Thị trường vàng trong nước sáng 13/7 duy trì trạng thái ổn định sau những phiên tăng, giảm mạnh trong tuần trước. Giá vàng miếng, vàng nhẫn và phần lớn các dòng vàng trang sức tại SJC, DOJI, PNJ, Bảo Tín Minh Châu và Phú Quý đều không thay đổi so với ngày 12/7.
Giá vàng cập nhật 5h30 sáng hôm nay 12/7/2026: Giá vàng 9999, nhẫn và vàng thế giới Chủ Nhật
Giá vàng hôm nay 12/7/2026: Thị trường trong nước neo cao ở cả vàng miếng lẫn vàng nhẫn, vàng thế giới giảm nhẹ về 4.119,4 USD/ounce.
Vàng miếng SJC bán ra cao nhất ở mức 149,9 triệu đồng/lượng. Đây vẫn là vùng giá cao, nhưng thấp hơn mốc 151,4 triệu đồng/lượng được ghi nhận vào đầu tháng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giữ ở mức 4.101 USD/ounce, với biên độ từ 4.088 đến 4.121 USD/ounce. Diễn biến đi ngang cho thấy cả bên mua và bên bán đều đang chờ những thông tin có thể định hướng lãi suất Mỹ trong tuần mới.
Giá vàng SJC ngày 13/7/2026 đi ngang
Tại Công ty SJC, giá vàng miếng ở TP.HCM và miền Bắc cùng được niêm yết 146,9 triệu đồng/lượng mua vào và 149,9 triệu đồng/lượng bán ra, không đổi so với ngày 12/7.
| Khu vực | Mua vào 12/7 | Bán ra 12/7 | Mua vào 13/7 | Bán ra 13/7 | Biến động |
|---|---|---|---|---|---|
| TP.HCM | 146,9 | 149,9 | 146,9 | 149,9 | Không đổi |
| Miền Bắc | 146,9 | 149,9 | 146,9 | 149,9 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Chênh lệch giữa giá mua và bán của vàng SJC tiếp tục ở mức 3 triệu đồng/lượng. Khoảng cách này đồng nghĩa người mua vàng cần giá tăng ít nhất 3 triệu đồng/lượng mới có thể bù được phần chênh lệch nếu bán lại tại cùng thời điểm.
Giá vàng DOJI ngày 13/7/2026
Tại DOJI, vàng SJC bán lẻ được niêm yết 146,9 - 149,9 triệu đồng/lượng. Kim TT/AVPL và nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng cùng giữ mức 145 - 149 triệu đồng/lượng.
Toàn bộ các dòng sản phẩm trong bảng giá DOJI đều không thay đổi so với ngày 12/7.
| Loại vàng DOJI | Mua vào 12/7 | Bán ra 12/7 | Mua vào 13/7 | Bán ra 13/7 | Biến động |
| SJC bán lẻ | 146,9 | 149,9 | 146,9 | 149,9 | Không đổi |
| Kim TT/AVPL | 145,0 | 149,0 | 145,0 | 149,0 | Không đổi |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 145,0 | 149,0 | 145,0 | 149,0 | Không đổi |
| Nguyên liệu 99.99 | 134,0 | 136,0 | 134,0 | 136,0 | Không đổi |
| Nguyên liệu 99.9 | 133,5 | 135,5 | 133,5 | 135,5 | Không đổi |
| Nữ trang 9999 bán lẻ | 139,0 | 144,0 | 139,0 | 144,0 | Không đổi |
| Nữ trang 999 bán lẻ | 138,5 | 143,5 | 138,5 | 143,5 | Không đổi |
| Nữ trang 99 bán lẻ | 137,8 | 143,3 | 137,8 | 143,3 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Đáng chú ý, chênh lệch mua - bán của Kim TT/AVPL và nhẫn tròn 9999 tại DOJI đang ở mức 4 triệu đồng/lượng. Với vàng nữ trang, khoảng cách còn rộng hơn, phổ biến từ 5 đến 5,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng PNJ ngày 13/7/2026
Tại PNJ, vàng miếng SJC 999.9 được niêm yết 146,9 - 149,9 triệu đồng/lượng. Nhẫn trơn PNJ 999.9, vàng Kim Bảo, vàng Phúc Lộc Tài và vàng PNJ - Phượng Hoàng cùng giữ mức 145 - 149 triệu đồng/lượng.
| Loại vàng PNJ | Mua vào 12/7 | Bán ra 12/7 | Mua vào 13/7 | Bán ra 13/7 | Biến động |
| Vàng miếng SJC 999.9 | 146,9 | 149,9 | 146,9 | 149,9 | Không đổi |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 145,0 | 149,0 | 145,0 | 149,0 | Không đổi |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 145,0 | 149,0 | 145,0 | 149,0 | Không đổi |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 145,0 | 149,0 | 145,0 | 149,0 | Không đổi |
| Vàng PNJ - Phượng Hoàng | 145,0 | 149,0 | 145,0 | 149,0 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 999.9 | 143,2 | 147,2 | 143,2 | 147,2 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 999 | 143,05 | 147,05 | 143,05 | 147,05 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 9920 | 139,82 | 146,02 | 139,82 | 146,02 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 99 | 139,53 | 145,73 | 139,53 | 145,73 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán của vàng miếng SJC tại PNJ là 3 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn và các dòng vàng tích trữ 999.9 có mức chênh 4 triệu đồng/lượng.
Với nhóm vàng nữ trang hàm lượng thấp hơn, chênh lệch có thể lên tới khoảng 6,2 triệu đồng/lượng. Người mua vàng trang sức vì mục đích đầu tư vì thế cần đặc biệt lưu ý chi phí hao hụt và khoảng cách mua - bán.
Giá vàng Bảo Tín Minh Châu ngày 13/7/2026
Bảo Tín Minh Châu niêm yết vàng BTMC SJC ở mức 145 triệu đồng/lượng mua vào và 149,9 triệu đồng/lượng bán ra, không đổi so với ngày 12/7.
| Thương hiệu | Mua vào 12/7 | Bán ra 12/7 | Mua vào 13/7 | Bán ra 13/7 | Biến động |
| BTMC SJC | 145,0 | 149,9 | 145,0 | 149,9 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Chênh lệch mua - bán tại Bảo Tín Minh Châu đang ở mức 4,9 triệu đồng/lượng, cao hơn đáng kể so với mức 3 triệu đồng/lượng của Công ty SJC.
Mức chênh rộng phản ánh sự thận trọng của doanh nghiệp trước tuần giao dịch có nhiều dữ liệu kinh tế quan trọng từ Mỹ.
Giá vàng Phú Quý ngày 13/7/2026
Tại Phú Quý, vàng miếng SJC được niêm yết 146,3 - 149,9 triệu đồng/lượng. Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 và Phú Quý 1 lượng 999.9 cùng ở mức 145,3 - 148,8 triệu đồng/lượng.
| Loại vàng Phú Quý | Mua vào 12/7 | Bán ra 12/7 | Mua vào 13/7 | Bán ra 13/7 | Biến động |
| Vàng miếng SJC | 146,3 | 149,9 | 146,3 | 149,9 | Không đổi |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 145,3 | 148,8 | 145,3 | 148,8 | Không đổi |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 145,3 | 148,8 | 145,3 | 148,8 | Không đổi |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 145,2 | 148,7 | 145,2 | 148,7 | Không đổi |
| Vàng trang sức 999.9 | 142,0 | 147,0 | 142,0 | 147,0 | Không đổi |
| Vàng trang sức 999 | 141,9 | 146,9 | 141,9 | 146,9 | Không đổi |
| Vàng trang sức 99 | 140,58 | 145,53 | 140,58 | 145,53 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Vàng miếng SJC tại Phú Quý có chênh lệch mua - bán 3,6 triệu đồng/lượng. Với nhẫn tròn 999.9, khoảng cách là 3,5 triệu đồng/lượng, thấp hơn một số thương hiệu nhưng vẫn là mức cần cân nhắc với giao dịch ngắn hạn.
Giá vàng thế giới ngày 13/7/2026 giữ mức 4.101 USD/ounce
Theo số liệu cập nhật, giá vàng thế giới sáng 13/7 đứng ở mức 4.101 USD/ounce, không thay đổi so với ngày 12/7. Biên độ gần nhất dao động từ 4.088 đến 4.121 USD/ounce.
| Chỉ tiêu | Ngày 12/7 | Ngày 13/7 | Biến động |
| Giá vàng thế giới | 4.101 USD/ounce | 4.101 USD/ounce | Không đổi |
| Biên độ | 4.088 - 4.121 USD/ounce | 4.088 - 4.121 USD/ounce | Không đổi |
| Quy đổi tham khảo | Khoảng 130,88 triệu đồng/lượng | Khoảng 130,88 triệu đồng/lượng | Không đổi |
Giá quy đổi theo tỷ giá bán USD 26.470 đồng/USD của Vietcombank, chưa bao gồm thuế, phí, chi phí gia công và chi phí kinh doanh. Tỷ giá được ngân hàng cập nhật lúc 23 giờ ngày 12/7/2026.
Với mức quy đổi khoảng 130,88 triệu đồng/lượng, vàng thế giới đang thấp hơn giá bán vàng miếng SJC trong nước khoảng 19,02 triệu đồng/lượng.
Đây vẫn là mức chênh lệch rất cao. Vì vậy, dù vàng trong nước không biến động trong sáng 13/7, người mua vẫn phải đối mặt với rủi ro từ cả khoảng cách với giá thế giới lẫn chênh lệch mua - bán tại từng doanh nghiệp.
Vì sao giá vàng đang đi ngang?
Giá vàng bước vào tuần mới trong trạng thái giằng co giữa hai nhóm yếu tố trái chiều.
Ở chiều gây áp lực, thị trường đang lo ngại lạm phát Mỹ có thể duy trì ở mức cao do giá năng lượng, thuế quan và những gián đoạn liên quan đến xung đột tại Trung Đông. Báo cáo chính sách tiền tệ mới nhất của Fed cho biết lạm phát đã tăng trong mùa xuân và vẫn cao hơn đáng kể so với mục tiêu dài hạn 2%.
Biên bản cuộc họp tháng 6 của Fed cũng cho thấy các nhà hoạch định chính sách chia rẽ về hướng đi tiếp theo. Nếu lạm phát tiếp tục dai dẳng và lan rộng, phần lớn thành viên sẵn sàng ủng hộ tăng lãi suất; ngược lại, nếu áp lực giá suy giảm, Fed có thể giữ nguyên hoặc tiến tới hạ lãi suất.
Lãi suất cao thường bất lợi với vàng, bởi kim loại quý không tạo ra dòng tiền định kỳ. Reuters cho biết giá dầu tăng do căng thẳng Mỹ - Iran đã làm gia tăng lo ngại lạm phát, đồng thời khiến thị trường nâng kỳ vọng về khả năng Fed thắt chặt chính sách.
Ở chiều hỗ trợ, nhu cầu mua vàng dự trữ của ngân hàng trung ương vẫn hiện hữu. Ngân hàng trung ương Trung Quốc đã mua thêm 480.000 ounce vàng trong tháng 6, đánh dấu tháng mua ròng thứ 20 liên tiếp và là mức tăng dự trữ hàng tháng lớn nhất trong hơn hai năm rưỡi.
Sự đối nghịch giữa rủi ro lãi suất và nhu cầu phòng thủ là nguyên nhân khiến vàng thế giới tạm thời dao động hẹp quanh mốc 4.100 USD/ounce.
Tuần mới, thị trường vàng chờ những thông tin nào?
Tâm điểm của thị trường trong tuần bắt đầu từ ngày 13/7 là báo cáo chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số giá sản xuất của Mỹ. Các dữ liệu này sẽ giúp nhà đầu tư đánh giá liệu áp lực lạm phát có tiếp tục đủ mạnh để thúc đẩy Fed tăng lãi suất hay không.
Chủ tịch Fed Kevin Warsh cũng dự kiến điều trần trước Quốc hội Mỹ trong tuần. Những phát biểu về lạm phát, tăng trưởng và chính sách tiền tệ có thể làm thay đổi nhanh kỳ vọng lãi suất, qua đó tác động trực tiếp tới đồng USD, lợi suất trái phiếu và giá vàng.
Ngoài ra, căng thẳng tại Trung Đông và diễn biến giá dầu vẫn là biến số khó lường. Nếu giá dầu tăng mạnh, vàng có thể được hỗ trợ bởi nhu cầu trú ẩn, nhưng đồng thời chịu sức ép nếu thị trường cho rằng lạm phát cao sẽ buộc Fed tăng lãi suất.
Dự báo giá vàng trong nước ngày 13/7/2026
Trong ngắn hạn, vàng SJC nhiều khả năng tiếp tục dao động trong vùng 146,5 - 150,5 triệu đồng/lượng. Việc giá giữ nguyên trong sáng 13/7 cho thấy doanh nghiệp chưa muốn điều chỉnh mạnh khi thị trường quốc tế vẫn giằng co quanh mốc 4.100 USD/ounce.
Nếu vàng thế giới vượt vùng 4.120 - 4.150 USD/ounce, vàng SJC có thể kiểm định lại mốc 150 - 151 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, mức tăng trong nước có thể không hoàn toàn tương ứng với giá thế giới do nhu cầu thực tế và chính sách niêm yết của từng doanh nghiệp.
Ngược lại, nếu vàng thế giới mất mốc 4.080 USD/ounce, vàng SJC có thể giảm về vùng 146 - 149 triệu đồng/lượng. Chiều mua vào tại những thương hiệu đang duy trì chênh lệch rộng có khả năng bị điều chỉnh nhanh hơn chiều bán ra.
Với vàng nhẫn, vùng giá tham chiếu trong ngày có thể dao động từ 145 đến 149 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giá giữa các thương hiệu vẫn khá lớn, nên người mua cần so sánh cả hai chiều mua và bán thay vì chỉ nhìn vào giá bán.
Dự báo giá vàng thế giới tuần từ 13/7/2026
Mốc 4.100 USD/ounce tiếp tục đóng vai trò là vùng cân bằng ngắn hạn.
Kịch bản tích cực có thể xuất hiện nếu dữ liệu lạm phát Mỹ thấp hơn dự báo hoặc Chủ tịch Fed phát tín hiệu thận trọng với việc tăng lãi suất. Khi đó, vàng có thể vượt vùng 4.120 - 4.150 USD/ounce và hướng tới 4.180 USD/ounce.
Kịch bản tiêu cực sẽ xảy ra nếu lạm phát cao hơn dự báo, đồng USD và lợi suất trái phiếu cùng tăng. Giá vàng khi đó có thể lùi về vùng 4.050 - 4.080 USD/ounce. Nếu mất mốc 4.050 USD/ounce, thị trường có thể tiếp tục kiểm định vùng tâm lý 4.000 USD/ounce.
Kịch bản cơ sở là vàng dao động trong khoảng 4.080 - 4.150 USD/ounce trước khi có thêm tín hiệu rõ ràng từ dữ liệu lạm phát và thông điệp của Fed.
Người mua vàng cần lưu ý gì?
Giá vàng trong nước đang đứng yên, nhưng điều này không đồng nghĩa rủi ro đã giảm. Khoảng cách giữa giá bán SJC và vàng thế giới quy đổi vẫn hơn 19 triệu đồng/lượng, trong khi chênh lệch mua - bán phổ biến từ 3 đến gần 5 triệu đồng/lượng.
Người mua tích trữ dài hạn nên chia nhỏ số tiền và lựa chọn thời điểm giải ngân, thay vì mua toàn bộ khi giá đang ở vùng cao.
Người đầu tư ngắn hạn cần đặc biệt thận trọng với chi phí chênh lệch mua - bán. Việc giá thế giới tăng nhẹ chưa chắc đủ giúp người mua vàng trong nước có lãi.
Người có nhu cầu mua vàng trang sức nên phân biệt rõ giá trị tích trữ và chi phí chế tác. Một số loại nữ trang đang có chênh lệch mua - bán trên 5 triệu đồng/lượng, khiến giá trị thu hồi thấp hơn đáng kể khi bán lại.
Trong ngày 13/7, hai vùng giá quan trọng cần theo dõi là 4.100 USD/ounce đối với vàng thế giới và 149,9 triệu đồng/lượng đối với vàng miếng SJC. Việc hai mốc này được giữ vững hay bị phá vỡ sẽ quyết định hướng đi của thị trường trong những phiên đầu tuần.