Nạn đói năm 1945 dưới góc nhìn sử học

Nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, cuốn sách “Sự thật về nạn đói năm 1945” của nhà sử học Nguyễn Quang Ân được xuất bản, nhằm tái hiện chân thực thảm họa khiến hơn 2 triệu người Việt Nam thiệt mạng.

sach-nan-doi-8911.jpg
Cuốn sách 'Sự thật về nạn đói năm 1945' của nhà sử học Nguyễn Quang Ân do NXB Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành.

Số liệu rợn người

Cuốn sách do NXB Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành, là một công trình sử học đặc biệt, không chỉ khơi dậy ký ức bi thương, mà còn soi tỏ nguyên nhân lịch sử và hun đúc tinh thần yêu nước, ý chí độc lập dân tộc trong thời khắc vận mệnh đất nước đứng trước bước ngoặt, thôi thúc nhân dân vùng lên giành quyền làm chủ.

Trong đó, nạn đói năm 1945 với hơn 2 triệu người chết không thể bị lãng quên như một biến cố ngẫu nhiên, mà cần nhìn nhận như là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy cuộc cách mạng vĩ đại của dân tộc.

Cuốn sách “Sự thật về nạn đói năm 1945” (qua tư liệu và ký ức lịch sử) của nhà sử học Nguyễn Quang Ân là một công trình nghiên cứu, tiếp cận nạn đói không chỉ như một sự kiện nhân đạo, mà còn như một mắt xích quan trọng trong tiến trình lịch sử.

Với hơn 700 trang tư liệu, khảo cứu và điều tra thực địa, cuốn sách góp phần cung cấp thêm các chứng cứ, góc nhìn, làm rõ bản chất, nguyên nhân, hậu quả cũng như mối liên hệ giữa thảm họa nạn đói năm 1945 và Cách mạng Tháng Tám. Tác giả không chỉ sưu tầm tài liệu đương thời, mà còn trực tiếp thực hiện cuộc điều tra xã hội học lịch sử tại 19 địa điểm ở 8 tỉnh miền Bắc từ đầu những năm 1990.

Các tư liệu điều tra định lượng từ Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Ninh Bình, Hà Tây, Hòa Bình, Vĩnh Phú và Hưng Yên (trước khi sáp nhập, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp) cho thấy mức độ khốc liệt vượt xa mọi mô tả trong văn chương và báo chí đương thời.

nha-su-hoc-2790.jpg
Nhà sử học Nguyễn Quang Ân.

“Chúng tôi được nghe người dân các làng quê kể lại tường tận những gì chứng kiến, những gì diễn ra với chính họ và gia đình. Nạn đói trên thực tế kinh hoàng hơn nhiều, bi thảm, khốc liệt hơn nhiều so với những gì tôi đã đọc, đã nghiên cứu trước đó”, nhà sử học Nguyễn Quang Ân cho hay.

Tại nhiều xã như Việt Thuận (Thái Bình trước đây), Quần Mục (Hải Phòng) hay Tây Yên (Ninh Bình), số người chết đói chiếm tới 40 - 50% dân số chỉ trong vòng vài tháng. Những câu chuyện người dân ăn rêu, gặm vỏ chuối, đập chuột nướng ăn, hay nhặt xác người để… nấu cháo, không còn là truyền miệng mà được ghi lại bằng chứng cứ khảo sát, nhân chứng, ảnh chụp và thống kê cụ thể.

Ông Ân cho biết, thời điểm năm 1993 khi đến Quần Mục khảo sát, nhiều người già vẫn nhớ như in thảm cảnh nạn đói, họ nhớ cả những nấm mồ tập thể. Khi xã chủ trương xây dựng chợ ở bãi tha ma cũ, đã xác định được 207 bộ hài cốt là người chết đói nằm chung một hố ở các tư thế sấp, nghiêng, co quắp. Có cả những hài cốt vẫn nguyên sợi dây dùng để kéo, quăng ra bãi.

Thôn Quần Mục có 355 hộ thì 251 hộ có người chết đói, trong đó 97 hộ chết hết; có 2.052 người thì chết đói 1.206 người (tỉ lệ chết 58,77%). Ở xã Tây Lương (Thái Bình trước đây) có gia đình chết hết, đến khi thối rữa bốc mùi, làng xóm mới phát hiện ra. Có gia đình 4 thế hệ gồm 31 người thì chết đói 26 người.

Có chi họ 15 gia đình với 74 nhân khẩu thì chết đến 61 người. Họ Tô ở xóm Bối Xuyên chỉ còn 1 người thoát chết là ông Tô Nuôi, do được làng xóm nuôi sống để giữ giống cho dòng họ này.

Những số liệu rợn người ở từng tỉnh, xác người chất đống ngoài nghĩa địa, trẻ em lang thang xin ăn bên xác mẹ đã trở thành tiếng nói tố cáo hùng hồn nhất về một thảm họa do con người gây ra. Không thể phủ nhận thiên tai, sâu bệnh và mất mùa là những nguyên nhân tự nhiên dẫn đến thiếu lương thực.

Nhưng căn nguyên sâu xa và trực tiếp chính là chính sách bóc lột, trưng thu thóc gạo khắc nghiệt của phát xít Nhật và thực dân Pháp.

Hiểu rõ quá khứ để trân trọng hiện tại

Nhà sử học Nguyễn Quang Ân kể: “Mấy ngày liền tôi ngồi nghe nhiếp ảnh gia Võ An Ninh kể về từng bức ảnh mà ông đã chụp, từ ngày tháng cho đến địa điểm chụp đều rất rõ ràng. Ông bảo, có người còn “ngắc ngoải” vẫn bị vứt lên xe kéo đi xếp cùng các xác chết. Họ đã cố kêu lên, nài nỉ: “Tôi chưa chết đâu, đừng mang tôi đi chôn”.

Qua các tư liệu và bằng chứng xác thực, nhà sử học Nguyễn Quang Ân cho rằng, hàng trăm nghìn hecta lúa ở Đồng bằng Bắc Bộ bị nhổ để trồng đay phục vụ chiến tranh. Tuyến vận tải gạo từ Nam ra Bắc bị cắt đứt.

Thóc gạo bị cấm bán, cấm lưu thông, bị tích trữ theo lệnh nhà nước. Thuế thân vẫn thu, thậm chí còn tăng trong thời điểm nhân dân chết đói. Trong khi ấy, bộ máy cai trị lại bất lực, thờ ơ, thậm chí tham nhũng trong cả việc phát gạo cứu đói.

nan-doi-1385.jpg
Bức ảnh chụp về nạn đói năm 1945 của nhiếp ảnh gia Võ An Ninh.

Từ phân tích các văn bản gốc, tác giả khẳng định đây là một “nhân họa”, một thảm kịch do chính sách phi nhân đạo của chính quyền chiếm đóng gây ra. Đặt nạn đói vào dòng chảy lịch sử, cho thấy chính thảm họa này đã trở thành giọt nước tràn ly, khiến lòng căm phẫn và tuyệt vọng trong dân chúng bùng phát thành sức mạnh cách mạng.

Hàng triệu người Việt Nam không chỉ chết đói, mà còn chết trong uất nghẹn nên đã thổi bùng khát vọng độc lập, thôi thúc toàn dân vùng lên trong Cách mạng Tháng Tám.

Dưới góc nhìn sử học, nạn đói 1945 không còn là một sự kiện tách rời hay một bi kịch nhân đạo đơn lẻ, mà là một phần không thể thiếu của tiến trình lịch sử Việt Nam hiện đại. Trong “Tuyên ngôn độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đến thảm họa này như một bằng chứng không thể chối cãi về tội ác của chế độ thực dân - phát xít và tính chính đáng của nền độc lập.

Ngày 2/9/1945 vì thế không chỉ là ngày khai sinh một quốc gia, mà còn là ngày khép lại một chương bi thương và mở ra hi vọng cho hàng triệu người đang giành lại quyền sống, quyền làm người và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Theo nhà sử học Nguyễn Quang Ân, 80 năm đã trôi qua kể từ nạn đói năm 1945, nhưng việc suy ngẫm về thảm họa này vẫn là điều cần thiết. Bởi trong bối cảnh thế giới đầy biến động, việc hiểu rõ nỗi đau của quá khứ chính là cách tốt nhất để trân trọng hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. Lịch sử không chỉ là những gì đã qua, mà còn là thứ tiếp tục định hình cách chúng ta sống, nghĩ và lựa chọn ngày hôm nay.

giaoducthoidai.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Lan tỏa bản sắc Mông từ tình yêu di sản

Lan tỏa bản sắc Mông từ tình yêu di sản

Sinh ra ở Mù Cang Chải, bén duyên làm dâu ở đỉnh núi mờ sương Suối Giàng, Thào Thị Trang từng ngày viết nên câu chuyện đẹp về tình yêu và khát vọng bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Mông. Không chỉ tỏa sáng trên các sân khấu lớn, Trang còn là “sứ giả” văn hóa thầm lặng ngay trên chính quê hương thứ hai của mình.

Nơi ký ức thắp sáng những vần thơ

Nơi ký ức thắp sáng những vần thơ

Giữa dòng chảy của đời sống đương đại, thơ ca vẫn là nơi con người tìm về để chữa lành tâm hồn, neo giữ ký ức thời gian. Thơ ca cũng trở thành nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại, gìn giữ những giá trị văn hóa, tình cảm gia đình và tình yêu nguồn cội. Để rồi, qua từng vần thơ mộc mạc mà sâu lắng, mỗi người như tìm thấy một miền ký ức của riêng mình, nơi những điều bình dị vẫn âm thầm nuôi dưỡng tâm hồn và làm nên sức sống của thi ca.

Giỗ Tổ Hùng Vương 2027: Lan tỏa giá trị di sản quanh năm

Giỗ Tổ Hùng Vương 2027: Lan tỏa giá trị di sản quanh năm

Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng và Năm Du lịch Đất Tổ 2027 được tỉnh Phú Thọ tổ chức với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao và du lịch xuyên suốt năm. Cách làm này hướng tới phát huy giá trị di sản, đa dạng hóa sản phẩm du lịch và thu hút du khách.

Vang tiếng khèn bè

Vang tiếng khèn bè

Ở tuổi ngoài 70, ông Lò Văn Hặc (tổ dân phố Tông Co 2, phường Nghĩa Lộ) vẫn nỗ lực gìn giữ và truyền dạy khèn bè Thái cho thế hệ trẻ. Với ông cũng như bao thế hệ người Thái, cây khèn bè không chỉ là nhạc cụ dân gian đơn thuần mà là linh hồn, sợi dây kết nối tâm linh và tình cảm cộng đồng của người Thái Mường Lò.

Xưởng may nhỏ góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống

Xưởng may nhỏ góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống

Trong dòng chảy hiện đại, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số đứng trước nguy cơ mai một. Tại xã Võ Lao, tỉnh Lào Cai, chị Hà Thị Minh, người dân tộc Tày, đang nỗ lực khôi phục nghề dệt, may trang phục truyền thống. Xưởng may nhỏ của chị vừa góp phần gìn giữ bản sắc, vừa tạo việc làm cho lao động địa phương.

Hợp Thành nỗ lực bảo tồn văn hóa các dân tộc

Hợp Thành nỗ lực bảo tồn văn hóa các dân tộc

Sở hữu kho tàng di sản văn hóa phong phú của các dân tộc Tày, Dao, Xá Phó, Giáy…, xã Hợp Thành đang triển khai nhiều giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Trong đó, phát huy vai trò của cộng đồng, nghệ nhân trong việc truyền dạy cho thế hệ trẻ được xác định là hướng đi quan trọng để di sản tiếp tục hiện diện trong đời sống.

Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2027: Tổ chức các hoạt động xuyên suốt cả năm

Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2027: Tổ chức các hoạt động xuyên suốt cả năm

UBND tỉnh Phú Thọ vừa ban hành Kế hoạch số 426/KH-UBND, ngày 24/10/2026 về tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng và Năm Du lịch Đất Tổ 2027, với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch được triển khai xuyên suốt năm, nhằm tôn vinh giá trị văn hóa cội nguồn, quảng bá hình ảnh địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Vũ điệu từ những chiếc bát nhỏ

Vũ điệu từ những chiếc bát nhỏ

Giữa nhịp sống hiện đại, điệu múa bát truyền thống của đồng bào Tày ở xã Văn Bàn vẫn được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Với những chiếc bát sứ nhỏ cùng ngọn nến lung linh, điệu múa không chỉ thể hiện sự khéo léo, uyển chuyển của người biểu diễn mà còn gửi gắm ước vọng về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, mùa màng tươi tốt, góp phần làm nên nét đẹp văn hóa độc đáo của người Tày vùng cao.

Khi tình yêu quê hương cất lời qua âm nhạc

Khi tình yêu quê hương cất lời qua âm nhạc

Lào Cai - dải đất biên cương địa đầu Tổ quốc, nơi có dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa cùng đại ngàn kỳ vĩ và bản sắc văn hóa đa dạng đã trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng bao tâm hồn nghệ sĩ. Giữa vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ của thiên nhiên, nhịp sống đang từng ngày đổi mới đã khơi dậy niềm tự hào, để tình yêu quê hương xứ sở được cất lời qua các giai điệu tươi mới, thiết tha...

Dâng Đảng niềm tin son sắt

Dâng Đảng niềm tin son sắt

Từ mạch nguồn cách mạng và tình yêu quê hương, các nghệ sĩ Chi hội Âm nhạc - Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh đã đưa hình tượng Đảng, đất nước và con người quê hương vào từng sáng tác bằng những giai điệu giàu cảm xúc, thấm đẫm hơi thở thời đại.

Xử phạt 55 triệu đồng đối với công ty tổ chức cuộc thi "Hoa hậu Bản sắc Việt Nam 2026"

Xử phạt 55 triệu đồng đối với công ty tổ chức cuộc thi "Hoa hậu Bản sắc Việt Nam 2026"

Công an TP Hà Nội mới xử phạt Công ty Giải trí truyền thông Son 55 triệu đồng vì tổ chức cuộc thi “Hoa hậu Bản sắc Việt Nam 2026” khi chưa có văn bản chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền. Trước đó, lực lượng chức năng kiểm tra đột xuất và yêu cầu tạm dừng cuộc thi để xác minh, làm rõ vi phạm.

Tưng bừng Lễ hội Đền Đôi Cô năm 2026

Tưng bừng Lễ hội Đền Đôi Cô năm 2026

Sáng 22/10, phường Cam Đường tổ chức Lễ hội Đền Đôi Cô năm 2026 tại Di tích lịch sử văn hóa Đền Đôi Cô - chùa Cam Lộ, thu hút sự tham dự của đông đảo đại biểu, Nhân dân và du khách thập phương.

Từ miền biên viễn “Gửi một vòng tay”

Từ miền biên viễn “Gửi một vòng tay”

Có những câu thơ được viết ra từ một khoảnh khắc, rồi ở lại với người viết qua nhiều năm tháng. Với nhà thơ Phạm Hồng Thạo, hơn 30 năm gắn bó với thơ ca cũng là hơn 30 năm ông đi qua những miền đất, gặp những con người và lưu giữ những cảm xúc của riêng mình. Những trải nghiệm ấy, theo thời gian, trở thành chất liệu cho thơ, để mỗi lần trở lại với trang viết, ông có thêm những điều để nhớ, để nghĩ và để viết.

Phụ nữ vùng cao và sứ mệnh gìn giữ di sản

Phụ nữ vùng cao và sứ mệnh gìn giữ di sản

Suốt bao thế hệ, mạch nguồn văn hóa các dân tộc vẫn bền bỉ chảy trong đời sống cộng đồng nhờ sự gìn giữ, trao truyền của những người phụ nữ vùng cao. Từ những câu hát Sình Ca của người Cao Lan, làn điệu Khắp Cọi của người Tày đến các điệu xòe cổ của người Thái, họ gìn giữ ký ức văn hóa dân tộc, đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với thế hệ trẻ.

fb yt zl tw