“Ủ than nóng, nung lửa hồng”

Bài 3: Nhen lên ngọn lửa khát vọng thoát nghèo

LCĐT - Trí tuệ và công sức của những chuyến “gần dân, sát cơ sở”, về với từng hộ nghèo, bản nghèo đã nhen nhóm và khơi thông những giấc mơ, khát vọng thoát nghèo ở những xã nghèo mà bấy lâu cả chính quyền địa phương và người dân vẫn loay hoay trong chiếc vòng luẩn quẩn ấy. Sự vào cuộc đầy tâm huyết và trách nhiệm của lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo huyện đã thổi luồng sinh khí mớivào những xã nghèo. Từ tư tưởng đến hiện thực không còn xa vời nữa, bởi xã nghèo tìm được hướng mở để phát triển kinh tế hiệu quả, tạo thu nhập bền vững cho người nghèo và đột phá trong tư duy, hành động của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Mặc dù trời đã sang thu nhưng ở Nậm Chày, xã vùng cao khó khăn nhất huyện Văn Bàn vẫn nóng gay gắt chẳng khác gì mùa hè. Mấy hôm trước trời mưa rồi nắng lại bừng lên biến vùng đất này thành “chảo lửa”, tuy nắng nhưng những đoạn đường vào các thôn vẫn ngập trong bùn đất trơn trượt, lầy lội. Thời tiết và đường sá khó khăn là vậy nhưng không có gì ngăn cản được bước chân những cán bộ, đảng viên xã Nậm Chày hướng về với đồng bào vùng khó để động viên, khích lệ những mô hình mới hiệu quả, chia sẻ khó khăn với người dân vùng cao.

>> Bài 1: Người đứng đầu cấp tỉnh nhận việc khó

>> Bài 2: Lãnh đạo địa phương không thể “khoanh tay” đứng nhìn

Người dân xã Nậm Chày trồng gừng xuất khẩu.

Giữa cái nắng như lửa đốt, anh Sùng A Dùng, Chủ tịch UBND xã Nậm Chày vẫn nhiệt tình đưa chúng tôi vào thăm mô hình trồng gừng “trâu” ở thôn Hỏm Dưới. Trên đường đi, anh Dùng bảo Nậm Chày còn nhiều khó khăn lắm, vì hiện nay 8/8 thôn chưa có đường bê tông, tỷ lệ hộ nghèo còn 36,12%, hộ cận nghèo còn 20%. Đặc biệt, trên địa bàn xã còn 220 người nghiện và nghi nghiện ma túy, chủ yếu là đồng bào Mông, kéo theo nhiều hệ lụy. Tuy nhiên, Nậm Chày đang đón luồng gió mới trong công cuộc giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các đồng chí lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo huyện. Qua những buổi làm việc trực tiếp với xã, các đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội được triển khai đang đem lại nhiều triển vọng. Phấn khởi nhất là đoạn đường Hỏm Dưới – Khâm Dưới – Khâm Trên (xã Nậm Chày) đi xã Dần Thàng dài 5,4 km sẽ được đổ bê tông trong tháng 10, thuận lợi cho việc vận chuyển nông -lâm sản của bà con.

Trò chuyện say sưa, chẳng mấy chốc chúng tôi đã đến thôn Hỏm Dưới. Vào thăm vườn gừng “trâu”, anh Dùng cẩn thận kiểm tra những khóm gừng lá ngả sang màu vàng, nhổ củ xem có sâu bệnh hay bị úng nước hay không rồi trao đổi với chủ nhà một số biện pháp chăm sóc. Anh Dùng bảo: Từ năm 2019, xã được huyện hỗ trợ dự án trồng giống gừng “trâu” để xuất khẩu. Đây là giống gừng củ rất to, năng suất cao, đầu ra ổn định. Xã huy động cán bộ, đảng viên vào cuộc vận động 20 hộ dân chuyển từ đất nương kém hiệu quả sang trồng gừng. Năm 2019 và 2020, bà con thu hoạch khoảng 20 tấn củ gừng, bán với giá 9.000 đồng/kg cho doanh nghiệp ở Bắc Ninh. Xã phấn đấu trong giai đoạn 2020 -2025 sẽ trồng được 50 ha gừng, góp phần tăng thu nhập cho bà con đồng bào Mông. Ngoài dự án trồng gừng, huyện còn hỗ trợ 50 con lợn đen bản địa cho 25 hộ nghèo ở các thôn, hỗ trợ trồng mới 20ha măng sặt, nâng tổng diện tích măng sặt toàn xã lên 84ha. Dự án có rồi, vận động được bà con tham gia rồi, nhưng cán bộ xã không thể coi như hết nhiệm vụ mà phải tích cực vào từng hộ dân để thăm nắm tình hình, hỗ trợ, tư vấn cho bà con kỹ thuật sản xuất khi cần thiết. Tôi làm cán bộ xã Nậm Chày 21 năm rồi, muốn xã sớm thoát nghèo thì trước hết đảng viên, cán bộ xã phải thay đổi, không thể giữ lối làm việc thụ động, ù lì như trước.

Từ Hỏm Dưới, chúng tôi ngược con đường ngổn ngang đá sỏi, lên thôn Hỏm Trên thăm mô hình nuôi trâu vỗ béo đầu tiên của xã. Đảng viên Sùng A Giả, chủ nhân của đàn trâu 7 con béo tốt trong mấy gian chuồng mới xây chia sẻ: Nuôi trâu bán chăn thả là mô hình mới mà tôi mạnh dạn thực hiện từ đầu năm 2021 đến nay. So với nuôi trâu chăn thả hoàn toàn thì mô hình này vừa hạn chế việc thả rông gia súc, vừa giúp đàn gia súc phát triển nhanh hơn về số lượng, chất lượng và được bảo vệ tốt hơn. Mình là đảng viên phải tiên phong làm các mô hình mới thì bà con mới tin tưởng làm theo. Trong thời gian tới, tôi và các cán bộ, đảng viên xã sẽ tích cực tuyên truyền bà con tập trung vào 2 mũi nhọn là chăn nuôi đại gia súc và trồng rừng sản xuất để giảm nghèo bền vững, nâng cao thu nhập.

Từ chỗ loay hoay không tìm được hướng đi để thoát nghèo, từ khi đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Quốc Khánh trực tiếp giúp đỡ; sự vào cuộc, đồng hành của các sở, ngành của tỉnh và các tổ công tác của huyện, xã Nậm Chày đã xác định rõ 3 đột phá và cần làm ngay. Đó là, nâng cấp hệ thống giao thông thôn, bản, bởi hầu hết các tuyến đường liên thôn ở Nậm Chày đều là đường cấp phối, đường đất đã xuống cấp nghiêm trọng, “chở 1 bao thóc xuống chợ, chi phí đi lại phải thêm 3 bao thóc nữa”. Tập trung đầu tư phát triển sản xuất, trong đó tập trung mở rộng diện tích trồng măng sặt, cây dược liệu (gừng), đồng thời kêu gọi doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, trước hết đã có Công ty Galovi và Công ty Hoàng Gia đến nghiên cứu và đăng ký đầu tư. Tổ chức cai nghiện ma tuý, bởi theo như lời đồng chí Bí thư Huyện uỷ Văn Bàn, mỗi năm người dân ở Nậm Chày “đốt” 20 tỷ đồng theo khói thuốc phiện. Chính tệ nạn nghiện ma tuý là một trong những nguyên nhân cơ bản kéo lùi sự phát triển của xã và dẫn đến nghèo. Dù chỉ có 3 việc cần làm, nhưng vài chục năm qua, cán bộ, đảng viên và người dân xã Nậm Chày không thể tìm ra. Việc tìm ra được lời giải cho bài toán giảm nghèo chính là “quả ngọt đầu mùa” dành cho Nậm Chày.

Người dân xã La Pan Tẩn được mùa ngô.

Thời gian gần đây, không chỉ ở xã Nậm Chày, huyện Văn Bàn có sự đổi thay trong công tác giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới mà đến các xã vùng cao khác trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là 10 xã nghèo nhất tỉnh chúng tôi đều cảm nhận được không khí vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị trong “cuộc chiến” giảm nghèo. Cách đây 7 năm, khi chúng tôi đi thực tế các xã dọc sông Chảy thuộc huyện Mường Khương từ Tả Gia Khâu xuôi xuống Dìn Chin, Nấm Lư, Lùng Khấu Nhin, Cao Sơn tới Tả Thàng để thực hiện phóng sự “Khát vọng sông Chảy” thì tỷ lệ hộ nghèo ở đây vẫn còn hơn 50%. Ở các thôn người Mông, Nùng, Thu Lao, Phù Lá ven sông Chảy, như Páo Máo Phìn A, Páo Máo Phìn B (xã Tả Thàng), Sả Lùng Chéng, Lùng Chéng Nùng (xã Cao Sơn)… tuy đất đai rộng rãi, nhưng giao thông cách trở, tỷ lệ hộ nghèo cao hơn các thôn khác. Ao ước của cấp ủy, chính quyền và bà con là được mở tuyến đường liên xã dọc sông Chảy từ thôn Na Măng (xã Tả Gia Khâu) tới thôn Cán Cấu 2 (xã Tả Thàng) và những tuyến đường “xương cá” từ các thôn xuống tận bờ sông để khai hoang trồng lúa đặc sản, biến 6 xã dọc bờ sông Chảy thành một “vành đai” kinh tế mới của huyện.

Hôm nay trở lại xã Tả Thàng, anh Thào Páo Dình, Chủ tịch UBND xã chia sẻ: Ước mơ, khát vọng của người dân và cấp ủy, chính quyền cháy bỏng là vậy, tiềm năng ai cũng nhìn thấy, nhưng trước đây “cái khó bó cái khôn” nên không thực hiện được. Từ đầu năm 2021 đến nay, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh trực tiếp xuống làm việc với xã, rồi các đoàn công tác của Sở Nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Nhà nước, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, đến các đoàn công tác của huyện liên tục xuống xã cùng đồng tâm hiệp lực, bàn cách giảm nghèo cho người dân. Trong thời gian tới, tuyến đường mơ ước từ thủy điện Cốc Ly đến Tả Thàng – La Pán Tẩn dài 15km sẽ được mở mới góp phần khai thác tiềm năng dọc sông Chảy. Sự vào cuộc mạnh mẽ của tỉnh, của huyện đã tiếp thêm động lực mới cho đội ngũ cán bộ, đảng viên Tả Thàng trong công việc. Ai cũng cảm thấy mình phải thay đổi, có trách nhiệm hơn, quyết tâm cao hơn, đoàn kết vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình vào “cuộc chiến” với cái nghèo, mỗi người ở một vị trí công tác khác nhau nhưng đều chung mục tiêu: Giúp người dân, giúp xã nhanh chóng thoát nghèo.

Mục tiêu rất rõ ràng, tuy nhiên vấn đề cốt lõi là phải thay đổi được nhận thức, tư duy phát triển kinh tế, sự chủ động vươn lên của bà con vùng cao, bởi tỉnh, huyện lo mà người dân đứng ngoài cuộc thì mọi nỗ lực đều vô nghĩa. Nhìn về phía những đồi quế đang lên xanh ngắt ở thôn Cán Cấu 2, Chủ tịch UBND xã Tả Thàng bảo cách đây 2 năm khi anh xuống thôn, bà con hỏi phải trồng cây gì để thoát nghèo? Khi nghe anh nói phải trồng quế thì nhiều người băn khoăn trồng quế ra ai sẽ thu mua? Bà con cứ trồng đi, UBND xã sẽ có trách nhiệm liên kết với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, anh Dình khẳng định chắc nịch. Bây giờ thì thôn đã có hơn 100ha quế và một số hộ dân đã có thể bán cành, lá quế để có thu nhập.

Mở rộng diện tích trồng chè hàng hoá giúp người dân thoát nghèo.

Lần này đến Tả Thàng, chúng tôi có dịp vào thăm Nhà máy Chè Tiên Thiên đang trong quá trình hoàn thiện. Pha ấm chè Shan Tuyết cổ thụ được chế biến công phu tỏa hương thơm nức, anh Phan Quốc Tuấn, đại diện Công ty Cổ phần Phát triển Chè Tiên Thiên kể chuyện: Tháng 10/2020, khi doanh nghiệp vào xã xây dựng nhà máy chế biến chè cổ thụ thì gặp phải vướng mắc là một hộ dân không đồng ý chuyển nhượng đất để có mặt bằng đầu tư. Sau nhiều lần Chủ tịch xã Thào Páo Dình cùng chúng tôi trực tiếp xuống tuyên truyền, giải thích, hộ dân này đồng ý chuyển nhượng lại mảnh đất. Đến tháng 6/2021, Nhà máy Chè Tiên Thiên được xây dựng và thu mua gần 20 tấn chè cho người dân với giá 30.000 đồng/kg chè búp tươi. Doanh nghiệp có nguyên liệu chế biến chè xuất khẩu, mà bà con có thu nhập, thành ra đôi bên cùng có lợi, nên đều phấn khởi. Nếu cán bộ xã không vào cuộc tích cực, thì chúng tôi cũng khó xây dựng được nhà máy ở đây.

Được biết, năm 2018, xã Tả Thàng có gần 65ha chè cổ thụ Shan Tuyết, nguồn chè dồi dào nhưng tìm đầu ra rất khó khăn; trong khi đó cả xã chỉ có 1 máy sao chè mini, mỗi năm chỉ sao được 3,5 tạ chè khô. Từ khi có Nhà máy Chè Tiên Thiên, bài toán tiêu thụ chè của người dân đã có lời giải. Có hộ dân mỗi tháng thu được 3 triệu đồng từ bán chè nguyên liệu. Điều đáng nói là 37 hộ nghèo ở thôn Bản Phố đã thay đổi suy nghĩ, yên tâm chuyển từ trồng ngô sang trồng chè. Xã Tả Thàng xác định chọn cây chè là “chìa khóa” giảm nghèo và quyết tâm đến năm 2025 trồng mới được 200 ha chè, giúp 175 hộ dân thoát nghèo thành hiện thực.

Thay cho lời kết

Những câu chuyện “mắt thấy tai nghe” ở hai xã Nậm Chày và Tả Thàng đã bước đầu khẳng định, khi người đứng đầu cấp tỉnh nhận việc khó, lãnh đạo huyện và xã không thể “khoanh tay đứng nhìn” đã nhen lên niềm tin và thổi bùng ý chí, khát vọng thoát nghèo của người dân xã nghèo. Lộ trình giảm tỷ lệ hộ nghèo ở 10 xã nghèo nhất tỉnh chắc chắn sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức ở phía trước, nhưng với tâm huyết, trách nhiệm từ lãnh đạo từ tỉnh đến huyện, xã đã tạo động lực và sức bật mới trên chặng đường thoát nghèo, cũng từ đây mà khát vọng “đổi đời” của nhiều hộ dân đang loay hoay trong vòng luẩn quẩn đã được đánh thức. Tương lai không xa, các xã nghèo không chỉ “cán đích” hết nghèo mà còn tiếp tục chinh phục trên chặng đường vươn lên làm giàu….

Sau những cách làm sáng tạo của Lào Cai trước đây trong công tác củng cố xây dựng Đảng, như mô hình tuyên vận là điểm sáng của cả nước, thì việc các đồng chí lãnh đạo cấp tỉnh rời phòng làm việc để thâm nhập vào đời sống để nắm bắt, thấu hiểu và nhìn rõ bản chất của sự việc xảy ra, để có biện pháp giải quyết phù hợp, kịp thời và triệt để những vấn đề bức thiết trong nhân dân là việc rất đáng hoan nghênh và rất cần làm. Đi thực tế để tìm hiểu những vấn đề liên quan “quốc kế, dân sinh”, cũng là mà cách để lãnh đạo cấp trên không bị lệch chuẩn qua lăng kính bệnh thành tích thường “xấu che, tốt khoe” của cấp dưới…

Hiện thực này là minh chứng sinh động cho giá trị cốt lõi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “Sức mạnh của Đảng nằm trong mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân và giữa Nhân dân với Đảng”. Tâm và tầm của lãnh đạo, cán bộ đảng viên từ cấp tỉnh đến cơ sở muốn thấy được, chỉ bằng những việc làm cụ thể trong thực tiễn, tạo sức mạnh đồng thuận “ý Đảng, lòng dân”. Qua thực tiễn cuộc sống, để thấy được phẩm chất, tác phong của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đảng viên kế cận trong giai đoạn mới theo tinh thần cán bộ “6 dám” mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề, đó là: “Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đổi mới, dám đột phá sáng tạo và dám đương đầu với khó khăn, thử thách”.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Lên đỉnh Sán Trá, nghe “đất kể chuyện người”

Lên đỉnh Sán Trá, nghe “đất kể chuyện người”

Trên đỉnh Sán Trá, xã Hạnh Phúc, cuộc sống mới nơi bản tái định cư đã thực sự bắt đầu. Từ cuộc di dời trong hoảng hốt, 18 hộ dân nơi đây đang cùng nhau xây dựng tương lai, mang theo cả tình làng nghĩa xóm và những ước vọng chưa bao giờ cũ.

Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai sau một năm thi công

Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai sau một năm thi công

Sau một năm kể từ ngày khởi công (1/10/2025), Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai, đoạn Yên Bái - Lào Cai đang bước vào giai đoạn thi công nước rút. Nhiều hạng mục quan trọng đã cơ bản hoàn thành, hình hài tuyến cao tốc 4 làn xe dài hơn 121 km đang dần hiện rõ trên công trường.

Tiết học biên cương nơi sông Hồng chảy vào đất Việt

Tiết học biên cương nơi sông Hồng chảy vào đất Việt

Sáng 1/10, tại cột cờ Lũng Pô, xã A Mú Sung, tỉnh Lào Cai, học sinh Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS A Mú Sung tham gia “Tiết học biên cương”, tìm hiểu đường biên, mốc quốc giới, quan sát bộ đội thực hành tuần tra và tham gia lễ chào cờ. Qua trải nghiệm thực tế, các em hiểu thêm quê hương, công việc của người lính và trách nhiệm gìn giữ biên giới quốc gia.

Bài cuối: Dựa vào sức dân “giữ sạch” địa bàn

QUYẾT TÂM XÂY DỰNG “THẾ TRẬN” KHÔNG MA TUÝ Bài cuối: Dựa vào sức dân “giữ sạch” địa bàn

Giữ sạch địa bàn không chỉ bằng những đợt truy quét, xử lý mà cần sức mạnh từ mỗi gia đình, khu dân cư. Khi người dân chủ động phòng ngừa, phát hiện, cung cấp thông tin và cùng hỗ trợ người sau cai tái hòa nhập, một “thế trận lòng dân” đang được hình thành để ngăn ma túy quay trở lại.

Bài 1: Cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở

Quyết tâm xây dựng “thế trận” không ma tuý Bài 1: Cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở

Lào Cai đã triển khai cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng 100% xã, phường không ma túy trong năm 2026. Nghị quyết 51 - NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy được cụ thể hóa bằng việc huy động cả hệ thống chính trị, dồn lực giải quyết những điểm khó và gắn kết quả với trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy.

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y

Ở những bản làng người Bố Y hôm nay, hạnh phúc là cuộc sống đủ đầy, là tiếng nói, trang phục, phong tục và sự gắn kết cộng đồng được gìn giữ, trao truyền qua các thế hệ. Giữa nhịp sống hiện đại, người Bố Y ở Mường Khương đang từng bước dựng xây cuộc sống ấm no, đồng thời lưu giữ và phát huy niềm tự hào nguồn cội. Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh Lào Cai trân trọng giới thiệu loạt bài (2 kỳ) “Bản làng hạnh phúc của người Bố Y”.

Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y: Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Ở Thính Chéng, xã Mường Khương khi nhắc đến văn hóa của dân tộc Bố Y, người ta thường tìm đến bà Lồ Lài Sửu. Ngoài 60 tuổi, bà vẫn miệt mài sưu tầm, ghi nhớ những làn điệu dân ca, phong tục, nghi lễ của dân tộc mình. Mỗi lần nói về người Bố Y, về giá trị văn hóa đã theo mình suốt cuộc đời, bà Sửu vẫn rưng rưng xúc động. 

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Xác định tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ là nhiệm vụ quan trọng, thể hiện trách nhiệm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tỉnh Lào Cai đã huy động cả hệ thống chính trị cùng chung tay tìm kiếm, đưa các chiến sĩ cách mạng còn nằm lại nơi chiến trường trở về với gia đình, quê hương.

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Lào Cai là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư phân bố rải rác, khiến việc đầu tư, vận hành các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong khi ngân sách Nhà nước chưa thể đáp ứng nhu cầu đầu tư, sửa chữa và vận hành, việc quy hoạch lại hạ tầng cấp nước, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia đang rất cấp thiết.

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Xã Tằng Loỏng là địa bàn đông dân cư, tập trung Khu công nghiệp luyện kim, hóa chất trọng điểm của quốc gia và tỉnh, với nhiều doanh nghiệp, nhà máy đang hoạt động. Thế nhưng, giữa nhịp phát triển công nghiệp sôi động, người dân và công nhân lao động vẫn phải mua bán trong một khu chợ tạm hình thành từ nhiều năm trước. Sự thiếu hụt hạ tầng thương mại đang trở thành nghịch lý cần được giải quyết.

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

fb yt zl tw