Nỗi lo sinh kế dưới cao trình 58 của hồ Thác Bà

Dưới cao trình 58 của hồ Thác Bà, mỗi khi nước rút, những dải đất bán ngập lộ ra, trở thành “tư liệu sản xuất” đặc biệt của hàng nghìn hộ dân ven hồ. Suốt hàng chục năm qua, người dân các xã quanh hồ, trong đó có xã Tân Lĩnh, đã tận dụng quỹ đất này để gieo cấy lúa, trồng ngô, hoa màu. Nhờ đó, nhiều gia đình có thêm nguồn lương thực, cải thiện thu nhập, ổn định cuộc sống. Thế nhưng, khi quy luật mực nước không còn “đúng hẹn”, sinh kế vốn bền bỉ theo năm tháng này đang đứng trước nhiều rủi ro.

0:00 / 0:00
0:00

Lộc trời từ đất bán ngập

Ở thôn Thủy Văn, việc gieo cấy dưới cao trình 58 đã trở thành tập quán sản xuất quen thuộc. Trong tổng số 146 hộ dân của thôn, có tới 120 hộ tham gia canh tác với diện tích trên 100 ha - con số phản ánh rõ mức độ phụ thuộc lớn của người dân vào quỹ đất bán ngập này.

Ưu điểm của diện tích canh tác dưới cao trình 58 là đất được bồi đắp phù sa hàng năm, độ phì nhiêu cao, cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Đặc biệt, người dân gần như không phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, chi phí đầu tư thấp nhưng năng suất lại cao hơn hẳn so với ruộng canh tác trên cao trình.

baolaocai-c_c8602t01-6888.png
Khi nước chưa rút người dân không thể xuống giống.

Gia đình bà Nguyễn Thị Phương là một trong những hộ tiêu biểu. Mỗi năm, bà canh tác khoảng 1,4 ha lúa dưới cao trình 58, thu về khoảng 7 tấn thóc - nguồn thu nhập chính nuôi sống cả gia đình. “Nhờ diện tích này mà cuộc sống gia đình ổn định, không phải lo thiếu lương thực”, bà Phương chia sẻ.

baolaocai-c_dsc09890.jpg
Diện tích ruộng dưới cao trình 58 mà nhiều năm gia đình bà Nguyễn Thị Phương gieo cấy giờ vẫn ngập nước.

Tương tự, gia đình ông Hoàng Văn Vi cũng gắn bó với mô hình canh tác này nhiều năm. Ngoài lúa, ông còn trồng ngô, với sản lượng khoảng 4 tấn hạt mỗi vụ. Theo ông, đặc thù canh tác dưới cao trình 58 là ít công chăm sóc, phù hợp với điều kiện lao động của người dân vùng hồ, nhưng hiệu quả kinh tế lại cao.

baolaocai-c_c8518t01.jpg
Không gieo cấy được lúa, gia đình ông Hoàng Văn Vi chuyển sang trồng ngô.

Khi nước không còn thuận mùa

Tuy nhiên, từ năm 2024 đến nay, mực nước hồ bắt đầu có những biến động bất thường. Đặc biệt, tình trạng nước rút chậm trong năm 2025 đã khiến nhiều diện tích không thể gieo cấy, đẩy người dân vào cảnh mất trắng.

Gia đình bà Nguyễn Thị Phương là một trong những hộ chịu ảnh hưởng nặng nề. Năm 2025, toàn bộ diện tích 1,4 ha của bà không thể xuống giống, đồng nghĩa với việc mất đi nguồn thu chính. Sang vụ Đông Xuân năm 2026, bà chỉ cấy được 1.400 m2, chưa bằng một phần nhỏ so với trước đây.

baolaocai-c_dsc09807.jpg
Mạ đã quá vụ cấy vì nước vẫn chưa rút.

"Canh tác dưới cao trình 58 nhiều năm nay đã mang lại thu nhập ổn định, nhưng giờ nước xuống chậm, chúng tôi không chủ động được. Mong muốn lớn nhất là thủy điện Thác Bà có thông báo sớm để người dân biết mà tính toán, tránh lãng phí tiền giống và công sức", bà Phương bày tỏ.

Không khả quan hơn, gia đình ông Hoàng Văn Vi cũng phải chuyển đổi phương án sản xuất. Do diện tích lúa chưa thể canh tác, ông buộc phải chuyển sang trồng cây khác, song hiệu quả không cao.

baolaocai-c_c8531t01.jpg
Ông Hoàng Văn Vi đang xuống giống ngô với tâm lý được ăn hoặc mất trắng.

"Năm nay tôi mới cấy được khoảng 2 kg thóc giống. Với diễn biến nước lên xuống như thế này, không biết có được thu hoạch hay lại mất trắng", ông Vi cho biết.

"Đánh bạc" với thiên nhiên

Khi nước không thuận, hầu hết các hộ canh tác dưới cao trình 58 đều chịu ảnh hưởng. Theo thống kê, từ năm 2024 đến nay đã có hơn 10 hộ dân ở thôn Thủy Văn không thể gieo cấy, mất nguồn thu, buộc phải đi làm ăn xa.

baolaocai-c-c8611t01.png
Mực nước hồ Thác Bà vẫn trên cao trình 58.

Theo ông Hoàng Văn Nghĩa - Trưởng thôn Thủy Văn, gieo cấy dưới cao trình 58 giống như đánh bạc với thiên nhiên. Có năm làm một vụ đủ ăn cả năm, nhưng cũng có năm mất trắng.

Thực tế này cho thấy tính bấp bênh của sinh kế “ăn theo nước”. Khi mực nước ổn định, người dân có thể chủ động sản xuất. Nhưng khi nước lên xuống thất thường, mọi kế hoạch đều bị đảo lộn.

baolaocai-c_dsc09825.jpg
Tranh thủ cấy khi nước rút.

Áp lực từ quy mô sản xuất lớn

Không chỉ riêng thôn Thủy Văn, toàn xã Tân Lĩnh hiện có trên 300 ha diện tích gieo cấy dưới cao trình 58. Với năng suất trung bình trên 5 tấn/ha, khu vực này đóng góp sản lượng lương thực đáng kể cho địa phương.

Tuy nhiên, quy mô lớn cũng đồng nghĩa với rủi ro lan rộng. Nếu nước rút chậm, toàn bộ diện tích có thể bị chậm thời vụ, ảnh hưởng đến năng suất. Ngược lại, nếu nước lên sớm, hàng trăm ha có nguy cơ mất trắng.

baolaocai-c_c8489t01-8144.png
Tận dụng diện tích lấn hồ, nhiều hộ có nguồn thu nhập ổn định.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu điều tiết nước phục vụ phát điện, mực nước hồ ngày càng khó dự đoán, khiến người dân không thể dựa hoàn toàn vào kinh nghiệm như trước.

Cần lời giải cho bài toán sinh kế

Trước những khó khăn đó, chính quyền địa phương đã đưa ra nhiều khuyến cáo. Ông Lục Văn Hiền - Phó Phòng Kinh tế xã Tân Lĩnh cho biết, xã thường xuyên tuyên truyền để người dân theo dõi mực nước hồ, từ đó chủ động sản xuất.

"Chúng tôi cũng sẽ phối hợp với thủy điện Thác Bà để nắm bắt tình hình nước lên, xuống, từ đó hướng dẫn người dân có nên gieo cấy hay không", ông Hiền cho biết.

baolaocai-c_c8590t01.jpg
Lãnh đạo Phòng Kinh tế xã Tân Lĩnh đi nắm bắt tình hình gieo cấy dưới cao trình 58 tại thôn Thủy Nông.

Tuy nhiên, theo người dân, việc theo dõi bằng kinh nghiệm là chưa đủ. Điều họ cần là thông tin chính xác, kịp thời từ đơn vị quản lý hồ để có thể chủ động kế hoạch sản xuất, tránh rủi ro và lãng phí.

Về lâu dài, các giải pháp như chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp, áp dụng kỹ thuật canh tác thích ứng, hoặc hỗ trợ sinh kế khác cũng cần được tính đến. Bởi nếu tiếp tục phụ thuộc hoàn toàn vào diện tích đất bán ngập, người dân sẽ luôn ở thế bị động trước những biến động của thiên nhiên.

baolaocai-c_dsc09903.jpg
Khi nước không thuận, việc xuống giống phải trông chờ vào thiên nhiên.

Sinh kế dưới cao trình 58 hồ Thác Bà đã nuôi sống nhiều thế hệ người dân ven hồ. Nhưng khi quy luật tự nhiên thay đổi, sinh kế ấy cũng trở nên mong manh. Để người dân không còn phải “đánh bạc” với mùa vụ, rất cần những giải pháp căn cơ, bền vững - không chỉ để bảo vệ một vụ mùa, mà còn để giữ vững cuộc sống của hàng nghìn hộ dân nơi đây.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Nuôi ong đất mang lại hiệu quả kinh tế

Nuôi ong đất mang lại hiệu quả kinh tế

Ong đất (ong bắp cày) vốn là loài hoang dã, song bằng sự cần cù và kiến thức tích lũy, nhiều thanh niên vùng cao đã thuần hóa và phát triển thành mô hình kinh tế mới. Từ một hướng đi còn tiềm ẩn rủi ro, nuôi ong đất đang dần mang lại hiệu quả rõ rệt, mở ra cơ hội thoát nghèo và tạo thu nhập ổn định cho người dân.

Tăng đồng thuận, đưa nghị quyết vào cuộc sống

Tăng đồng thuận, đưa nghị quyết vào cuộc sống

Để đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, Đảng bộ xã Khánh Yên đã gắn tuyên truyền, thống nhất nhận thức với những việc làm cụ thể. Khi chủ trương được truyền tải rõ ràng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu đúng, tin tưởng thì nội dung nghị quyết sẽ nhanh chóng được thực hiện hiệu quả.

Phòng, chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi thời điểm giao mùa

Phòng, chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi thời điểm giao mùa

Thời điểm giao mùa xuân - hè, nắng mưa thất thường, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi để nhiều dịch bệnh phát sinh trên đàn gia súc, gia cầm. Trước nguy cơ đó, các địa phương trong tỉnh đã tăng cường triển khai nhiều biện pháp phòng, chống dịch bệnh, đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện tiêm phòng vắc-xin, vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại nhằm bảo vệ an toàn cho đàn vật nuôi.

Lào Cai ban hành Kế hoạch quan trắc, cảnh báo môi trường nuôi trồng thủy sản năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030

Lào Cai ban hành Kế hoạch quan trắc, cảnh báo môi trường nuôi trồng thủy sản năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030

Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai vừa ban hành Kế hoạch quan trắc, cảnh báo môi trường nuôi trồng thủy sản năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh, nhằm chủ động theo dõi, kiểm soát môi trường tại các vùng nuôi trọng điểm, bảo đảm phát triển thủy sản hiệu quả và bền vững.

Cao su xanh trên đất vùng cao

Cao su xanh trên đất vùng cao

Từng được xem là loại cây kén đất, khó phát triển ở địa hình đồi núi cao, thế nhưng cây cao su đã sinh trưởng trên sườn dốc của các xã vùng cao Gia Hội, Sơn Lương, Liên Sơn, Văn Chấn… Không chỉ phủ xanh đất trống đồi trọc, loại cây trồng này còn tạo cơ hội việc làm, góp phần vào công tác an sinh xã hội cho người dân địa phương.

Giải pháp sản xuất chè xanh bền vững

Giải pháp sản xuất chè xanh bền vững

Thời điểm này, các vùng nguyên liệu chè trên địa bàn tỉnh đã bắt đầu thu hái lứa búp xuân. Dù thời tiết chưa thực sự thuận lợi, nhưng với sự đầu tư chăm sóc từ cuối vụ, những đồi chè của người dân đã đủ nguyên liệu làm chè xanh. Những sản phẩm chè xuân đã ra lò đến với người tiêu dùng, người làm chè xanh kỳ vọng niên vụ chè mới thắng lợi.

[Ảnh] Mùa “se duyên” cho bưởi

[Ảnh] Mùa “se duyên” cho bưởi

Khi hoa bưởi bước vào kỳ nở rộ, nhiều nhà vườn đã chủ động triển khai kỹ thuật thụ phấn nhân tạo nhằm nâng cao tỷ lệ đậu quả. Công việc tưởng chừng đơn giản này lại đòi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác tuyệt đối và phải thực hiện vào đúng “thời điểm vàng”. Đây chính là yếu tố then chốt quyết định năng suất và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân.

Tuần hoàn để tái sinh giá trị

Tuần hoàn để tái sinh giá trị

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, nông nghiệp là lĩnh vực chịu tác động trực tiếp, đồng thời là nguồn phát thải khí nhà kính đáng kể. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp bách phải chuyển đổi theo hướng xanh và bền vững. Tại Lào Cai, định hướng này đang được cụ thể hóa thông qua Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050”, với trọng tâm chuyển dịch từ mô hình sản xuất tuyến tính sang nông nghiệp tuần hoàn.

 Nâng cao giá trị và sinh kế bền vững

Phát triển kinh tế rừng ở Lào Cai: Nâng cao giá trị và sinh kế bền vững

Ngày Quốc tế về rừng (21/3) năm 2026 với chủ đề “Rừng và phát triển kinh tế bền vững” cho thấy một yêu cầu rõ ràng: rừng không chỉ để bảo vệ, mà còn phải tạo ra giá trị. Tại Lào Cai, cách tiếp cận này đang dần được cụ thể hóa khi rừng được nhìn nhận như một nguồn lực cho tăng trưởng xanh và sinh kế của người dân.

 Chị Ngân Thị Trang và hành trình xây dựng thương hiệu trà thảo mộc vùng cao

Chị Ngân Thị Trang và hành trình xây dựng thương hiệu trà thảo mộc vùng cao

Từ cây thảo mộc của vùng cao Lào Cai, chị Ngân Thị Trang - người con dân tộc Tày của xã Khánh Yên đã hiện thực hóa khát vọng làm giàu cho quê hương bằng tri thức và sự kiên trì. Trên cương vị Giám đốc Hợp tác xã Nông - lâm nghiệp Vạn An, nhiều năm qua chị đã xây dựng được thương hiệu trà thảo mộc chất lượng, từng bước mở rộng thị trường ra quốc tế. Từ đây, hợp tác xã đã tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số tại địa phương.

Dỡ “rào cản” để thoát nghèo

Dỡ “rào cản” để thoát nghèo

Xã Trạm Tấu nơi địa hình bị chia cắt mạnh bởi suối sâu và núi cao. Nhiều thôn, bản cách trung tâm xã hàng chục km đường rừng. Trong thời gian dài, giao thông luôn là “rào cản” lớn nhất khiến mọi nỗ lực phát triển kinh tế - xã hội của người dân gặp nhiều khó khăn.

Khi nguồn lực "chạm" tới vùng khó

Khi nguồn lực "chạm" tới vùng khó

Từ nguồn lực của các Chương trình mục tiêu quốc gia, đời sống đồng bào vùng cao Lào Cai đang đổi thay từng ngày. Thành quả đó không chỉ nhờ nguồn vốn, mà còn nhờ sự chủ động, sát sao của chính quyền cơ sở - những người gần nhất với cuộc sống người dân.

Phát triển bền vững từ trồng rừng thay thế

Phát triển bền vững từ trồng rừng thay thế

Những năm qua, tỉnh Lào Cai triển khai hiệu quả chính sách trồng rừng thay thế nhằm bù đắp diện tích rừng chuyển đổi sang các mục đích khác như: xây dựng thủy điện, thủy lợi, khai thác khoáng sản và các công trình hạ tầng dân sinh. Nhờ đó, nhiều diện tích đất trống, đồi núi trọc đã được phủ xanh.

Chàng trai người Mông với ước mơ làm giàu

Chàng trai người Mông với ước mơ làm giàu

Từ kiến thức tiếp thu được ở Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và học hỏi công nghệ nông nghiệp tiên tiến từ Israel, anh Sổng A Thắng - thanh niên người Mông ở thôn Khuôn Bổ, xã Hưng Khánh đã tạo nên bước đột phá trong phát triển kinh tế.

Trấn Yên: Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, hướng tới phát triển kinh tế bền vững

Trấn Yên: Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, hướng tới phát triển kinh tế bền vững

Trở lại Trấn Yên vào trung tuần tháng 3, tôi chứng kiến những bạt ngàn vùng quế, xanh mướt đồi chè và rừng tre măng Bát độ trải dài... các sản phẩm đều được chế biến ngay tại địa phương, tạo việc làm ổn định cho người lao động tại quê nhà. Trấn Yên hôm nay đang mang diện mạo mới, năng động, công nghiệp hóa và tràn đầy sức sống.

fb yt zl tw