Quy mô chăn nuôi ngày càng mở rộng
Hiện tổng đàn gia súc chính của xã đạt trên 32.200 con; trong đó có 1.774 con trâu, 963 con bò và 29.550 con lợn. Năm 2025, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 2.220 tấn, khẳng định bước phát triển rõ nét cả về quy mô lẫn sản lượng.
Toàn xã có 2 trang trại chăn nuôi lợn quy mô 1.200 con/lứa; 27 mô hình nuôi trâu trên 10 con; 12 mô hình nuôi lợn rừng lai với quy mô từ 15 - 300 con. Việc hình thành các gia trại, trang trại tập trung đã thay thế dần phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún trước đây.
Tại thôn Dù, anh Phan Thế Khương là điển hình mạnh dạn đầu tư phát triển chăn nuôi hàng hóa. Gia đình anh hiện có 3 trang trại nuôi lợn rừng lai, mỗi lứa duy trì từ 100 - 200 con. Mỗi năm xuất bán trên 10 tấn lợn hơi với giá 130.000 –150.000 đồng/kg, doanh thu đạt trên 1 tỷ đồng, lợi nhuận sau chi phí khoảng 300 - 400 triệu đồng.
Anh Khương chia sẻ: Nuôi lợn rừng lai vốn đầu tư ban đầu lớn, nhưng nếu làm bài bản, kiểm soát tốt dịch bệnh và nắm chắc thị trường thì hiệu quả rất cao. Tôi xác định phải làm theo hướng hàng hóa, không thể nuôi manh mún như trước. Có quy mô, có đầu ra ổn định thì mới yên tâm gắn bó lâu dài.
Từ những mô hình như vậy cho thấy, khi người dân thay đổi tư duy, mạnh dạn đầu tư, chăn nuôi không chỉ là kế sinh nhai mà đã trở thành ngành sản xuất hàng hóa mang lại giá trị cao.
Đòn bẩy giảm nghèo bền vững
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2025, xã triển khai Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cộng đồng – Dự án chăn nuôi bò sinh sản. Theo đó, 54 con bò cái sinh sản được hỗ trợ cho 27 hộ là hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo, mỗi hộ 2 con.
Các hộ tham gia phải bảo đảm điều kiện về đất đai, lao động, vốn đối ứng; tự xây dựng chuồng trại đạt yêu cầu kỹ thuật, bảo đảm vệ sinh môi trường và chăn nuôi theo hướng bán chăn thả. Cách làm này thể hiện rõ quan điểm: hỗ trợ có điều kiện, trao “cần câu” chứ không trao “con cá”.
Anh Vũ Văn Linh, thôn Dù – một trong những hộ được hỗ trợ 2 bò cái sinh sản năm 2025 bày tỏ: Trước đây gia đình tôi chủ yếu trông vào mấy sào ruộng và ít đồi rừng, thu nhập bấp bênh. Được Nhà nước hỗ trợ bò giống, tôi xác định phải chăm sóc thật tốt, trồng thêm cỏ, học hỏi kỹ thuật để nhân đàn. Có đôi bò sinh sản trong chuồng, tôi thấy yên tâm hơn vì có tài sản tích lũy, có hướng thoát nghèo rõ ràng.
Dự án không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ về con giống mà quan trọng hơn là tạo động lực, thay đổi nhận thức của người dân về phát triển kinh tế lâu dài, bền vững.
Khai thác lợi thế đất đai, đồng cỏ
Chấn Thịnh có lợi thế về quỹ đất đồi rừng, diện tích bãi chăn thả và nguồn phụ phẩm nông nghiệp dồi dào, thuận lợi để phát triển đàn trâu, bò theo hướng hàng hóa.
Những năm gần đây, xã luôn chủ động khuyến khích người dân trồng cỏ voi, cỏ VA06; tận dụng rơm rạ, thân ngô làm thức ăn ủ chua dự trữ cho mùa đông. Nếu trước đây mỗi hộ chỉ nuôi vài con theo hình thức thả rông, thì nay nhiều hộ đã đầu tư chuồng trại kiên cố, áp dụng kỹ thuật nuôi vỗ béo, nuôi bò sinh sản.
Việc khai thác tốt tiềm năng đất đai không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên mà còn góp phần hạn chế chăn thả tự do, giảm áp lực lên rừng và bảo vệ môi trường sinh thái.
Điểm đáng ghi nhận là tư duy sản xuất của người dân đã thay đổi rõ nét. Công tác tiêm phòng, tiêu độc khử trùng được thực hiện định kỳ; con giống có nguồn gốc rõ ràng; thức ăn được phối trộn bảo đảm dinh dưỡng. Chuồng trại được xây dựng xa khu dân cư, có hố xử lý chất thải, hầm biogas, bảo đảm vệ sinh môi trường.
Địa phương khuyến khích người chăn nuôi phát triển theo hướng an toàn sinh học, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh. Một số mô hình nuôi gà thả vườn, lợn thương phẩm quy mô lớn cho hiệu quả kinh tế cao, mang lại nguồn thu ổn định cho nhiều hộ.
Song song với mở rộng quy mô, địa phương chú trọng nâng cao chất lượng đàn vật nuôi. Đàn trâu, bò được lai tạo với giống có năng suất, chất lượng thịt cao; đàn lợn từng bước thay thế bằng giống ngoại, giống siêu nạc; gia cầm phát triển theo hướng đặc sản, đáp ứng nhu cầu thị trường.
Quyết tâm của cấp ủy, chính quyền
Chấn Thịnh đang từng bước hình thành các tổ hợp tác, nhóm hộ liên kết nhằm chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật và kết nối với thương lái, doanh nghiệp thu mua. Khi sản xuất gắn với thị trường, sản phẩm có chất lượng ổn định, người dân tránh được tình trạng “được mùa rớt giá”, nâng cao giá trị hàng hóa.
Thực tiễn cho thấy, chăn nuôi theo hướng hàng hóa, có liên kết và kiểm soát chất lượng, không chỉ nâng giá bán mà còn tạo niềm tin cho người tiêu dùng, mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường.
Đồng chí Đặng Đức Hạnh – Phó Chủ tịch UBND xã Chấn Thịnh cho biết: Xác định chăn nuôi là lĩnh vực trọng tâm trong phát triển kinh tế nông thôn, xã tập trung tuyên truyền, hướng dẫn người dân chuyển từ nhỏ lẻ sang gia trại, trang trại; tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, kiểm soát dịch bệnh và bảo đảm vệ sinh môi trường.
Thời gian tới, cùng với tiếp tục nâng cao chất lượng đàn vật nuôi, khuyến khích nhân rộng các mô hình hiệu quả như lợn rừng lai, bò sinh sản, xã Chấn Thịnh cũng sẽ đẩy mạnh liên kết tiêu thụ, xây dựng thương hiệu sản phẩm chăn nuôi địa phương.
Với cách làm bài bản, định hướng rõ ràng và sự đồng thuận của nhân dân, chăn nuôi ở Chấn Thịnh đang từng bước khẳng định vai trò ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp. Đây là bước chuyển về nhận thức, tư duy sản xuất của người nông dân, tạo nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế – xã hội bền vững trong giai đoạn mới.