Những năm gần đây, tỉnh đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho người dân; mở rộng diện tích rừng sản xuất; khuyến khích phát triển rừng gỗ lớn, rừng có chứng chỉ quản lý bền vững và mã số vùng trồng.
Với hơn 865.000 ha rừng, tỷ lệ che phủ khoảng 61,3%, thuộc nhóm cao của cả nước, Lào Cai có nhiều lợi thế phát triển kinh tế lâm nghiệp. Trong đó, diện tích rừng sản xuất hơn 436.700 ha là nền tảng quan trọng để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung. Riêng năm 2025, giá trị sản xuất lâm nghiệp toàn tỉnh đạt khoảng 8.050 tỷ đồng; sản lượng gỗ khai thác vượt 1,1 triệu m³. Nguồn nguyên liệu chủ yếu gồm keo, bạch đàn, quế, bồ đề, mỡ, sa mộc… đủ điều kiện để phát triển công nghiệp chế biến lâm sản. Tuy nhiên, phần lớn gỗ rừng trồng hiện vẫn ra thị trường dưới dạng sơ chế, giá trị tăng thêm chưa cao.
Tại xã Yên Bình, địa phương có trên 7.200 ha rừng sản xuất, chủ yếu là keo, bồ đề và bạch đàn; sản lượng gỗ khai thác trung bình hằng năm đạt từ 45.000 - 50.000 m³. Đây là vùng nguyên liệu quan trọng, song việc chuyển từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn vẫn cần thêm thời gian, nguồn lực và đầu ra ổn định. Theo lãnh đạo xã Yên Bình, phong trào phát triển rừng gỗ lớn đã có chuyển biến nhưng còn chậm. Thực tế, nhiều hộ hiểu rằng rừng gỗ lớn cho giá trị cao hơn, nhưng không phải ai cũng đủ điều kiện để chờ thêm vài năm. Phần lớn người dân vẫn khai thác khi cây khoảng 5 - 6 năm tuổi để sớm thu hồi vốn.
Ông Nguyễn Văn Nhân, thôn Đá Chồng, xã Yên Bình, người có hơn 40 năm gắn bó với nghề rừng chia sẻ: “Muốn trồng rừng gỗ lớn, trước hết phải có điều kiện kinh tế, rồi mới tính đến kéo dài chu kỳ của rừng”.
Với chu kỳ khoảng 7 năm, mỗi héc-ta keo ở Yên Bình thường cho sản lượng khoảng 100 - 120 m³ gỗ, tương đương 80 - 120 tấn gỗ tươi. Với giá bán 1,4 - 1,7 triệu đồng/tấn, doanh thu đạt khoảng 112 - 204 triệu đồng/ha. Nếu rừng được đầu tư thâm canh tốt, kéo dài chu kỳ để bán một phần sản lượng làm gỗ xẻ, gỗ chế biến, doanh thu có thể đạt khoảng 200 - 250 triệu đồng/ha. Khoảng chênh này cho thấy tiềm năng của rừng gỗ lớn. Tuy nhiên, sau khi trừ chi phí giống, trồng, chăm sóc, bảo vệ, khai thác và vận chuyển, khoản lãi thực tế nếu chia đều cho nhiều năm không cao. Người trồng rừng còn phải đối mặt với rủi ro thiên tai, sâu bệnh, cháy rừng và biến động giá thu mua. Vì vậy, nhiều hộ vẫn chọn khai thác sớm để quay vòng vốn, dù biết gỗ nhỏ chủ yếu chỉ phù hợp làm ván bóc, dăm gỗ hoặc nguyên liệu giấy.
Với doanh nghiệp, bài toán cũng không dễ hơn. Có vùng nguyên liệu, có liên kết với dân, nhưng nếu thiếu chế biến sâu, giá trị giữ lại vẫn thấp. Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bảo Yên hiện quản lý hơn 9.156 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó diện tích quy hoạch rừng sản xuất hơn 8.422 ha.
Hiện, công ty liên kết trồng rừng với 824 hộ dân với hơn 2.112 ha, góp phần tạo việc làm và thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, theo ông Đặng Quang Trung - Phó Giám đốc phụ trách công ty, hiệu quả kinh tế vẫn chưa tương xứng. Công ty không còn sản xuất công nghiệp, chỉ thuần túy trồng và bán gỗ nguyên liệu chưa qua chế biến. Bên cạnh đó, một số diện tích keo có dấu hiệu suy giảm sinh trưởng; sâu bệnh trên rừng trồng bồ đề, quế xảy ra thường xuyên, ảnh hưởng đến thu nhập của người dân và doanh thu của đơn vị. Việc tìm giống cây chất lượng cao, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và yêu cầu thị trường không hề đơn giản.
Không riêng Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bảo Yên, phần lớn số cơ sở chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ trên địa bàn tỉnh có quy mô nhỏ, công nghệ hạn chế; sản phẩm chủ yếu vẫn là ván bóc, dăm gỗ và gỗ nguyên liệu. Do chế biến sâu chưa phát triển nên phần lớn giá trị gia tăng sẽ ở các khâu sau, bên ngoài vùng nguyên liệu. Việc tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao như Mỹ, EU vẫn là thách thức với nhiều doanh nghiệp gỗ địa phương do yêu cầu khắt khe về nguồn gốc hợp pháp, chứng chỉ rừng, truy xuất xuất xứ và tiêu chuẩn môi trường. Không ít sản phẩm vẫn phải xuất khẩu qua trung gian, khiến giá trị giữ lại cho doanh nghiệp, người trồng rừng và kinh tế địa phương chưa cao.
Muốn nâng giá trị rừng trồng, Lào Cai không thể chỉ dừng ở mở rộng diện tích hay tăng sản lượng khai thác. Vấn đề là phải giữ được nhiều hơn giá trị sau khai thác ngay tại vùng nguyên liệu. Trước hết, cần tạo điều kiện để người dân kéo dài chu kỳ khai thác, phát triển rừng gỗ lớn ở những vùng phù hợp thông qua tín dụng ưu đãi, giống chất lượng cao, hỗ trợ kỹ thuật và đầu ra ổn định. Khi được liên kết chặt hơn với doanh nghiệp, có hợp đồng rõ ràng và được chia sẻ lợi ích từ sản phẩm giá trị cao, người dân mới có động lực chuyển từ khai thác gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn.
Từ thực tế này, hướng đi phù hợp là từng bước giảm phụ thuộc vào sản phẩm thô, tăng tỷ trọng chế biến sâu như gỗ xẻ, ván kỹ thuật, đồ mộc và sản phẩm xuất khẩu. Nếu các cơ sở chế biến được đặt gần vùng nguyên liệu, chi phí vận chuyển sẽ giảm, đồng thời giá trị kinh tế giữ lại ngay tại vùng nguyên liệu cũng lớn hơn.
chế biến sâu và sản phẩm hoàn thiện.
Yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, gỗ rừng trồng Lào Cai chỉ có thể đi xa hơn khi đáp ứng được các tiêu chuẩn về nguồn gốc hợp pháp, chứng chỉ rừng, truy xuất xuất xứ và tiêu chuẩn môi trường.
Khi người trồng rừng có thể bán gỗ ở giá trị cao hơn, doanh nghiệp có nguyên liệu đạt chuẩn để chế biến sâu và địa phương giữ lại được nhiều hơn lợi ích từ mỗi khối gỗ, kinh tế rừng trồng mới thực sự trở thành lợi thế bền vững, đóng góp thiết thực hơn cho sinh kế người dân và tăng trưởng kinh tế địa phương.