Điều kiện cấp phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng

Chính phủ ban hành Nghị định số 193/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 2/7/2025.

Chính phủ ban hành Nghị định số 193/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản.
Chính phủ ban hành Nghị định số 193/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản.

Nghị định số 193/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản gồm 11 chương, 155 điều; trong đó, quy định rõ về các nội dung: Điều tra cơ bản địa chất, điều tra địa chất về khoáng sản; Khu vực khoáng sản; Hoạt động khoáng sản, thu hồi khoáng sản, chế biến khoáng sản; Đóng cửa mỏ khoáng sản nhóm I,II và III; Quản lý khoáng sản chiến lược, quan trọng; Quản lý cát, sỏi lòng sông, lòng hồ và khu vực biển; Thông tin, dữ liệu về địa chất, khoáng sản; Tài chính về địa chất, khoáng sản và đấu giá quyền khai thác khoáng sản; Kiểm tra chuyên ngành địa chất, khoáng sản;...

Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân tham gia hoạt động điều tra cơ bản địa chất, điều tra địa chất về khoáng sản, hoạt động khoáng sản, thu hồi khoáng sản và các hoạt động khác có liên quan đến địa chất và khoáng sản trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Khoáng sản nhóm IV theo Nghị định 193/2025/NĐ-CP bao gồm: khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường chỉ phù hợp với mục đích làm vật liệu san lấp, đắp nền móng công trình, xây dựng công trình thủy lợi, phòng, chống thiên tai, gồm: đất sét, đất đồi, đất có tên gọi khác; đất lẫn đá, cát, cuội hoặc sỏi; cát các loại (trừ cát, sỏi lòng sông, lòng hồ và khu vực biển; cát trắng silic).

Về thời hạn của giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV, Nghị định quy định:

Giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV cấp cho tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 72 của Luật Địa chất và khoáng sản có thời hạn tối đa 10 năm, bao gồm thời gian xây dựng cơ bản, thời gian khai thác được xác định theo dự án đầu tư khai thác khoáng sản. Thời hạn của giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV có thể được gia hạn nhiều lần theo quy định tại Điều 90 của Nghị định này, nhưng tổng thời gian gia hạn không quá 5 năm.

Giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV cấp cho tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 72 của Luật Địa chất và khoáng sản có thời hạn tối đa bằng với thời hạn thi công của các dự án, công trình, hạng mục công trình, biện pháp huy động khẩn cấp được quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 72 của Luật Địa chất và khoáng sản sử dụng khoáng sản nhóm IV và được quy định trong giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV (dưới đây gọi tắt là dự án, công trình sử dụng khoáng sản). Thời hạn của giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV có thể được gia hạn nhiều lần theo quy định tại Điều 90 của Nghị định này, nhưng tổng thời gian cấp và gia hạn không vượt quá thời hạn thi công (kể cả thời hạn được gia hạn, điều chỉnh) của dự án, công trình sử dụng khoáng sản ghi trong giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV.

Về việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV, Nghị định nêu rõ:

Điều kiện cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV cho tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 72 của Luật Địa chất và khoáng sản như sau:

- Đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư của dự án đầu tư khai thác khoáng sản đối với trường hợp thuộc đối tượng phải có quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư;

- Đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cấp giấy phép môi trường của dự án đầu tư khai thác khoáng sản đối với trường hợp thuộc đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường hoặc cấp giấy phép môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;

- Phù hợp với nguyên tắc khai thác khoáng sản quy định tại khoản 2 Điều 73 của Luật Địa chất và khoáng sản;

- Khu vực đề nghị cấp giấy phép khai thác đã có kết quả khảo sát, đánh giá thông tin chung đối với khoáng sản nhóm IV hoặc kết quả thăm dò khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền xác nhận, công nhận hoặc phê duyệt.

Tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 72 của Luật Địa chất và khoáng sản được xem xét, cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV khi đáp ứng điều kiện quy định tại điểm c, điểm d khoản 1 Điều này.

Trình tự, thủ tục cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV cho tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 72 của Luật Địa chất và khoáng sản được thực hiện như sau:

Trong thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan thẩm định hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra, rà soát các tài liệu, hồ sơ và các nội dung có liên quan đến việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV; kiểm tra tại thực địa; trường hợp cần thiết, gửi văn bản lấy ý kiến cơ quan có liên quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản và các nội dung liên quan đến việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV.

Thời điểm kiểm tra tại thực địa do cơ quan thẩm định hồ sơ quyết định nhưng phải hoàn thành trước khi trình hồ sơ cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan thẩm định hồ sơ có văn bản lấy ý kiến quy định tại điểm a khoản này, cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về các vấn đề có liên quan. Sau thời hạn quy định tại khoản này, cơ quan được lấy ý kiến không có văn bản trả lời được coi là đã đồng ý và phải chịu trách nhiệm về các nội dung có liên quan trong hồ sơ cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV;

Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày thực hiện xong các nội dung quy định tại điểm a và điểm b khoản này, cơ quan thẩm định hồ sơ phải hoàn thành việc thẩm định các nội dung: tọa độ, diện tích, chiều sâu, khối lượng khoáng sản, công suất, thời hạn khai thác của hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV và các nội dung khác có liên quan đến việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV; xác định tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; trình hồ sơ cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV, phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ trình cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc cấp hoặc không cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV. Trong trường hợp không cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do;

Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cấp hoặc không cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV để nhận kết quả giải quyết hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV và thực hiện các nghĩa vụ có liên quan theo quy định;

Trong trường hợp tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV, trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ văn bản, tài liệu chứng minh việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính có liên quan, cơ quan tiếp nhận hồ sơ bàn giao giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV cho tổ chức, cá nhân.

baochinhphu.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Các dự án tái định cư tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng: Những khó khăn cần tháo gỡ

Các dự án tái định cư tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng: Những khó khăn cần tháo gỡ

Dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và di chuyển hạ tầng kỹ thuật phục vụ thi công tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng (đoạn qua địa bàn tỉnh Yên Bái cũ) là một trong những dự án trọng điểm quốc gia với tổng mức đầu tư 4.590 tỷ đồng. Trong quá trình triển khai, dự án đang phải đối mặt với không ít khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng và các thủ tục pháp lý phát sinh.

Mặt bằng chờ dự án

Mặt bằng chờ dự án

Đã nhiều năm nay, người dân thôn Từ Hiếu, xã Mường Lai mong mỏi tuyến đường nối trung tâm xã với xã Đồng Yên, tỉnh Tuyên Quang sớm được đầu tư nâng cấp. Dù hàng trăm hộ dân đã tự nguyện hiến đất, bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án, đến nay công trình vẫn chưa thể triển khai. Trong khi đó, tuyến đường ngày càng xuống cấp, ảnh hưởng đến việc đi lại, vận chuyển hàng hóa và phát triển kinh tế của người dân.

Gia Phú công bố 2 khu công nghiệp hơn 5.460 tỷ đồng

Gia Phú công bố 2 khu công nghiệp hơn 5.460 tỷ đồng

Ngày 12/7, UBND xã Gia Phú tổ chức hội nghị công bố Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Phú Xuân và Khu công nghiệp Phú Xuân 1. Hội nghị nhằm công khai chủ trương đầu tư, quy mô dự án, kế hoạch thu hồi đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; đồng thời tiếp thu ý kiến của Nhân dân, tạo sự đồng thuận trước khi triển khai công tác giải phóng mặt bằng.

Cần sớm có hướng dẫn tận dụng nguồn vật liệu sau khai thác khoáng sản và xây dựng công trình

Cần sớm có hướng dẫn tận dụng nguồn vật liệu sau khai thác khoáng sản và xây dựng công trình

Nhiều dự án trên địa bàn tỉnh đang đứng trước nguy cơ thiếu vật liệu xây dựng thông thường, trong khi lượng lớn đá, cát, sỏi phát sinh từ khai thác khoáng sản, thi công công trình và tại khu vực bị bồi lấp sau mưa lũ đang tồn ứ... Nếu được tháo gỡ theo Luật Địa chất và Khoáng sản, nguồn vật liệu này sẽ không chỉ giải quyết bài toán trước mắt về vật liệu xây dựng mà còn khơi thông nguồn cung cho các công trình hạ tầng trong thời gian tới.

Cầu treo xuống cấp, người dân Mường Lai thấp thỏm mỗi ngày

Cầu treo xuống cấp, người dân Mường Lai thấp thỏm mỗi ngày

Mỗi ngày, hàng trăm lượt người dân xã Mường Lai đang phải đi qua những cây cầu treo đã cũ kỹ, xuống cấp nghiêm trọng để đến trung tâm xã, trường học, trạm y tế và các khu sản xuất. Mặt cầu cong vênh, dây cáp lỏng lẻo cùng hệ thống bu lông bung bật khiến mỗi bước chân qua cầu luôn đối mặt với nguy cơ mất an toàn giao thông. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải sớm đầu tư xây dựng hệ thống cầu mới kiên cố, đảm bảo an toàn cho Nhân dân.

Khó khăn trong thi công dự án nâng cấp, cải tạo Tỉnh lộ 159

Khó khăn trong thi công dự án nâng cấp, cải tạo Tỉnh lộ 159

Tỉnh lộ 159 từ lâu đã là tuyến giao thông huyết mạch, giữ vai trò quyết định trong việc giao thương, phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Thế nhưng, do vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, hơn 2 năm qua, một phần của Dự án Cải tạo, nâng cấp Tỉnh lộ 159, đoạn xã Si Ma Cai - xã Bắc Hà, tỉnh Lào Cai (từ Km0 - Km8) lâm vào cảnh thi công cầm chừng.

Cầu Pờ Hồ nối những niềm vui

Cầu Pờ Hồ nối những niềm vui

Mỗi mùa mưa đến, đồng bào các dân tộc ở các thôn Pờ Hồ, Trung Hồ, Séo Tả Lé, xã Trung Lèng Hồ cũ (nay là xã Mường Hum) lại thấp thỏm, lo lắng vì lũ từ thượng nguồn đổ về các con suối, chia cắt giao thông, tiềm ẩn nhiều nguy hiểm. Thế nhưng từ tháng 7 năm nay, khi hai cây cầu kiên cố bắc qua suối Pờ Hồ và Trung Hồ hoàn thành, nỗi lo ấy dần lùi lại phía sau, mở ra cơ hội phát triển mới cho vùng đất dưới chân núi Pu Ta Leng.

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Phía sau những khối nhà mang dáng dấp kiến trúc vùng cao là câu chuyện nhiều tháng ngày khảo sát, lắng nghe và điều chỉnh của những kiến trúc sư, với mong muốn dựng nên không chỉ một ngôi trường, mà còn là một không gian gìn giữ văn hóa cho học sinh nơi biên cương Tổ quốc.

Y Tý đẩy nhanh xây dựng cầu Sim San nối 3 thôn biên giới

Y Tý đẩy nhanh xây dựng cầu Sim San nối 3 thôn biên giới

Trên địa bàn xã Y Tý có 3 thôn biên giới nằm ở vị trí độc lập gồm Sim San 1, Sim San 2 và Hồng Ngài, cách trung tâm xã từ 10 đến 20 km. Để di chuyển đến các thôn này, hiện chỉ có một tuyến đường độc đạo, trong đó phải qua suối Sim San. Sau cơn bão số 3 vào tháng 9/2024 và mùa mưa lũ năm 2025, cây cầu tạm và cầu sắt qua suối đều bị lũ cuốn trôi. Hiện nay, xã Y Tý đang đẩy nhanh tiến độ xây dựng cầu Sim San, phấn đấu hoàn thành vào tháng 10 năm nay.

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Từ khi hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, điều thay đổi quan trọng không chỉ là mở rộng diện tích hay quy mô dân số mà còn tạo ra không gian phát triển lớn hơn cho tỉnh Lào Cai mới. Trong không gian đó, đầu tư hạ tầng giữ vai trò kết nối các vùng động lực, thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, khai thác khoáng sản và kinh tế cửa khẩu, hướng tới mục tiêu xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

 Bắc Hà khởi công dự án xây dựng bãi đỗ xe kết hợp chỉnh trang cảnh quan khu vực đền Bắc Hà

Bắc Hà khởi công dự án xây dựng bãi đỗ xe kết hợp chỉnh trang cảnh quan khu vực đền Bắc Hà

Sáng 01/7, trong không khí phấn khởi thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 1 năm thành lập chính quyền UBND xã Bắc Hà mới, UBND xã Bắc Hà tổ chức Lễ khởi công Dự án “Bãi đỗ xe tĩnh kết hợp chỉnh trang cảnh quan khu vực Đền Bắc Hà”. Đây là công trình tiêu biểu, có ý nghĩa quan trọng nhằm hoàn thiện hạ tầng và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Hạ tầng giao thông có vai trò quan trọng mở ra không gian phát triển, kết nối các vùng kinh tế, tạo động lực thu hút đầu tư và nâng cao đời sống người dân. Thế nhưng, do vướng mắc mặt bằng khiến tiến độ nhiều công trình bị ảnh hưởng, nguồn vốn đầu tư chưa được phát huy

Điểm đến của các nhà đầu tư chiến lược

Điểm đến của các nhà đầu tư chiến lược

Lào Cai đang quyết liệt thực hiện kịch bản tăng trưởng kinh tế gắn với đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng tại các khu, cụm công nghiệp. Việc rà soát quỹ đất trên địa bàn và kiên quyết xử lý các dự án chậm tiến độ đang được thực thi để tối ưu hóa không gian phát triển, tạo mặt bằng sạch, sẵn sàng đưa Lào Cai trở thành điểm đến cho các nhà đầu tư chiến lược ngay trong quý II/2026.

fb yt zl tw