Những trang tư liệu quý viết về Nguyễn Quang Bích lập căn cứ chống Pháp ở Văn Chấn - Nghĩa Lộ

YBĐT - Tháng 8 năm Nhâm Ngọ, con trai cả Nguyễn Quang Bích (còn gọi Ngô Quang Bích) là Ngô Quang Đoan, tự là Chương Phủ, hiệu là Tượng Phong có viết về tiểu sử và công trạng của cha với tiêu đề Ngư Phong tướng công hành trạng bằng chữ Hán để lại cho con cháu và hậu thế.

Bản dịch đầu tiên do cụ Vũ Đình Ngạn dịch từ một bản chữ Hán của Viện Hán Nôm. Giáo sư Đỗ Văn Hỷ căn cứ vào một bản chữ Hán khác do Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn sưu tầm được vào khoảng năm 1965 hiệu đính lại.

Đây không chỉ là một tác phẩm ghi chép về dòng họ, thân thế, sự nghiệp của tướng quân Nguyễn Quang Bích như một cuốn gia phả, mà còn được coi như là một tác phẩm văn chương thời cận đại. Đọc tác phẩm này, ta cảm kích nhận thấy hình ảnh Nguyễn Quang Bích có mặt không chỉ ở chốn sinh thành thuộc huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, mà còn bắt gặp ông ở nhiều nơi trong nước, giữ nhiều chức vụ quan trọng.

Đặc biệt từ năm Hàm Nghi thứ nhất, Ất Dậu (1885) khi Vua sắc phong ông làm Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần Thuần Trung tướng quân, hình ảnh ông nổi lên với tài thao lược, kiên trì cầm quân kháng chiến chống thực dân Pháp ở phủ Hưng Hóa và khắp các vùng rừng núi Tây Bắc của đất nước. Ông lập căn cứ ở Cẩm Khê (Phú Thọ) đến cuối năm 1886 sau khi đi công cán ở Vân Nam (Trung Quốc) về, ông lại cho xây dựng căn cứ địa tại vùng Nghĩa Lộ (châu Văn Chấn, nay thuộc tỉnh Yên Bái) để chống nhau với giặc Pháp lâu dài.

Tác phẩm Ngư Phong tướng công hành trạng của Ngô Quang Đoan đã kể lại chuyện, Nguyễn Quang Bích lập căn cứ kháng chiến chống Pháp ở vùng Nghĩa Lộ (Văn Chấn) khá cụ thể. Xét thấy đoạn văn này là nguồn tư liệu lịch sử rất quý cho những người quan tâm đến lịch sử - văn hóa vùng Văn Chấn - Nghĩa Lộ xem xét tham khảo, nên tôi xin trích đoạn văn này như sau: "Ông đến Vân Nam lần thứ hai. Tổng đốc là Sầm Dục Anh chuyển quốc thư tới triều đình nhà Thanh. Ông lưu lại ở nhà công quán đợi chiếu chỉ, trải qua ba tháng chưa thấy trả lời, các đồ hành lý để công quán bị kẻ gian lấy trộm. Ông đến hội đàm với Sầm Dục Anh. Dục Anh nói: "Nay triều Thanh vừa ký hiệp ước với người Pháp, việc cầu viện của ông khó xong. Bọn chúng tôi cảm kích vì tấm lòng trung nghĩa của ông, xin giúp riêng một số súng đạn. Ông về nước triệu tập nghĩa binh mưu việc lớn, chúng tôi sẽ gửi thêm súng đạn đúng kỳ hạn đưa sang". Điều đình xong, ông về nhà công quán thu xếp hành lý để về nước. Các quan văn võ Trung Quốc quen biết đều đến tiễn tặng. Nhưng ông đều không nhận. Những người cùng đi nói: "Người Trung Quốc tặng là lệ thường, vả lại nay hành lý xác xơ, nếu không nhận thì không có gì để chi phí trong khi đi đường". Ông nói: "Chuyến đi này một thân ta tuy nhỏ, nhưng hệ trọng tới việc nước nếu nhận của biếu, sợ mất quốc thể. Bọn ta còn có được chút ít quần áo khi cần bán đi cũng có thể tạm đủ".

Ông giục gấp đường về, lại đóng tạm ở châu Văn Chấn. Chưa bao lâu, quả nhiên đúng hẹn, Sầm Dục Anh gửi sang 600 khẩu súng, 60 hòm đạn, hai nghìn cân thuốc phiện, kèm theo các đồ hành lý bị mất trộm trước kia, mới điều tra ra, gửi trả. Ông thu nhận xong, cho triệu tập các nghĩa quân lân cận đến phân phát súng đạn. Rồi lập đồn lớn ở châu Văn Chấn làm kế chống giặc lâu dài. Hình thế ở đây có nhiều thuận lợi cho việc đóng quân. Ở giữa có một thung lũng độ 10 mẫu, lại có hai suối bao bọc chung quanh. Nhân dân 3 tổng ở quây quần, ruộng đất màu mỡ, thóc gạo dư thừa. Phía Bắc có suối nước nóng quanh năm, đến mùa đông lại càng nóng. Phía Nam có động đá, bên trong có đường đi ra bốn phía, lại có nhiều thạch bàn rộng có thể nằm ngồi được. Bốn mặt có núi cao bao bọc như bức thành chỉ có 3 con đường hẻm có lối ra châu khác. Ông liền lập một doanh trại ở giữa. Đường hiểm về phía bên phải là Đèo Ách do Chánh đề đốc Kiều đem quân đóng giữ. Đường hiểm trở bên trái tục gọi là Đèo Pha, sai Phó đề đốc Mạc đem quân đóng giữ. Một đường phía sau tục gọi là Khê Vu sai lãnh binh là Vương Văn Doãn đem vệ binh và quân Thanh mới quy phục đóng giữ. Các châu và huyện tranh nhau đem nộp lương thực, đều nộp vào kho dự trữ. Các dân tộc ít người như Thổ, Mường, Mèo, Mán đều phục tùng mệnh lệnh.

Bấy giờ các đoàn quân khởi nghĩa ở miền Trung và miền Bắc: võ tướng như Đề Cương, Đề Cồ ở Sơn Tây; Đề Vân, Đề Vinh ở Bắc Ninh; Đề Tính, Đề Nho ở Bãi Sậy (Hưng Yên); Đề Vũ ở Nam Định; Đề Ngữ ở Thanh Hóa; Đề Nhường, Đề Quảng ở Thái Bình đều do ông cấp phát văn bằng và điều khiển. Văn thần như Chu Thiết Nhai ở Hồ Nam; Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh; Tống Duy Tân ở Thanh Hóa; Nguyễn Tử Ngôn ở Ninh Bình; Nguyễn Thiện Thuật ở Hải Dương; Nguyễn Tán Lý ở Phù Khê; Nguyễn Tán Dương ở Bất Bạt; Đàm Trí Trạch ở Nam Định, đều vượt suối băng ngàn đến bàn tính việc phục quốc, công văn đi lại liên tục như mắc cửi.

Khoảng năm Đinh Hợi (1887), quân Pháp đi lẻn theo đường hẻm, từ Lai Châu đến đánh úp phía sau đồn. Lãnh binh Vương Văn Doãn được tin báo liền điều động vệ binh và quân lính người Thanh chia đường phục sẵn. Khi giặc Pháp tiến vào, phục binh đều đổ ra bắn giết, hai bên bắn nhau dữ dội suốt một ngày đêm. Quân Pháp chết và bị thương rất nhiều phải rút lui. Quân ta vì có ít không dám đuổi theo, chỉ bắt được vài chục khẩu súng đem nộp cho đại bản doanh. Giặc Pháp chở xác chết, cáng thương binh theo đường cũ rút lui. Đồng bào Mèo, Dao biết giặc Pháp thua to liền đốc nhân dân các động ra chặn đường diệt giặc và thu được súng đạn rất nhiều. Hôm sau đem nộp ở doanh trại, ông truyền đem tiền bạc úy lạo cho dân. Đồng bào Mèo, Dao reo mừng cảm tạ. Cách một tháng, giặc Pháp lại đến đánh đồn bên trái, giao tranh mấy trận rồi lại rút quân. Bốn năm tháng hoàn toàn không động tĩnh.

Sau đó đến tháng 3 năm Mậu Tý (1888), có tin báo có độ bốn năm mươi quân Pháp đến khiêu chiến ở đồn bên tả. Tướng sĩ ta đều coi là thường bảo nhau rằng: "Bằng ấy quân lính chẳng đáng lo ngại", không ngờ giặc Pháp dùng mẹo "dương đông kích tây" đem đại binh lẻn theo đường Lạo Khê, tắt qua đường rừng đến thẳng sau lưng đồn Đèo Ách. Đồn này do Chánh đề đốc Kiều đóng giữ cậy thế hiểm trở, trước nay chưa từng bị quân Pháp đến đánh nên chủ quan, phòng bị có phần thiếu chu đáo. Đột nhiên quân giặc đã đông lại ập đến bất ngờ, nên tướng sĩ trở tay không kịp, phải phân tán chạy đi bốn phía. Giặc Pháp ồ ạt kéo vào. Đồn bên trái và đồn phía sau nghe tin có giặc đánh đồn bên phải, kéo quân đến cứu viện thì đồn lớn ở giữa đã bị giặc chiếm rồi. Ông phải tạm lánh vào động người Mèo, rồi rút về thủ hiểm ở châu Phù An. Sau 2 ngày được tin báo quân định rút lui, ông quay về đồn cũ, lại nghe tin thắng trận ở Dụ Phong. Nghĩa quân do Đề Cương (Hoàng Đinh Cương) chỉ huy thắng to, chém được 13 đầu Tây đưa về. Lính Pháp và lính ngụy vừa bị thương vừa chết đến năm sáu trăm người, quân trang quân dụng thu được rất nhiều. Ông có cảm xúc làm bài thơ:

Thoái xá sơn đồn tọa tịch huy
Tự lân điều độ thất tiên ky (cơ)
Gia Nguyên tiệp hỷ liên thời đáo
Thập giải phiên đầu mã tự phi!

Tạm dịch:

Lui đóng sơn đồn, bóng xế tây
Giận mình điều động lỡ cơ hay
Gia nguyên thắng trận tin đồn đến
Mười giải phiên đầu phóng ngựa bay.

Bấy giờ, Hiệp đốc đại thần là Nguyễn Văn Giáp ốm nặng. Ông vẫn đóng quân ở động Mèo. Vừa được hai ngày, thì người dò tin lại báo, quân Pháp đã rút hết, ông trở về đồn cũ thì chẳng may Hiệp đốc đại thần Nguyễn Văn Giáp từ trần. Ông chôn cất và tế xong, ông bảo với tướng sĩ: "Giặc Pháp sợ ta phản công cho nên tạm rút về, đường sá thực hư chúng đã biết rõ, nơi này không nên ở lâu", rồi ông nhổ trại về xã Quế Sơn, thuộc châu Yên Lập tìm đất lập dinh trại, các tỳ thuộc đều sai về nơi cũ để quân sĩ nghỉ ngơi".

Hoàng Việt Quân (Sưu tầm)

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Lặng thầm giữ gìn sắc màu văn hoá

Lặng thầm giữ gìn sắc màu văn hoá

Giữa nhịp sống hiện đại, ở thôn Kiên Lao, xã Quy Mông có nghệ nhân Hà Thị Thanh Tịnh lặng lẽ gìn giữ làn điệu dân ca, điệu múa truyền thống của dân tộc mình bằng tất cả đam mê và trách nhiệm. 

Giáo dục văn hóa địa phương cho thế hệ trẻ

Giáo dục văn hóa địa phương cho thế hệ trẻ

Trong kỷ nguyên số, sự bùng nổ các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới kéo theo sự xâm nhập của các yếu tố gây xung đột giá trị và tác động tiêu cực đến việc gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, truyền thống, nhất là đối với người trẻ. Do vậy, cấp ủy, chính quyền các địa phương trong tỉnh đóng vai trò là “lá chắn” bảo vệ bản sắc, xây dựng sức đề kháng văn hóa cho thanh niên.

Khi văn hóa trở thành tài nguyên du lịch

Khi văn hóa trở thành tài nguyên du lịch

Trong xu thế phát triển du lịch hiện nay, nhiều địa phương không còn dừng ở việc “khoe” cảnh quan thiên nhiên, mà đã chuyển sang gìn giữ, khai thác chiều sâu giá trị văn hóa. Tại Tú Lệ, hướng đi này đang được lựa chọn một cách rõ ràng - coi văn hóa là tài nguyên cốt lõi, là nền tảng để phát triển du lịch gắn với sinh kế lâu dài.

Nghĩa Đô - miền quê đáng sống

Nghĩa Đô - miền quê đáng sống

Phát triển du lịch cộng đồng gắn với nông nghiệp bền vững, giữ vững an ninh trật tự, xây dựng địa bàn không ma túy - đó là cách mà xã Nghĩa Đô, tỉnh Lào Cai đang kiên trì thực hiện, từng bước kiến tạo một miền quê đáng sống.

Mang bản sắc xuống phố bằng tư duy kinh tế

Mang bản sắc xuống phố bằng tư duy kinh tế

Năm 2025, tốt nghiệp đại học loại Giỏi nhưng không chọn con đường ổn định nơi phố thị - Giàng Thị Gấm, dân tộc Mông (23 tuổi) sinh ra và lớn lên ở thôn Ngã Ba, xã Si Ma Cai đã trở về quê hương khởi nghiệp với việc mở cơ sở Thiết kế trang phục dân tộc Mông cách tân - Mongi tại thôn Sản Sín Pao, xã Sín Chéng.

Lễ hội quả Còn Nghĩa Đô 2026: Tôn vinh bản sắc dân tộc Tày

Lễ hội quả Còn Nghĩa Đô 2026: Tôn vinh bản sắc dân tộc Tày

Vừa qua, tại thôn Mường Kem, UBND xã Nghĩa Đô tổ chức Lễ hội quả còn năm 2026. Sự kiện nằm trong chuỗi hoạt động chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026) và 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Ngày mới ở bản mây Lao Chải

Ngày mới ở bản mây Lao Chải

Về thôn Lao Chải, xã Y Tý, bản làng như ẩn mình trong mây. Buổi sớm đầu hè vẫn phảng phất chút se lạnh, đủ để tôi phải khoác thêm chiếc áo gió mỏng. Trước mắt là những mái nhà trình tường được bao quanh bởi mây trắng và núi rừng. Trong vẻ bình yên quen thuộc ấy, đời sống người Hà Nhì nơi đây đang từng bước đổi thay.

Người lính lái xe trên đường Trường Sơn huyền thoại

Người lính lái xe trên đường Trường Sơn huyền thoại

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường Trường Sơn đã trở thành huyền thoại bởi ý chí của những con người quả cảm, gan dạ, anh hùng. Cựu chiến binh Trần Huy Hùng, thuộc Đại đội 8, Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 512, Sư đoàn 571 là một trong những người lính như thế. Nhập ngũ năm 1971, ông đã trực tiếp cầm lái qua những cung đường khốc liệt nhất, góp phần viết nên bản hùng ca về sự hy sinh và khát vọng thống nhất đất nước.

Tổng duyệt Chương trình nghệ thuật chào mừng Kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước

Tổng duyệt Chương trình nghệ thuật chào mừng Kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước

Tối 29/4/2026, tại Quảng trường 19/8, phường Yên Bái, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai đã tổ chức tổng duyệt chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) và 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026).

fb yt zl tw