Luật có hiệu lực từ 1/4/2026: Thúc đẩy ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số toàn diện

Từ ngày 1/4/2026, hai luật chính thức có hiệu lực là: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

cds-280326.jpg
Chuyển đổi số là hành trình nhiều lợi ích với mọi doanh nghiệp.

Khuyến khích ứng dụng, đổi mới công nghệ

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ gồm 3 điều. Việc ban hành Luật nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ một cách hiệu quả, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bắt kịp xu thế thế giới trong chuyển giao công nghệ. Cùng với đó, tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính; tăng cường công tác thông tin, thống kê về chuyển giao công nghệ phục vụ quản lý nhà nước; thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ nội sinh, khơi luồng công nghệ giữa các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước và giữa các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân. Đồng thời phát triển thị trường khoa học và công nghệ hoạt động hiệu quả, minh bạch và chuyên nghiệp, tạo môi trường thuận lợi cho các giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đáng chú ý, Luật đã sửa đổi Điều 8 Luật Chuyển giao công nghệ 2017 về góp vốn bằng công nghệ của tổ chức, cá nhân cụ thể như sau: "Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hợp pháp công nghệ được góp vốn bằng công nghệ vào dự án đầu tư hoặc doanh nghiệp, được thương mại hóa công nghệ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, pháp luật về doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Trường hợp dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước thì công nghệ đưa vào góp vốn phải được thẩm định giá theo quy định của pháp luật về giá và xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp trước khi thực hiện góp vốn.

Nhà nước khuyến khích góp vốn bằng công nghệ tạo ra từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam thông qua các biện pháp hỗ trợ thẩm định giá, xác lập quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ hợp pháp".

Về hỗ trợ, khuyến khích tổ chức, cá nhân ứng dụng, đổi mới công nghệ, Luật quy định: Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp có dự án thuộc địa bàn, lĩnh vực ưu đãi đầu tư thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ với tổ chức khoa học và công nghệ.

Nhà nước khuyến khích các hình thức hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ quan, tổ chức, cá nhân để triển khai các dự án đầu tư đổi mới công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo chức năng nhiệm vụ của mình tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân.

Nhà nước hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ thông qua Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các hình thức hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật.

Nhà nước dành ngân sách để phát triển mạng lưới các tổ chức khoa học và công nghệ có chức năng ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo, các trung tâm đổi mới sáng tạo, các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, các tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ thực hiện hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, cá nhân kinh doanh áp dụng các quy trình, kỹ thuật tiên tiến, công nghệ sẵn có, phương pháp quản lý đã được kiểm chứng về hiệu quả để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Liên quan đến quy định chuyển tiếp, Luật quy định rõ: Thỏa thuận chuyển giao công nghệ được ký kết trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành (1/4/2026) được tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận đó. Trường hợp sửa đổi, bổ sung, gia hạn sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định của Luật này.

Hồ sơ đề nghị đăng ký, gia hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ được thụ lý trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa được giải quyết thì áp dụng theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2023/QH15 và Luật số 93/2025/QH15.

Hồ sơ đề nghị chấp thuận, cấp phép chuyển giao công nghệ được thụ lý trước ngày 1/7/2025 mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa được giải quyết thì áp dụng theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2023/QH15 và Luật số 93/2025/QH15…

Chuyển đổi số hoạt động sở hữu trí tuệ

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ với những nội dung chủ yếu như: Cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ; thúc đẩy khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ; bảo hộ đối tượng mới; xử lý vấn đề mới phát sinh và nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ…

Đáng chú ý, về quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ, Luật quy định: Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ trong trường hợp quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán.

Bên cạnh đó, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để thực hiện các hoạt động giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật liên quan theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, sở hữu trí tuệ, quản lý, sử dụng tài sản công và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Nhà nước khuyến khích khai thác quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp để vay vốn theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, tín dụng và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Nhà nước bảo đảm kinh phí, các điều kiện về cơ sở hạ tầng, phương tiện, trang thiết bị và các nguồn lực cần thiết khác cho hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, bao gồm cả hoạt động trong khuôn khổ các Ủy ban, tiểu ban, nhóm công tác theo các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ hoặc có nội dung về sở hữu trí tuệ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; hợp tác quốc tế về xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp; hoạt động xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp; hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Về chuyển đổi số hoạt động sở hữu trí tuệ, nhà nước thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ thông qua việc ưu tiên phát triển đồng bộ hạ tầng số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, các nền tảng số phục vụ nghiệp vụ sở hữu trí tuệ, bao gồm cả cơ sở dữ liệu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm an toàn và thân thiện với người sử dụng.

Nhà nước đầu tư để tự động hóa quy trình nghiệp vụ ứng dụng công nghệ, trong đó có dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để nâng cao hiệu quả, tính minh bạch của hoạt động sở hữu trí tuệ.

Theo Luật, tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam có thể tự mình hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam để nộp đơn yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.

Cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.

Đơn trong các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp phải được nộp dưới hình thức văn bản ở dạng giấy hoặc dạng điện tử theo hệ thống nộp đơn điện tử…

baotintuc.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Chuyển đổi số nâng cao chất lượng công tác kiểm sát

Chuyển đổi số nâng cao chất lượng công tác kiểm sát

Thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và Kế hoạch 226 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lào Cai đang từng bước đưa công nghệ số vào hoạt động chuyên môn. Từ số hóa hồ sơ, quản lý dữ liệu nghiệp vụ đến ứng dụng phần mềm hỗ trợ kiểm sát hoạt động tư pháp, chuyển đổi số đã giúp cán bộ, kiểm sát viên xử lý công việc nhanh hơn, chính xác và minh bạch hơn.

Chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan tư pháp

Chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan tư pháp

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính và xây dựng chính quyền số, các cơ quan tư pháp tỉnh Lào Cai đang từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi hoạt động nghiệp vụ, từ tiếp nhận hồ sơ, giải quyết thủ tục đến quản lý dữ liệu và công khai thông tin pháp lý.

Hành động thực chất thực hiện mục tiêu chuyển đổi số

Hành động thực chất thực hiện mục tiêu chuyển đổi số

Năm 2026, tỉnh Lào Cai xác định chuyển đổi mạnh mẽ từ “nhận thức” sang “hành động thực chất” trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Những kết quả đạt được trong năm 2025 sẽ là nền tảng quan trọng để tỉnh phát triển đột phá trong giai đoạn 2026 - 2030. Với quyết tâm cao, hành động quyết liệt của tỉnh sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chỉ số hài lòng cho người dân.

AI - Chìa khóa giúp doanh nghiệp tăng trưởng

AI - Chìa khóa giúp doanh nghiệp tăng trưởng

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra rộng khắp, trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang được ứng dụng mạnh mẽ trong hầu hết các khâu quan trọng của doanh nghiệp. AI được kỳ vọng là chìa khóa giúp doanh nghiệp tăng trưởng trong kỷ nguyên mới.

Cảnh báo lỗ hổng bảo mật trong Chromium của Google - nguy cơ mất an ninh mạng trên các trình duyệt web

Cảnh báo lỗ hổng bảo mật trong Chromium của Google - nguy cơ mất an ninh mạng trên các trình duyệt web

Khi người dùng vô tình truy cập vào trang web này, trình duyệt có thể bị lợi dụng để chạy các đoạn mã do tin tặc cài sẵn. Từ đó, tin tặc có thể âm thầm đánh cắp thông tin đăng nhập, theo dõi hoạt động duyệt web hoặc chiếm quyền các tài khoản đang đăng nhập của người dùng.

“Bình dân học vụ số”: Từ tri thức đến động lực chuyển đổi số ở Lào Cai

“Bình dân học vụ số”: Từ tri thức đến động lực chuyển đổi số ở Lào Cai

Chuyển đổi số đang khẳng định vai trò chiến lược của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong phát triển nhanh, bền vững. Sau một năm thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, tinh thần “hành động đột phá, lan tỏa kết quả” dần đi vào thực tiễn. Tại Lào Cai, phong trào “Bình dân học vụ số” với cách tiếp cận từ cơ sở, thôn bản và từng người dân đã tạo chuyển động tích cực. Khi tri thức số được lan tỏa, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số sẽ trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Cuộc “cách mạng số” ở Khánh Hòa

Cuộc “cách mạng số” ở Khánh Hòa

Sau hợp nhất, cấp ủy, chính quyền xã Khánh Hòa xác định lấy “số hóa” làm trung tâm xây dựng và vận hành đơn vị hành chính cấp xã. “Số hóa” đã và đang vào từng nếp nhà, từng thôn, bản, biến Khánh Hòa trở thành địa phương đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số của toàn tỉnh.

Bài 2: Nền tảng dữ liệu số - Chiến lược tạo đột phá phát triển

“Bình dân học vụ số”: Từ tri thức đến động lực chuyển đổi số ở Lào Cai Bài 2: Nền tảng dữ liệu số - Chiến lược tạo đột phá phát triển

Nếu phong trào “Bình dân học vụ số” giúp người dân từng bước làm quen với môi trường số, thì hạ tầng viễn thông và hệ thống dữ liệu chính là nền tảng để những kỹ năng ấy được ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn. Vì vậy, Lào Cai đang tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng số hiện đại, mở rộng mạng băng rộng và phát triển các nền tảng dữ liệu dùng chung, từng bước hình thành chính quyền số, kinh tế số và xã hội số bền vững.

Bài 1: Khi tri thức số bắt đầu từ cộng đồng

“Bình dân học vụ số”: Từ tri thức đến động lực chuyển đổi số ở Lào Cai Bài 1: Khi tri thức số bắt đầu từ cộng đồng

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, yêu cầu “hành động đột phá, lan tỏa kết quả” đang từng bước hiện hữu trong đời sống. Tại Lào Cai, trong tiến trình chuyển đổi số, con người được xác định là yếu tố nền tảng. Từ nhận thức đó, địa phương đã lựa chọn hướng đi mang tính căn cơ: phổ cập kỹ năng số cho người dân thông qua phong trào “Bình dân học vụ số”, đưa tri thức số lan tỏa tới cộng đồng.

fb yt zl tw