Chiều 27/7, tại buổi làm việc với Sở Nông nghiệp và Môi trường, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Dương Quốc Huy yêu cầu tập trung xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa gắn với doanh nghiệp, chế biến sâu và thị trường tiêu thụ; đồng thời đẩy mạnh logistics nông sản, ứng dụng khoa học, công nghệ và xây dựng cơ sở dữ liệu cây trồng, vật nuôi.
Định hướng ấy hình thành một chuỗi phát triển rõ ràng: vùng sản xuất được tổ chức theo lợi thế; doanh nghiệp dẫn dắt tiêu chuẩn và thị trường; nguyên liệu được chế biến để nâng giá trị; còn dữ liệu giúp các mắt xích phối hợp minh bạch, chính xác hơn.
Tốt nghiệp ngành nông lâm, Lý Văn Minh trở về quê hương Tả Củ Tỷ với mong muốn nâng giá trị những búp chè Shan tuyết vùng cao. Năm 2021, anh Minh cùng các đoàn viên thành lập Hợp tác xã Nông nghiệp Tả Củ Tỷ. Đến nay, hợp tác xã liên kết gần 200 hộ dân quản lý, bảo tồn 168 ha chè Shan tuyết, trong đó khoảng 60% là chè cổ thụ; mỗi năm bao tiêu từ 40 đến 60 tấn chè búp tươi.
Từ các hộ sản xuất phân tán, hợp tác xã tạo đầu mối hướng dẫn kỹ thuật, gom nguyên liệu, kiểm tra chất lượng và tổ chức tiêu thụ. Việc tổ chức sản xuất theo đầu mối tạo nền tảng để hợp tác xã chuẩn hóa thông tin về hộ tham gia, diện tích, mùa vụ, sản lượng thu hái và mã lô chế biến.
Bao bì có họa tiết văn hóa Dao và mã truy xuất.
Mã QR chỉ có giá trị bền vững khi phía sau là hồ sơ có thể kiểm chứng: nguyên liệu từ nương nào, thu hái ngày nào, được đưa vào mẻ chế biến nào và kết quả kiểm nghiệm ra sao. Hoa văn truyền thống của người Dao được đưa lên bao bì, tạo nhận diện riêng cho trà Tả Củ Tỷ.
Nếu Tả Củ Tỷ thể hiện vai trò của hợp tác xã, chuỗi dược liệu của Công ty TNHH Một thành viên Traphaco Sa Pa cho thấy vai trò hạt nhân của doanh nghiệp. Traphaco Sa Pa tổ chức chuỗi từ trồng, thu hoạch, sơ chế đến chế biến; mỗi năm bao tiêu hơn 2.000 tấn dược liệu tươi và 70 tấn dược liệu khô. Cao mềm atiso Sa Pa và trà atiso phun sương đã trở thành sản phẩm OCOP 5 sao. Doanh nghiệp ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong truy xuất nguồn gốc, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu và định hướng đầu tư IoT, Blockchain để tăng khả năng kiểm soát chất lượng.
Giá trị không nằm ở tên công nghệ, mà ở khả năng xác định nhanh nguồn nguyên liệu, theo dõi chất lượng theo lô và nối sản lượng vùng trồng với kế hoạch thu mua, chế biến của nhà máy. Trong chuỗi ấy, người dân tạo ra dữ liệu ngay trong quá trình canh tác, hợp tác xã đứng ra kiểm tra, tổng hợp, còn doanh nghiệp sử dụng dữ liệu để điều hành thu mua, chế biến và tiêu thụ. Khi trách nhiệm của từng khâu được nối liền, mã QR mới phản ánh đúng quá trình sản xuất.
Tại Bản Liền, toàn xã có 1.219 ha chè. Riêng quý I/2026, địa phương thu hoạch 65 tấn chè búp tươi, tương đương 13 tấn chè khô. Chè búp tươi được thu mua với giá 18.000 - 20.000 đồng/kg, cao gấp 2 - 3 lần chè thông thường.
Các sản phẩm chè Bản Liền được phát triển trên vùng nguyên liệu hữu cơ, gắn với quản lý hộ sản xuất và truy xuất theo lô.
Để duy trì chất lượng hữu cơ và đáp ứng thị trường, vùng chè cần được quản lý theo từng hộ, nhật ký canh tác, thời điểm thu hái và mã lô. Dữ liệu vừa phục vụ truy xuất, vừa giúp hợp tác xã lập kế hoạch thu mua, sản xuất và kiểm soát rủi ro.
Thị trường số mở thêm một kênh tiếp cận quan trọng. Tại xã Phình Hồ, chị Hà Khánh Linh (Mẩy Linh) sử dụng điện thoại và các phiên livestream để giới thiệu chè Shan tuyết, Hồng trà, Bạch trà, giấm táo mèo tới khách hàng trên cả nước. Việc liên kết với người trẻ làm nội dung số giúp Hợp tác xã Trà Shan Tuyết Phình Hồ nhận được lượng đơn hàng ổn định hằng tháng.
Livestream giúp rút ngắn khoảng cách với người mua, nhưng nhiều lượt xem chưa phải là một chuỗi số. Sau màn hình vẫn là những câu hỏi: kho có đủ hàng không, đơn được xử lý trong bao lâu, đóng gói có phù hợp với vận chuyển đường dài, tỷ lệ giao đúng hẹn thế nào và phản hồi của khách có được lưu lại hay không.
Khảo sát đầu kỳ đối với nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia Dự án KCS Gateway tại Sín Chéng, Mường Hum và Hạnh Phúc trong tháng 4 - 5/2026 cho thấy gần 90% số người được hỏi sử dụng điện thoại thông minh và có kết nối internet. Tuy nhiên, kỹ năng quảng bá, bán hàng trực tuyến và thanh toán điện tử còn hạn chế; trong nhóm khảo sát chưa ghi nhận trường hợp đưa sản phẩm lên kinh doanh trên sàn thương mại điện tử. Khoảng cách số vì thế không chỉ nằm ở thiết bị. Chủ thể OCOP còn phải biết quản lý nội dung, đơn hàng, tồn kho, thanh toán, vận chuyển và dữ liệu khách hàng.
Từ ngày 22/5/2026, Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP ban hành kèm Quyết định số 26/2026/QĐ-TTg có hiệu lực. Điều đó đặt ra yêu cầu duy trì chất lượng và cập nhật hồ sơ trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh, không chỉ hoàn thiện tài liệu tại thời điểm chấm sao.
6 tháng đầu năm 2026, sản xuất nông nghiệp tiếp tục duy trì ổn định, nhiều chỉ tiêu đạt tiến độ đề ra: diện tích chè đạt trên 15.200 ha, dược liệu hơn 6.100 ha, trồng rừng tập trung đạt gần 11.865 ha, tổng đàn gia súc chính đạt trên 1,47 triệu con. Toàn tỉnh hiện có khoảng 360 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh thuộc lĩnh vực nông nghiệp; hơn 814 hợp tác xã nông nghiệp, 2.801 tổ hợp tác cùng 565 sản phẩm OCOP.
Trong đợt đánh giá ngày 23/7, tỉnh công nhận thêm 58 sản phẩm, gồm 21 sản phẩm công nhận mới, 11 sản phẩm nâng hạng và 26 sản phẩm đánh giá lại. Sau đợt này, tổng số sản phẩm OCOP của tỉnh được cập nhật lên 586.
Khi hàng hóa và dữ liệu cùng dịch chuyển tới người tiêu dùng; khi thị trường trở thành nguồn tín hiệu quay lại sản xuất, mỗi sản phẩm OCOP Lào Cai mới thực sự có thêm năng lực cạnh tranh để đi xa, giữ chất lượng và giữ thị trường.