Nhớ người thầy thuốc giàu lòng nhân ái Nguyễn Tài Thu

Tôi đã nhiều lần được gặp gỡ, làm việc với Giáo sư Nguyễn Tài Thu, trong đó lần gặp đầu năm 1996 đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc.

Buổi gặp gỡ, làm việc với Giáo sư tại Viện Châm cứu Việt Nam ở Vĩnh Hồ, Thái Thịnh – Hà Nội còn có họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng, Ủy viên Thường trực Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phú (sau này nhiều năm là Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ).

Đến nơi, chúng tôi phải chờ khoảng 15 phút vì sau khi bế mạc Hội nghị khoa học, giáo sư lại bận tiếp một đoàn khách quốc tế đến tham quan, học tập kinh nghiệm.

Trong căn phòng làm việc giản dị của Giáo sư có một tủ sách với hàng trăm cuốn sách, tạp chí bằng các thứ tiếng: Việt, Anh, Pháp, Trung Quốc... Đó là các công trình khoa học, y học của các tác giả trong và ngoài nước nói chung, của giáo sư Nguyễn Tài Thu nói riêng.

Lướt nhìn trên giá sách, chúng tôi thấy nhiều cuốn đề tên Giáo sư Nguyễn Tài Thu như: Nghiên cứu châm tê trong phẫu thuật, Tân châm, Châm cứu chữa bệnh, Thủy châm – nhĩ châm – mai hoa châm, Châm tê trong phẫu thuật (tiếng Pháp)...

Giáo sư Nguyễn Tài Thu.
Giáo sư Nguyễn Tài Thu.

Ấn tượng đầu tiên của chúng tôi trong buổi gặp gỡ này là tình cảm chân thành, thái độ niềm nở, tác phong làm việc nhanh nhẹn, khoa học của Giáo sư bác sĩ Nguyễn Tài Thu.

Với gương mặt phúc hậu, nước da trắng hồng, giọng nói nhỏ nhẹ tình cảm, trông giáo sư có vẻ trẻ hơn tuổi 65 của mình.

- Xin giáo sư cho biết một vài kỷ niệm về thời kỳ học tập tại trường THPT Hùng Vương (Phú Thọ)? – Biết giáo sư là học sinh cũ trường Hùng Vương, họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng đã mở đầu cuộc trò chuyện bằng câu hỏi đó. Giáo sư vui vẻ trả lời:

- Tôi là học sinh trường Hùng Vương khóa học 1947-1949, thời kỳ nhà trường sơ tán ở Yên Luật, Văn Bán. Vừa qua, chúng tôi về dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường. Buổi lễ thật đông vui và cảm động. Các thế hệ thầy trò, ông cháu, cha con, bạn bè đã gặp nhau trong cuộc gặp mặt lớn của trường trong thế kỷ XX – Dừng lại một chút, Viện trưởng Nguyễn Tài Thu nói tiếp:

- Tôi vô cùng xúc động và vinh dự mỗi khi nghe nhắc tới tên trường Hùng Vương yêu quý! Những tháng ngày của tuổi niên thiếu sống dưới mái trường đơn sơ của trường, bên tình thân yêu của các thầy, các cô chẳng ai quên được như: thầy Toại, thầy Tuấn, cô Nhu, thầy Bỉnh... luôn luôn ghi sâu trong lòng tôi những hình ảnh vô cùng tươi sáng của thầy và trò trường Hùng Vương lịch sử.

Chính những hình ảnh đó là nguồn cổ vũ động viên chúng tôi trong những ngày gian khổ chống Pháp, chống Mỹ và cả trong quá trình học tập, nghiên cứu, sáng tạo và lao động để có những thành tựu khoa học ngày nay. Bản thân tôi cũng như những bạn bè thuở xưa ấy ở Hùng Vương đã được rèn luyện và trưởng thành là nhờ có sự dạy bảo, thương yêu, chăm sóc của các thầy, các cô. Công ơn ấy không bao giờ có thể quên được.

Giáo sư Nguyễn Tài Thu không kể về quá trình công tác và thành tích của mình, nhưng qua đồng nghiệp và các thế hệ học trò của  giáo sư, chúng tôi được biết:

Giáo sư Nguyễn Tài Thu sinh năm 1931, quê ở Vân Canh, Hoài Đức, Hà Tây (nay là Thành phố Hà Nội). Cuối năm 1949 ông cùng hàng trăm học sinh trường trung học Hùng Vương – Phú Thọ xung phong lên đường nhập ngũ, tham gia Vệ Quốc đoàn, trở thành “Anh bộ đội Cụ Hồ”. Năm 1952 khi đang học Đại học Y khoa thì ông được cử sang Trung Quốc học tiếp. Năm 1958 tốt nghiệp bác sĩ y khoa và từ năm 1960 đến nay, bác sĩ Nguyễn Tài Thu trực tiếp làm chuyên môn, chuyên ngành châm cứu.

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ “Lương y như từ mẫu”, Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Tài Thu luôn yêu thương, chăm sóc, tận tụy với người bệnh. Ngoài các bệnh nhân người lớn, mỗi tháng chữa và nuôi trên 100 bệnh nhi tàn tật, hết lòng cứu chữa người bệnh không quản ngày đêm, xa xôi, không phân biệt giàu nghèo, cấp bậc, thầy thuốc Nguyễn Tài Thu đã cứu chữa được hàng nghìn bệnh nhân khỏi bệnh tật hiểm nghèo... Do đó, ở trong nước và ở nước ngoài, bác sĩ Thu đều được bệnh nhân xa gần tin tưởng, yêu mến, ngưỡng mộ...

Chỉ trong 3 năm (1990-1993), Giáo sư Nguyễn Tài Thu đã tổ chức, giảng dạy và kết hợp giảng dạy với các giáo sư khác, mở được 70 lớp, nâng cao kỹ thuật và đào tạo cho 3.833 thầy thuốc châm cứu trong toàn quốc (trong đó có 415 thầy thuốc nước ngoài). Ngoài việc mở lớp ở Viện Châm cứu Trung ương, giáo sư còn trực tiếp đến giảng dạy ở các lớp xa xôi như: Lào Cai, Sơn La, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn, Nghệ An, Đà Nẵng, Gia Lai, Đắk Nông, Đắk Lắc...

Đặc biệt đã chủ trì cùng các giáo sư đồng nghiệp, đào tạo được nhiều lớp chuyên khoa cấp I, II châm cứu để chuẩn bị cho đội ngũ nòng cốt tương lai, trong đó giáo sư đã bồi dưỡng giúp đỡ nhiều bác sĩ thi đỗ nghiên cứu sinh làm thạc sĩ, tiến sĩ châm cứu. Hàng ngàn thầy thuốc châm cứu cộng đồng và hơn 5.000 bác sĩ nước ngoài đã được ông tham gia đào tạo, huấn luyện tại Việt Nam cũng như ở nước ngoài. Ông đã được nhận 28 Bằng danh dự của các nước.

Không những hoàn thành xuất sắc công tác quản lý (Viện trưởng Viện châm cứu Việt Nam, Chủ tịch Hội Châm cứu Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Châm cứu Thế giới, Chủ tịch Hội Cứu trợ  trẻ em tàn tật Việt Nam...), GS, bác sĩ Nguyễn Tài Thu còn có nhiều công trình khoa học được đánh giá cao vì có giá trị, được áp dụng rộng rãi, mang lại hiệu quả cao trong việc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân như các công trình: Châm tê trong phẫu thuật, Châm tê chữa di chứng liệt do tai biến mạch máu não, Công trình nghiên cứu thủy châm, Châm cứu chữa liệt trẻ em, Chữa câm điếc, Chữa giảm thị lực, Chữa các chứng đau... Các công trình này đã và đang được áp dụng rộng rãi, có hiệu quả trong nước và nhiều nước khác trên thế giới.

Với 20 công trình khoa học về châm cứu và trên 20 cuốn sách, ông cùng đồng nghiệp đã nâng ngành châm cứu Việt Nam lên một tầm cao mới khiến bạn bè quốc tế ngưỡng mộ.

Giáo sư Nguyễn Tài Thu đã kể cho chúng tôi nghe một vài kỷ niệm trong các chuyến đi công tác, giảng dạy và châm cứu tại: Pháp, Bỉ, Hà Lan, Liên Xô (cũ), Ba Lan, Cuba... Ở đâu giáo sư cũng được đón tiếp long trọng, được yêu mến và ngưỡng mộ.

Đồng hồ chỉ 18 giờ. Một giờ trò chuyện bổ ích và lý thú đã trôi qua. Chúng tôi xin phép ra về. Trước khi chia tay, giáo sư tặng chúng tôi bức ảnh chụp ở Italia và tập sách châm cứu, trong đó có lời đề từ “Y đức là cái gốc sâu vững của tài năng”.

Sau năm 1996, tôi còn được gặp Giáo sư trong Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động, Nhà nước phong tặng Giáo sư Nguyễn Tài Thu ngày 30-3-2000 tại Hà Nội, gặp giáo sư trong Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động của trường THPT Hùng Vương, Phú Thọ ngày 1-1-2004, song buổi gặp mặt lần đầu năm 1996 đã để lại trong tôi kỷ niệm đẹp và những ấn tượng sâu sắc về người thầy thuốc của nhân dân.

Ngày 14-2-2021, GS Nguyễn Tài Thu – Anh hùng Lao động, Thầy thuốc Nhân dân – đã qua đời, thượng thọ tuổi 90. Giáo sư ra đi là một mất mát lớn đối với ngành y học Việt Nam và thế giới, để lại bao tiếc thương đối với các y, bác sĩ, các thế hệ học trò và nhân dân cả nước.       

GS, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Tài Thu đã đi xa, chúng tôi còn nhớ mãi buổi nói chuyện và hình ảnh đẹp về một Thầy thuốc Nhân dân tiêu biểu, trên nửa thế kỷ trực tiếp làm chuyên môn y tế, gắn liền cuộc đời mình với sự phát triển của ngành châm cứu Việt Nam; một thầy thuốc tài năng, giàu lòng nhân ái, có phẩm chất trong sáng và y đức cao đẹp nhưng cũng rất đỗi khiêm tốn, bình dị, chan hòa với mọi người...

Quân đội nhân dân

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Khi "vùng lõm" từng bước được phủ sóng, thông tin đến gần hơn với người dân, cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ, thị trường tiêu thụ cũng rộng mở hơn, tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Phía sau những khối nhà mang dáng dấp kiến trúc vùng cao là câu chuyện nhiều tháng ngày khảo sát, lắng nghe và điều chỉnh của những kiến trúc sư, với mong muốn dựng nên không chỉ một ngôi trường, mà còn là một không gian gìn giữ văn hóa cho học sinh nơi biên cương Tổ quốc.

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Từ khi hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, điều thay đổi quan trọng không chỉ là mở rộng diện tích hay quy mô dân số mà còn tạo ra không gian phát triển lớn hơn cho tỉnh Lào Cai mới. Trong không gian đó, đầu tư hạ tầng giữ vai trò kết nối các vùng động lực, thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, khai thác khoáng sản và kinh tế cửa khẩu, hướng tới mục tiêu xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Sức sống mới nơi thượng nguồn Lũng Pô Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Trên hành trình ngược suối Lũng Pô với chiều dài hơn 30 km từ thôn Lũng Pô (xã A Mú Sung) đến thôn Hồng Ngài (xã Y Tý), cùng với cảm nhận về sự đổi thay ở những vùng đất bên dòng suối biên giới, điều làm chúng tôi tự hào là khung cảnh bình yên hiện hữu khắp dải biên cương xa xôi. Ở nơi ấy, dù đường biên giới dài và địa hình hiểm trở, những chiến sĩ biên phòng vẫn luôn chắc tay súng cùng đồng bào các dân tộc giữ bình yên biên giới.

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Hạ tầng giao thông có vai trò quan trọng mở ra không gian phát triển, kết nối các vùng kinh tế, tạo động lực thu hút đầu tư và nâng cao đời sống người dân. Thế nhưng, do vướng mắc mặt bằng khiến tiến độ nhiều công trình bị ảnh hưởng, nguồn vốn đầu tư chưa được phát huy

Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đời sống đồng bào các dân tộc nơi thượng nguồn suối Lũng Pô đã có nhiều đổi thay. Hiện nay, nhiều chi bộ khu vực biên giới giữ vai trò nòng cốt trong công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trẻ, góp phần “đánh thức” tiềm năng phát triển nông - lâm nghiệp, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, giúp người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Những cột điện, đường dây điện quốc gia hôm nay đã vươn tới các thôn bản vùng cao của xã Lâm Giang. Nguồn điện ổn định đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho người dân. Tuy nhiên, phía sau những công trình đã phát huy hiệu quả nhiều năm vẫn còn một tồn tại kéo dài: hàng trăm hộ dân đã hiến đất, chặt bỏ cây trồng để phục vụ dự án nhưng đến nay vẫn chưa được chi trả tiền bồi thường theo quy định.

fb yt zl tw