Câu chuyện phát triển xanh ở Bản Liền

Bản Liền (Lào Cai) đang dần 'thay da đổi thịt' nhờ những hướng đi và cách làm mới.

Người dân Bản Liền hái chè truyền thống.
Người dân Bản Liền hái chè truyền thống.

Từ những gốc chè Shan tuyết cổ thụ trên núi cao 800-1.200m, người dân Bản Liền bao đời gắn bó với cây chè như một phần cuộc sống. Đến nay, sản phẩm chè Shan tuyết nơi đây đã được cấp chứng nhận hữu cơ quốc tế theo tiêu chuẩn EU và USDA (Mỹ), đồng thời đạt danh hiệu OCOP 5 sao. Thành quả này mở ra cánh cửa rộng lớn cho xuất khẩu, đưa hương vị chè từ núi rừng Bắc Hà ra thị trường quốc tế.

Gìn giữ truyền thống lâu đời

Ở Bản Liền, chè Shan tuyết gắn bó với đời sống người dân từ đời ông bà, cha mẹ truyền lại. Anh Lâm A Nâng, một hộ dân trong xã cho biết chè nơi đây đặc biệt bởi cây cổ thụ, sinh trưởng tự nhiên, không dùng hóa chất. Người dân tự giám sát lẫn nhau, nếu hộ nào vi phạm sẽ bị phạt nghiêm khắc.

Anh Nâng chia sẻ: “Nhà nào phun thuốc sẽ bị phạt một bữa ăn cho cả thôn bản cùng 5 triệu tiền mặt và cho ra khỏi nhóm. Như vậy nghề truyền thống mới phát triển bền vững, không thể vì một con sâu làm rầu nồi canh”.

Chính quy ước cộng đồng này là nền tảng giúp Bản Liền đi theo con đường sản xuất hữu cơ chuẩn quốc tế. Năm 2006, nhà máy chế biến chè đầu tiên được xây dựng tại Bản Liền. Đến tháng 9/2007, chè Shan tuyết Bản Liền đã có chứng nhận hữu cơ quốc tế. Tuy nhiên, do công nghệ hạn chế, sản phẩm thời kỳ đầu chủ yếu tiêu thụ trong nước và một phần sang Trung Đông.

Anh Phạm Quang Thận - Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Hợp tác xã chè Bản Liền nhớ lại: “Giai đoạn đầu chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn. Nhà máy chỉ có khoảng 420m², công nghệ còn hạn chế, chưa có điện lưới, hoạt động sản xuất chế biến chè phải dùng máy nổ chạy bằng dầu Diesel trong sáu năm liền. Mặc dù sản phẩm chè hữu cơ đã được chứng nhận quốc tế nhưng vẫn khó xuất khẩu sang châu Âu do hương vị chè Bản Liền còn hơi chát, không phù hợp thị hiếu”.

Đến năm 2012, khi nhà xưởng được nâng cấp và công nghệ chế biến cải thiện, chất lượng chè đã đáp ứng khẩu vị quốc tế. Từ đây, thị trường mở rộng mạnh mẽ. Anh Thận khẳng định: “Có thể nói, từ năm 2012 đến nay, sản phẩm chè Bản Liền làm ra đến đâu bán hết đến đó và dần khẳng định được chỗ đứng trên thị trường quốc tế”.

Anh Phạm Quang Thận - Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Hợp tác xã chè Bản Liền.
Anh Phạm Quang Thận - Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Hợp tác xã chè Bản Liền.

Cải thiện sinh kế cho người dân

Hiện nay, Hợp tác xã chè Bản Liền có 310 thành viên tham gia. Các hộ sản xuất chè đều có mã số, ghi chép và chứng nhận sản xuất chè hữu cơ, canh tác tự nhiên không sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.

Nhờ mô hình liên kết sản xuất hữu cơ, thu nhập người dân được cải thiện rõ rệt. “Nếu trước đây mỗi hộ chỉ thu được vài chục triệu một năm, thì đến nay nhiều hộ có thể đạt thu nhập 150 triệu đồng/năm, thậm chí cao hơn”, anh Thận dẫn chứng.

Đặc biệt, bà con Bản Liền tuân thủ đầy đủ 25 tiêu chuẩn nghiêm ngặt do các tổ chức quốc tế quy định trong canh tác, chế biến các sản phẩm trà. Hiện tại, sản phẩm trà bánh của Bản Liền là sản phẩm duy nhất của Việt Nam xuất khẩu sang châu Âu để sử dụng trong ngành thực phẩm, mỹ phẩm.

Hợp tác xã bao tiêu sản phẩm cho xã viên, tạo việc làm thường xuyên cho công nhân, nhất là dịp Tết. Ngoài ra, một phần lợi nhuận còn được trích lại cho giáo dục và y tế địa phương. “Chúng tôi có chương trình gây quỹ từ lợi nhuận chè, trích khoảng 5% để hỗ trợ cho giáo dục và y tế. Nhờ đó, con em trong xã có thêm điều kiện học tập, được hỗ trợ học phí, sách vở và định hướng nghề nghiệp”, anh Thận chia sẻ.

Những thay đổi này đã giúp nhiều hộ có nhà xây kiên cố, phương tiện sinh hoạt đầy đủ, đời sống văn hóa nâng cao. Chè Shan tuyết Bản Liền còn được công nhận OCOP 5 sao, trưng bày tại nhiều hội chợ quốc tế và có mặt thường xuyên tại 12 công ty, nhà phân phối ở châu Âu, đặc biệt là Pháp.

Theo anh Thận, danh hiệu OCOP 5 sao đã tạo ra tác động rất lớn đối với sản xuất và tiêu thụ chè Shan tuyết Bản Liền. Đây là sự khẳng định về chất lượng sản phẩm, giúp chè Bản Liền có vị thế vững chắc hơn khi tiếp cận các thị trường quốc tế. Hiện sản phẩm đã đa dạng với 8-10 dòng chè như chè xanh, hồng trà, chè nhài, chè bánh, chè ép…, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đạt trung bình 15-20%/năm, riêng tại châu Âu khoảng 5-7%/năm.

Những sản phẩm của Hợp tác xã chè Bản Liền.
Những sản phẩm của Hợp tác xã chè Bản Liền.

Cơ hội xen lẫn thách thức

Đạt được thành công, nhưng nghề sản xuất chè hữu cơ tại Bản Liền vẫn phải đối diện nhiều thách thức. Giai đoạn 2021-2022, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, thị trường xuất khẩu bị ngưng trệ. Hợp tác xã Chè Bản Liền vẫn thu mua chè cho bà con nhưng hàng tồn kho gần hai năm không xuất đi được. Đến tháng 4/2022 mới giải phóng được lô hàng.

Ngoài ra, thiên tai cũng là trở ngại lớn. “Tháng Chín năm ngoái, cơn bão số 3 (Yagi) đã gây ảnh hưởng nặng nề. Diện tích chè bị hư hại không nhiều nhưng đường giao thông bị sạt lở, mất điện kéo dài, nhà máy phải ngừng hoạt động khoảng một tháng”, anh Thận kể.

Những năm gần đây, người dân nơi đây đã biết tận dụng lợi thế địa phương và nét văn hóa đặc sắc của người Tày để phát triển du lịch cộng đồng, góp phần phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo.

Dưới những nếp nhà sàn đơn sơ giữa khung cảnh bình yên, mộc mạc, du khách đến đây có thể tham gia các hoạt động trải nghiệm như cắm trại, cùng bà con lên nương hái chè hay thưởng thức các món ẩm thực đặc sản địa phương. Đặc biệt, khi tham gia dự án Tăng cường sinh kế và vị thế của người dân tộc thiểu số thông qua phát triển du lịch cộng đồng (do chính phủ Australia tài trợ), nhiều người dân Bản Liền đã lần đầu được tiếp cận với khái niệm du lịch cộng đồng, tạo sinh kế cho gia đình.

Du lịch cộng đồng phát triển là cơ hội để các sản phẩm hàng hóa của bà con được nhiều người biết đến hơn, mở ra cơ hội phát triển cho ngành sản xuất chè truyền thống. Bà con người Tày còn học cách chế biến lá chè già để tạo nên uống mới từ chè Shan tuyết cổ thụ, làm giảm vị chát tự nhiên trong lá chè, đồng thời giữ lại toàn bộ dưỡng chất quý giá.Ngoài ra, lá chè già cũng được chế biến thành các sản phẩm độc đáo như bột trà, lá trà khô, gối thảo mộc… mang lại thu nhập gia tăng cho người trồng chè.

Bản Liền đang dần “thay da đổi thịt” nhờ những hướng đi và cách làm mới, không chỉ giúp nâng cao sinh kế cho người dân mà còn bảo tồn được cây chè cổ thụ, lưu hương vị bền vững cho tương lai.

Bản Liền (Lào Cai) trở nên nổi tiếng hơn nhờ show truyền hình thực tế Gia đình Haha với những trải nghiệm tại homestay của chị Vàng Thị Thông – một người dân địa phương. Sau khi chương trình được phát sóng vào đầu Hè 2025, Bản Liền đã trở thành một điểm đến hút khách, đặc biệt là giới trẻ và vụt sáng trên bản đồ du lịch Tây Bắc. Trong tương lai, nơi đây hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển theo hướng du lịch xanh - sạch - bền vững, nơi mỗi chuyến đi không chỉ là khám phá mà còn là sự đồng hành đầy nhân văn.

baoquocte.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

“Đòn bẩy” giúp nông dân phường Nghĩa Lộ vươn lên phát triển sản xuất

“Đòn bẩy” giúp nông dân phường Nghĩa Lộ vươn lên phát triển sản xuất

Năm 2025, phường Nghĩa Lộ còn 160 hộ nghèo, chiếm 3,46% và 103 hộ cận nghèo chiếm 2,23% - những con số cho thấy thách thức giảm nghèo bền vững vẫn hiện hữu. Trước thực tế đó, việc tạo “đòn bẩy” hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và chủ động vươn lên thoát nghèo là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của cả hệ thống chính trị địa phương.

Gặp triệu phú dâu tằm ở Trấn Yên

Gặp triệu phú dâu tằm ở Trấn Yên

Dân gian có câu: “Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng” ý nói sự vất vả, bận rộn của nghề trồng dâu nuôi tằm. Vậy nhưng cái nghề vất vả này đang được nhiều hộ dân ở các thôn trên địa bàn xã Trấn Yên chọn làm hướng thoát nghèo và vươn lên làm giàu…

Mỏ Vàng nâng cao giá trị nông, lâm nghiệp

Mỏ Vàng nâng cao giá trị nông, lâm nghiệp

Là xã vùng cao còn nhiều khó khăn của tỉnh Lào Cai, Mỏ Vàng phải đối mặt với địa hình chia cắt, hạ tầng chưa đồng bộ, đời sống người dân còn không ít khó khăn, vất vả. Thế nhưng, bằng quyết tâm chính trị cao và cách làm linh hoạt, phát huy hiệu quả tiềm năng đất đai, rừng và thế mạnh cây quế, năm 2025 kinh tế nông, lâm nghiệp của xã tiếp tục giữ đà tăng trưởng, tạo nền tảng nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân.

Nối mạch giao thông trên núi dốc

Nối mạch giao thông trên núi dốc

Do địa hình đồi núi dốc, việc đầu tư hạ tầng giao thông tại xã Chế Tạo gặp nhiều khó khăn, chi phí lớn. Không trông chờ vào nguồn lực Nhà nước, người dân đã chủ động góp công, góp của mở nên những tuyến đường đặc thù, rộng 80 cm đến 1 mét, men theo sườn núi. Dù nhỏ hẹp, những con đường ấy chính là “cao tốc” của bà con - kết nối các bản làng giữa đại ngàn, mở lối cho phát triển và đổi thay.

Nậm Dù hướng đến trở thành miền quê đáng sống

Nậm Dù hướng đến trở thành miền quê đáng sống

Cùng cán bộ xã Xuân Quang, từ quốc lộ, chúng tôi rẽ vào ngõ nhỏ mà người dân thôn Nậm Dù quen gọi với cái tên thân thuộc - “ngõ nhà văn hóa”. Đường ngõ được đổ bê tông, dọc hai bên là những ngôi nhà xây khang trang, sạch đẹp, hàng cây xanh cắt tỉa gọn gàng, điểm xuyết vài sắc hồng, sắc tím của hoa giấy và những khóm hoa hồng tỏa hương thơm dịu. Làng quê yên ả và thanh bình hiện diện từ mô hình “10 hộ liền kề, ngõ văn minh”.

“Cánh tay nối dài” của ngành nông nghiệp tại cơ sở

“Cánh tay nối dài” của ngành nông nghiệp tại cơ sở

Trong những năm qua, các tổ khuyến nông cộng đồng đã khẳng định rõ nét vai trò là cầu nối giữa Nhà nước, nhà khoa học và nhà nông trong việc chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh gắn với thị trường. Đây được xem là những “cánh tay nối dài” của ngành nông nghiệp tại cơ sở, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững.

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thăm, hỗ trợ mô hình nuôi cá rô phi tại xã Khánh Yên

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thăm, hỗ trợ mô hình nuôi cá rô phi tại xã Khánh Yên

Chiều 11/2, Đoàn công tác của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia do ông Lê Quốc Thanh - Giám đốc Trung tâm làm trưởng đoàn đã đến thăm, nắm tình hình và trao hỗ trợ thức ăn thủy sản cho các hộ tham gia Dự án mô hình nuôi bán thâm canh cá rô phi trong ao gắn với liên kết tiêu thụ cho hộ nghèo, cận nghèo tại xã Khánh Yên.

Những bãi bồi cho hoa thơm, trái ngọt

Những bãi bồi cho hoa thơm, trái ngọt

Những ngày cuối năm, khi sương sớm còn giăng mờ mặt nước sông Hồng, các bãi bồi ven sông đã “khoác” lên mình màu xanh mướt. Sau những tháng ngày oằn mình gánh chịu mưa lũ, bùn đất từng bị vùi lấp, những bãi bồi dường như đang hồi sinh. Từng luống ngô non vươn mình trong gió lạnh, những giàn bí, luống rau trải dài theo triền bãi, mang theo cảm giác yên bình rất đặc trưng của vùng ven sông.

Con đường thoát nghèo ở Tà Xi Láng

Con đường thoát nghèo ở Tà Xi Láng

Với quyết tâm thoát nghèo bền vững và thu hẹp khoảng cách phát triển, xã vùng cao đặc biệt khó khăn Tà Xi Láng - địa phương có tỷ lệ hộ nghèo thuộc tốp cao của tỉnh đang từng bước tìm hướng đi phù hợp với đặc thù của địa phương.

Xuân sắc Võ Lao

Xuân sắc Võ Lao

Vùng đất Võ Lao gọi xuân mới về mang theo sắc trời trong trẻo, khiến hương đất ấm nồng sau những ngày đông lạnh giá, nhịp sống rộn ràng hiển hiện trên vùng quê trù phú.

Hiệu quả mô hình liên kết sản xuất khoai tây vụ đông ở Khánh Yên

Hiệu quả mô hình liên kết sản xuất khoai tây vụ đông ở Khánh Yên

Từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, vụ đông năm nay, xã Khánh Yên đã triển khai mô hình liên kết trồng khoai tây với doanh nghiệp trên diện tích 6,5 ha. Mô hình bước đầu cho thấy hiệu quả rõ nét khi năng suất cao, đầu ra ổn định, góp phần nâng cao thu nhập và tạo tiền đề mở rộng sản xuất trong những vụ tiếp theo.

Đòn bẩy giảm nghèo ở Mỏ Vàng

Đòn bẩy giảm nghèo ở Mỏ Vàng

Đường vào Mỏ Vàng - xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai, những ngày cuối năm vẫn gập ghềnh, quanh co, nhưng nơi đây đã hiện hữu sự khởi sắc, bởi nhiều gia đình mạnh dạn chăn nuôi, phát triển kinh tế hiệu quả, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.

Để Lào Cai trở thành trung tâm dược liệu quốc gia

Để Lào Cai trở thành trung tâm dược liệu quốc gia

Ôm trọn dãy Hoàng Liên Sơn, Lào Cai sở hữu hệ sinh thái đặc thù - môi trường lý tưởng của hàng trăm loài dược liệu quý. Từ lợi thế đó, những năm qua, tỉnh đã từng bước hình thành vùng trồng dược liệu với hơn 6.500 ha, sản lượng khoảng 30.000 tấn mỗi năm, tổng giá trị ước gần 900 tỷ đồng.

Đẩy nhanh tiến độ san tạo mặt bằng, khôi phục sản xuất tại Làng Nủ

Đẩy nhanh tiến độ san tạo mặt bằng, khôi phục sản xuất tại Làng Nủ

Những ngày này, trên công trường dự án san tạo mặt bằng, khôi phục sản xuất tại khu vực Làng Nủ (xã Phúc Khánh), không khí làm việc trở nên hối hả hơn bao giờ hết. Đơn vị thi công đang tranh thủ thời tiết thuận lợi, huy động tối đa nhân lực và phương tiện, nỗ lực đẩy nhanh tiến độ nhằm sớm bàn giao đất cho người dân khôi phục sản xuất.

fb yt zl tw