Việc xác định diện tích cung ứng thực tế, dữ liệu đất đai thiếu đồng bộ với bản đồ lâm nghiệp và những vướng mắc trong công tác quản lý hồ sơ đang trở thành những "điểm nghẽn", khiến việc chi trả ở nhiều địa phương chậm tiến độ, ảnh hưởng đến quyền lợi của người giữ rừng.
Một trong những địa phương đang gặp nhiều khó khăn trong công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng là xã Thượng Hà.
Theo ông Nguyễn Tiến Luật - Phó Trưởng phòng Kinh tế xã Thượng Hà, diện tích rừng do UBND xã quản lý phân tán ở nhiều khu vực, gây khó khăn cho việc lập hợp đồng quản lý, bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, tình trạng biến động đất đai diễn ra khá phổ biến nhưng chưa được cập nhật kịp thời. Nhiều trường hợp sai lệch vị trí thửa đất, ghi nhầm tên chủ rừng, thay đổi ranh giới nhưng chưa được trích đo, chỉnh lý hồ sơ. Việc người dân tự ý chuyển nhượng, cho tặng đất rừng không đúng quy định cũng gây nhiều khó khăn trong công tác xác minh chủ thể thụ hưởng.
Địa phương cũng ghi nhận tình trạng diện tích rừng của người dân chồng lấn với ranh giới của các ban quản lý rừng phòng hộ hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn lâm nghiệp, dẫn đến tranh chấp kéo dài. Trong khi đó, việc hoàn thiện hồ sơ chi trả đòi hỏi nhiều thời gian, nhân lực nhưng chưa có kinh phí hỗ trợ cho lực lượng trực tiếp thực hiện.
Tính đến nay, kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng chưa giải ngân được giai đoạn 2020 - 2025 của xã Thượng Hà lên tới gần 660 triệu đồng trên tổng số hơn 837 triệu đồng được phân bổ.
Dự kiến năm 2026, diện tích rừng được chi trả của địa phương là 235,69 ha với số tiền hơn 135 triệu đồng. Hiện chính quyền xã đang khẩn trương xây dựng kế hoạch để trình HĐND xã phê duyệt nhằm từng bước gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Tương tự xã Thượng Hà, công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã Cao Sơn cũng bị chậm tiến độ. Khó khăn lớn nhất là sự chênh lệch giữa diện tích rừng trên hồ sơ quản lý với hiện trạng ngoài thực địa. Cùng với đó, quy trình phê duyệt trước đây còn nhiều bước, nguồn kinh phí phân bổ chậm, khiến việc chi trả cho người dân chưa thể thực hiện đúng tiến độ.
Để giải quyết dứt điểm "điểm nghẽn" này, xã Cao Sơn đang khẩn trương rà soát lại toàn bộ hiện trạng đất lâm nghiệp.
Ông Trần Hoàng Anh - Chủ tịch UBND xã Cao Sơn cho biết: "Hiện tại chúng tôi đang phối hợp với Quỹ Bảo vệ rừng và môi trường để triển khai đo đạc, thống nhất số liệu diện tích giữa thực tế và sổ sách. Trên cơ sở đó tiếp tục phối hợp triển khai các bước để chi trả cho người dân".
Những khó khăn tại Thượng Hà và Cao Sơn cũng phản ánh thực trạng chung trong quá trình triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
Hiện toàn tỉnh có hơn 511.994 ha rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng, chiếm 62,8% tổng diện tích rừng toàn tỉnh. Diện tích này trải rộng trên 92 xã, phường với hàng chục nghìn chủ rừng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, toàn tỉnh vẫn còn tới 38.271 hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất lâm nghiệp ổn định, lâu dài, không có tranh chấp song lại chưa được Nhà nước chính thức giao rừng hoặc cho thuê rừng.
Thiếu cơ sở pháp lý vững chắc, việc xác định đối tượng thụ hưởng trên bản đồ theo dõi diễn biến rừng gặp cản trở lớn.
Bên cạnh đó, quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng phát sinh nhiều vướng mắc. Việc bàn giao hồ sơ quản lý, bảo vệ rừng giữa các địa phương trước và sau sáp nhập chưa đầy đủ, dẫn đến khó xác định đơn vị, cá nhân trực tiếp thực hiện hợp đồng bảo vệ rừng để làm căn cứ chi trả. Một số biên bản quyết toán của các năm trước bị thất lạc hoặc bàn giao thiếu, ảnh hưởng đến công tác tổng hợp và theo dõi.
Đặc biệt, dữ liệu đất đai và bản đồ lâm nghiệp chưa đồng bộ là "điểm nghẽn" lớn nhất. Nhiều giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa được cập nhật lên bản đồ diễn biến rừng; hiện trạng rừng chưa được bóc tách chính xác, thiếu thông tin về địa danh. Khi phát hiện sai sót, cán bộ phải cập nhật thủ công với khối lượng công việc rất lớn, làm chậm tiến độ chi trả.
Những tồn tại này khiến nguồn kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng chưa thể phát huy hiệu quả.
Theo thống kê, từ năm 2021 đến năm 2024, số tiền dịch vụ môi trường rừng tồn đọng trên địa bàn tỉnh đã lên tới hơn 111,6 tỷ đồng.
Đến tháng 6/2026, toàn tỉnh còn 74 dự án chưa hoàn thành nghĩa vụ ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường với tổng số tiền hơn 57 tỷ đồng.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Quỹ Bảo vệ rừng và môi trường tỉnh đã tiếp nhận hơn 103 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng từ các đơn vị sử dụng, đạt 99,99% số phải thu, đồng thời chi tạm ứng từ nguồn năm 2025 hơn 73 tỷ đồng.
Tuy nhiên, để giải quyết dứt điểm số tiền dịch vụ môi trường rừng còn tồn đọng từ các năm trước cùng những vướng mắc trong quá trình xác định đối tượng thụ hưởng, vẫn cần những giải pháp đồng bộ hơn.
Theo ông Tô Xuân Quý - Giám đốc Quỹ Bảo vệ rừng và môi trường tỉnh Lào Cai, quỹ đang phối hợp với các địa phương rà soát hiện trạng, bóc tách chính xác đối tượng thụ hưởng đối với những diện tích chưa được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng; đồng thời kiến nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường triển khai đo đạc, đồng bộ dữ liệu đất đai để tạo cơ sở cho việc chi trả.
Với phương châm "lấy rừng để nuôi rừng", chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng không chỉ góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước mà còn tạo nguồn lực cho công tác quản lý, bảo vệ rừng, đồng thời giúp người dân có thêm thu nhập từ việc giữ rừng. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, nguồn kinh phí cần được chi trả kịp thời, đúng đối tượng thụ hưởng.
Thực tế hiện nay cho thấy, việc số hóa dữ liệu đất đai, đồng bộ bản đồ lâm nghiệp, bóc tách chính xác diện tích rừng và xử lý nguồn quỹ tồn đọng là những nhiệm vụ cần sớm được triển khai. Cùng với đó, các cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện hồ sơ, tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện để nguồn kinh phí dịch vụ môi trường rừng đến đúng người giữ rừng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng và tạo sinh kế bền vững cho người dân.