Thầy Siệu

LCĐT - Một ngày đầu hạ, khi tiếng ve râm ran trên những tán phượng, tôi ngược núi đến thôn Tả Chải, xã Tả Phìn (thị xã Sa Pa) để gặp một người thầy đặc biệt.

Ông là Nghệ nhân Ưu tú Tẩn Vần Siệu, dân tộc Dao. Dù chưa một ngày theo học ngành sư phạm, cũng không thuộc biên chế của ngôi trường nào, nhưng khi nhắc tới ông, rất nhiều người vẫn dành sự yêu mến và kính trọng gọi là “thầy Siệu”.

Người thầy “khuyết” và những vần nôm Dao tròn

Con dốc nhỏ từ tuyến đường bê tông của thôn dẫn vào nhà thầy Siệu sau cơn mưa đêm qua trở nên trơn trượt và khó đi hơn. Từ đầu ngõ, tôi đã nghe tiếng trẻ đọc bài thật vui tai. Bên trong ngôi nhà gỗ rộng chừng 200 m2, thầy Siệu kê 5 chiếc bàn cho gần 40 học sinh ngồi quây tròn. Do đến vào giữa giờ học nên tôi lặng lẽ ngồi tại khu bàn uống nước bên hiên để không ảnh hưởng đến tiết học của các em.

Trong lớp học, sau nhịp thước gõ của thầy, đám trò nhỏ đồng thanh đọc rõ ràng từng câu tiếng nôm. “Gián chi song mỹ, hủy chi lưỡng thương, tán thán phúc sinh, tác phẫn ác sinh/Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh, tích ác chi gia, tất hữu dư ương/Hữu tranh nhàn khí, nhật hữu bình tây/Lai chi bất thiện, khứ chi dị hĩ” (Sau nhờ thầy dịch: Khuyên can người đôi bên đều lợi, chê bai người cùng thiệt cả hai/Tích đức nhiều phúc, tích ác lắm họa/Đừng tức chuyện không đâu, trời có lúc xế bóng/Của đến bất nghĩa, ra đi dễ dàng).

Giờ giải lao, tôi ngồi trò chuyện cùng thầy Siệu. Nhấp ngụm nước lá rừng, thầy Siệu trầm buồn nhớ lại: Năm 19 tuổi, tôi gặp một tai nạn và mất một mắt, một bàn tay. Lúc đó, tôi rất bi quan, bởi 15 năm theo học lớp nôm Dao cổ, đang chuẩn bị được làm lễ cấp đèn làm thầy. Nhiều ngày liên tiếp sau tai nạn, tôi tự nhốt mình trong nhà vì quá buồn. Nhưng rồi tôi nghĩ, không thể bỏ phí nhiều năm theo học, mình phải có trách nhiệm gìn giữ vốn văn hóa truyền thống, phải truyền đạt lại những gì đã được học cho thế hệ trẻ.

Thầy Tẩn Vần Siệu luôn tận tình chỉ bảo cho học sinh những câu nôm Dao cổ.
Thầy Tẩn Vần Siệu luôn tận tình chỉ bảo cho học sinh những câu nôm Dao cổ.

Nghĩ là làm, thầy Siệu bàn việc mở lớp dạy chữ nôm Dao miễn học phí nhưng nhiều người trong gia đình phản đối bởi khi đó đời sống khó khăn quá, bữa ăn ngày mai còn phải lo từ tối hôm nay thì nuôi sao nổi học trò. Nhưng rồi nhờ kiên trì thuyết phục, tâm nguyện mở lớp học nôm Dao cổ của thầy Siệu đã trở thành hiện thực.

Nhìn về phía đám trò nhỏ, thầy Siệu bảo, một học trò để đọc thông, viết thạo phải theo học 3 năm liên tục, 2 năm đầu học chữ và cách đọc thuộc lòng, nhận thức về đạo lý làm người. Đến năm thứ 3, các trò được dạy các bài cúng, bài hát dân tộc Dao và cách thức tổ chức các nghi lễ như lễ cấp sắc, lễ cúng ngày tết, ngày rằm...

Giờ ra chơi, khuôn viên nhà thầy Siệu trở nên vui nhộn bởi tiếng nô đùa của các học trò. Ở một góc sân, dăm ba bạn nhỏ chụm đầu cùng nhau đọc lại những câu dân ca cổ vừa học, thi thoảng một bạn cầm sách chạy lại hỏi thầy những từ chưa rõ nghĩa. Tôi đặc biệt chú ý đến hai bé trai đang ngồi đọc bài dưới tán cây bên hiên nhà. Lý Láo Tả, thôn Tả Chải đang ngồi hướng dẫn bạn học Tẩn Láo Lở, thôn Lâm Sinh, xã Liêm Phú (huyện Văn Bàn) những từ chưa hiểu. Tả năm nay 10 tuổi, đã theo học lớp thầy Siệu 5 năm nên em đã có thể đọc thạo và nhớ nhiều mặt chữ. Lở thì mới theo học được gần 10 buổi nên tranh thủ những giờ giải lao, em lại nhờ anh Tả giảng lại bài. Mỗi lần Lở đọc đúng, Tả lại nhìn em cười khích lệ, những tiếng cười vui trong trẻo theo đó cứ lan xa, khiến bầu trời mùa hạ của xứ sở sương mù hôm nay cũng trong veo thật lạ.

Bước qua hủ tục

Từ bao đời nay, đồng bào dân tộc Dao có quan niệm, con gái thì không được đi học lớp chữ nôm Dao. Họ cho rằng, nếu lớp học có sự xuất hiện của giới nữ thì các bài học về lễ cúng sẽ không còn linh nghiệm, điều đó khiến phụ nữ Dao chịu nhiều thiệt thòi. Là người có uy tín, lại đau đáu giữ gìn văn hóa truyền thống nên mong muốn xóa bỏ hủ tục để con gái người Dao có thể theo học các lớp nôm Dao cổ cứ cháy lên trong lòng thầy Siệu.

Phải thay đổi thói quen, những gì là lạc hậu. Với quyết tâm như thế, thầy Siệu “khăn gói quả mướp” đến các địa phương trong và ngoài tỉnh tìm gặp trưởng các dòng họ người Dao để thuyết phục. Ban đầu, điều thầy Siệu nhận về là những ánh mắt ngạc nhiên, những lời từ chối phũ phàng. Không nản chí, thầy Siệu kiên trì thuyết phục, có những trưởng dòng họ, thầy phải gặp 4 - 5 lần. “Mưa dầm thấm lâu”, dần dần thầy nhận được sự đồng tình của các trưởng dòng họ. Từ năm 2003 đến năm 2014, suốt thời gian mở lớp không có học sinh nữ, phải đến năm 2015 mới có nữ học sinh đầu tiên.

Cô bé Tẩn Mẩy Chiệp, 10 tuổi, nhà ở thôn Tả Chải, xã Tả Phìn, đã theo học lớp nôm Dao cổ của thầy Siệu được 5 mùa hè. Chiệp bảo, nhờ thầy mà em được học những điều hay, lẽ phải, biết giúp bố mẹ mỗi khi lễ, tết để thêm yêu và trân trọng văn hóa dân tộc mình. Nói rồi, Chiệp đọc cho tôi nghe những vần nôm Dao cổ rất rành mạch: “Đán hành hảo sự, mạc vẫn tiền trình/Dữ nhân phương tiện, tự kỳ phương tiện” (dịch: Việc cứ làm cho tốt, đừng tính chuyện mai sau/Làm lợi cho người, mình khắc có lợi).

Vừa làm thầy, vừa làm cha

Lớp học của thầy Siệu không chỉ có học sinh trên địa bàn thị xã Sa Pa, mà còn có cả những huyện khác trong tỉnh, vào dịp tết Nguyên đán, có thêm những học trò đến từ một số tỉnh lân cận. Mỗi năm, lớp học chỉ diễn ra trong thời gian nghỉ hè và nghỉ Tết. Vào dịp Tết, học sinh các nơi kéo về lớp học rất đông, bởi đồng bào Dao quan niệm, ngày Tết, tổ tiên cũng được nghỉ và sẽ về chứng kiến việc con cháu học hành chăm chỉ tiếp nối truyền thống dân tộc và xây dựng tương lai tốt đẹp hơn. Thời gian truyền dạy thường kéo dài 30 - 45 ngày liên tục nên các trò nhà xa sẽ ở lại cùng gia đình thầy. Vì thế, ngoài những giờ lên lớp với vai trò người thầy, ông còn gánh trọng trách làm cha, chăm sóc các con từ bữa ăn, giấc ngủ đến những ngày trái gió trở trời, dạy học trò đạo lý, kỹ năng như việc chăm sóc bản thân, nấu ăn, giặt đồ…

Vừa kết thúc năm học 2021 - 2022, em Lý San Mẩy, thôn Lâm Sinh, xã Liêm Phú được bố mẹ đưa đến lớp học chữ nôm Dao của thầy Siệu. Cô bé thôn quê 14 tuổi lần đầu xa nhà đến sống tập trung tại môi trường hoàn toàn mới khiến Mẩy không ít lần nhớ nhà khóc đòi về. Những lúc như thế, thầy gọi tất cả các bạn đến rồi ngồi quây quần kể chuyện vui. “Thầy Siệu dạy: Các con phải tập để trưởng thành, bố mẹ đã gửi đến lớp là mong các con học hành chu đáo. Nếu không học văn hóa truyền thống, sẽ không biết được những đạo lý tốt đẹp, sẽ trở thành những kẻ bạo cường, không giúp được gì cho quốc gia, dân tộc, gia đình. Nhờ những lời khuyên bảo của thầy, giờ em không khóc mỗi khi nhớ nhà”, Lý San Mẩy kể.

Giữ văn hóa truyền thống

Ngay từ khi còn trẻ, thầy Siệu đã luôn trăn trở làm thế nào để bảo tồn, giữ gìn chữ viết cổ, phong tục, tập quán của người Dao. Để thực hiện điều đó, thầy kỳ công chép các câu dân ca bằng chữ viết cổ và dịch sang tiếng phổ thông, việc làm này kéo dài suốt từ năm 1981 đến nay. Tiêu biểu như cuốn sách “Thông sâu” do thầy Siệu biên tập nói về tri thức dân gian, phong tục trong ma chay, cưới hỏi, xem ngày tốt, ngày xấu...; hoặc cuốn “Nghi lễ cấp sắc” ghi lại các nghi lễ và các điều cấm kỵ, giúp ích rất nhiều cho việc nghiên cứu và giới thiệu văn hóa đồng bào Dao.

Không chỉ dạy học, viết sách, thầy Siệu còn nhiệt tình tư vấn, giúp đỡ các thầy chữ nho khác, cung cấp giáo trình dạy học để họ cùng lưu giữ, bảo tồn chữ viết cổ và phong tục, tập quán của người Dao. Thầy tâm sự: Khi còn sức khỏe, tôi sẽ tiếp tục duy trì các lớp truyền dạy chữ viết Dao cổ tại địa phương, mở rộng các lớp truyền dạy tại các địa phương khác và nghiên cứu, biên soạn tài liệu về các giá trị văn hóa dân tộc Dao.

Tạm biệt thầy Siệu và những học trò dễ thương, tôi ra về mà bên tai vẫn văng vẳng những câu nôm Dao cổ đậm thanh âm văn hóa truyền thống.

Nội dung: Thu Ngọc

Trình bày: Ngọc Luyến

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y

Ở những bản làng người Bố Y hôm nay, hạnh phúc là cuộc sống đủ đầy, là tiếng nói, trang phục, phong tục và sự gắn kết cộng đồng được gìn giữ, trao truyền qua các thế hệ. Giữa nhịp sống hiện đại, người Bố Y ở Mường Khương đang từng bước dựng xây cuộc sống ấm no, đồng thời lưu giữ và phát huy niềm tự hào nguồn cội. Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh Lào Cai trân trọng giới thiệu loạt bài (2 kỳ) “Bản làng hạnh phúc của người Bố Y”.

Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y: Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Ở Thính Chéng, xã Mường Khương khi nhắc đến văn hóa của dân tộc Bố Y, người ta thường tìm đến bà Lồ Lài Sửu. Ngoài 60 tuổi, bà vẫn miệt mài sưu tầm, ghi nhớ những làn điệu dân ca, phong tục, nghi lễ của dân tộc mình. Mỗi lần nói về người Bố Y, về giá trị văn hóa đã theo mình suốt cuộc đời, bà Sửu vẫn rưng rưng xúc động. 

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Xác định tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ là nhiệm vụ quan trọng, thể hiện trách nhiệm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tỉnh Lào Cai đã huy động cả hệ thống chính trị cùng chung tay tìm kiếm, đưa các chiến sĩ cách mạng còn nằm lại nơi chiến trường trở về với gia đình, quê hương.

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Lào Cai là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư phân bố rải rác, khiến việc đầu tư, vận hành các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong khi ngân sách Nhà nước chưa thể đáp ứng nhu cầu đầu tư, sửa chữa và vận hành, việc quy hoạch lại hạ tầng cấp nước, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia đang rất cấp thiết.

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Xã Tằng Loỏng là địa bàn đông dân cư, tập trung Khu công nghiệp luyện kim, hóa chất trọng điểm của quốc gia và tỉnh, với nhiều doanh nghiệp, nhà máy đang hoạt động. Thế nhưng, giữa nhịp phát triển công nghiệp sôi động, người dân và công nhân lao động vẫn phải mua bán trong một khu chợ tạm hình thành từ nhiều năm trước. Sự thiếu hụt hạ tầng thương mại đang trở thành nghịch lý cần được giải quyết.

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Khi "vùng lõm" từng bước được phủ sóng, thông tin đến gần hơn với người dân, cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ, thị trường tiêu thụ cũng rộng mở hơn, tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Phía sau những khối nhà mang dáng dấp kiến trúc vùng cao là câu chuyện nhiều tháng ngày khảo sát, lắng nghe và điều chỉnh của những kiến trúc sư, với mong muốn dựng nên không chỉ một ngôi trường, mà còn là một không gian gìn giữ văn hóa cho học sinh nơi biên cương Tổ quốc.

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

fb yt zl tw