điện ổn định đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho người dân. Tuy nhiên, phía sau những công trình đã phát huy hiệu quả nhiều năm vẫn còn một tồn tại kéo dài: hàng trăm hộ dân đã hiến đất, chặt bỏ cây trồng để phục vụ dự án nhưng đến nay vẫn chưa được chi trả tiền bồi thường theo quy định.

Từ hào khí Phố Ràng đến khát vọng phát triển

Từ hào khí Phố Ràng đến khát vọng phát triển

77 năm đã qua nhưng Chiến thắng Phố Ràng (26/6/1949) vẫn là niềm tự hào của Nhân dân các dân tộc trên quê hương Bảo Yên. Trên mảnh đất lịch sử ấy, truyền thống cách mạng năm xưa đang tiếp tục được các thế hệ hôm nay gìn giữ, phát huy bằng khát vọng dựng xây quê hương ngày càng giàu đẹp.

Yên Bình tăng cường kiểm soát môi trường tại các cơ sở công nghiệp và bến bãi

Yên Bình tăng cường kiểm soát môi trường tại các cơ sở công nghiệp và bến bãi

Những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển công nghiệp và sản xuất vật liệu xây dựng, xã Yên Bình trở thành địa bàn tập trung nhiều cơ sở chế biến đá, bãi tập kết hàng hóa và bến thủy nội địa. Sự phát triển này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho lao động địa phương, song cũng kéo theo nhiều áp lực về môi trường gây ảnh hưởng đến đời sống người dân.

Gỡ “điểm nghẽn” giao thông nông thôn ở Lào Cai

Gỡ “điểm nghẽn” giao thông nông thôn ở Lào Cai

Những ngày đầu tháng 4, người dân phấn khởi hiến đất, góp công và huy động máy móc san gạt mặt bằng, mong muốn sớm có các tuyến đường bê tông kiên cố, thuận tiện đi lại và đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, sau ít ngày triển khai, nhiều công trình buộc phải tạm dừng do vướng cơ chế đầu tư, thủ tục phức tạp và thiếu kinh phí đối ứng. Các tuyến đường được kỳ vọng tạo động lực phát triển khu vực nông thôn, miền núi hiện đứng trước nguy cơ chậm tiến độ nếu không sớm tháo gỡ các “điểm nghẽn”.

“Viên ngọc xanh” chờ được “đánh thức”

“Viên ngọc xanh” chờ được “đánh thức”

Ẩn sâu giữa đại ngàn vùng giáp ranh Púng Luông - Nả Háng (xã Chế Tạo), Tà Cây Đằng thuộc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải là nơi lưu giữ hàng nghìn cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Những cây pơ mu, thiết sam cổ không chỉ tạo nên giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học mà còn mở ra tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái. Tuy nhiên, làm thế nào để đánh thức “viên ngọc xanh” này mà không làm “tổn thương” màu xanh nguyên bản của đại ngàn vẫn là bài toán lớn đặt ra với địa phương.

Si Ma Cai nỗ lực hồi sinh vùng dược liệu tam thất

Si Ma Cai nỗ lực hồi sinh vùng dược liệu tam thất

Từng được xem là “cây tiền tỷ” của vùng cao Si Ma Cai, cây tam thất đã mở ra kỳ vọng về hướng phát triển kinh tế hiệu quả cho đồng bào các dân tộc nơi đây. Sau giai đoạn phát triển mạnh rồi dần thu hẹp diện tích vì nhiều nguyên nhân, chính quyền địa phương đang nỗ lực khôi phục loại cây dược liệu quý này, từng bước làm chủ kỹ thuật sản xuất, hướng tới xây dựng tam thất trở thành cây hàng hóa có giá trị kinh tế cao.

Tuyến đường hy vọng ở A Mú Sung

Tuyến đường hy vọng ở A Mú Sung

A Mú Sung là xã vùng cao biên giới đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai, với đường biên dài gần 26,8 km. Nhiều năm qua, mưa lũ, sạt lở khiến những tuyến đường nơi đây thường xuyên hư hỏng, việc đi lại của người dân gặp nhiều khó khăn. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đến nay đoạn đường biên giới từ thôn Lũng Pô đến thôn Phù Lao Chải (giáp địa phận xã Y Tý) dài 14km đang được mở rộng, bê tông hóa, góp phần đổi thay cuộc sống người dân vùng biên.

Sức sống mới ở Hồng Ngài

Sức sống mới ở Hồng Ngài

Hồng Ngài là bản Mông xa nhất xã Y Tý, cách trung tâm xã khoảng 20 km, giáp với địa phận huyện Phong Thổ cũ, tỉnh Lai Châu và huyện Kim Bình, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Trước đây, nhắc đến Hồng Ngài ai cũng ngại vì giao thông rất khó khăn, nhưng nay, bản xa đã mang một diện mạo mới, đời sống người dân thêm ấm no.

Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra

Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra

Tình trạng “bến dù, bến cóc” hoạt động tự phát, không phép hoặc hết phép, thiếu điều kiện an toàn đang đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý. Loạt bài "Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra" (3 kỳ) của Báo và Phát thanh, Truyền hình Lào Cai phản ánh, làm rõ thực trạng này.

Bài cuối: Cần những giải pháp toàn diện

Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra: Bài cuối: Cần những giải pháp toàn diện

Thực trạng hàng loạt bến thủy nội địa không phép, hết phép vẫn hoạt động tại nhiều địa phương đang đặt ra yêu cầu cấp bách trong công tác quản lý. Không chỉ dừng ở kiểm tra, xử lý vi phạm mà cần có giải pháp tháo gỡ những “điểm nghẽn” trong quy hoạch, đăng ký hoạt động bến thủy nội địa trên địa bàn tỉnh.

Bài 2: “Mắc kẹt” giữa nhu cầu và thủ tục

Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra: Bài 2: “Mắc kẹt” giữa nhu cầu và thủ tục

Sông Hồng, sông Chảy và các lòng hồ thủy điện trên địa bàn đang trở thành trục vận tải quan trọng của tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, phía sau sự nhộn nhịp là thực trạng nhiều bến thủy nội địa không phép, hết phép vẫn hoạt động kéo dài. Điều này đặt ra những vấn đề rất đáng quan tâm trong công tác quản lý. 

Bài 1: Bến không phép hoạt động tràn lan

Quản lý bến thủy nội địa - những vấn đề đặt ra: Bài 1: Bến không phép hoạt động tràn lan

Cùng với sự phát triển của các tuyến vận tải đường thủy, trên sông Hồng, sông Chảy và khu vực các lòng hồ trong tỉnh đang hình thành mạng lưới bến thủy nội địa hoạt động sôi động mỗi ngày. Tuy nhiên, phía sau bức tranh nhộn nhịp ấy là tình trạng “bến dù, bến cóc” hoạt động tự phát, không phép hoặc hết phép, thiếu điều kiện an toàn kỹ thuật đang đặt ra thách thức lớn đối với công tác quản lý của chính quyền cơ sở và cơ quan chức năng.

Đảm bảo chính sách bảo vệ rừng không bị gián đoạn sau sáp nhập

Đảm bảo chính sách bảo vệ rừng không bị gián đoạn sau sáp nhập

Sau khi phương án quản lý, bảo vệ rừng gỗ nghiến, gỗ trai giai đoạn 2021 - 2025 kết thúc, lực lượng giữ rừng ở cơ sở vẫn duy trì tuần tra, bám rừng từng ngày. Từ thực tế địa bàn, điều địa phương, lực lượng kiểm lâm và người dân mong muốn lúc này là sớm có chủ trương duy trì chính sách đặc thù cho giai đoạn tiếp theo để công tác bảo vệ rừng quý tiếp tục được duy trì ổn định, không bị gián đoạn trong giai đoạn chuyển tiếp.

Điện về bản xa

Điện về bản xa

Ngày 21/4 vừa qua có lẽ là ngày vui và hạnh phúc nhất với người dân 4 thôn vùng cao: Làng Ca, Khe Kẹn, Pín Pé, Ba Chum (xã Cát Thịnh) khi điện lưới quốc gia về tới bản làng sau rất nhiều năm mong mỏi. Ánh sáng ấy mở ra nhiều cơ hội phát triển cho những bản làng còn gian khó.

Khám phá chợ đá quý Lục Yên

Khám phá chợ đá quý Lục Yên

Vùng đất ngọc Lục Yên, nơi được mệnh danh là “vương quốc đá quý” của Việt Nam. Đến đây, du khách sẽ lạc vào những gam màu lấp lánh của hàng nghìn viên đá quý trong phiên chợ đặc biệt - chợ đá quý. Phiên chợ mang trong mình những nét văn hóa độc đáo, khiến bất cứ ai ghé thăm cũng không khỏi tò mò và say mê.

fb yt zl tw