Thị trường vàng trong nước sáng 16/7 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định. Vàng miếng, vàng nhẫn và phần lớn sản phẩm vàng trang sức tại SJC, DOJI, PNJ, Bảo Tín Minh Châu và Phú Quý đều không thay đổi so với ngày 15/7.
Giá vàng chiều 15/7: Vàng miếng, vàng nhẫn tăng mạnh trở lại sau 2 ngày lao dốc
Chiều ngày 15/7, giá vàng trong nước ghi nhận đà tăng mạnh mẽ ở cả vàng miếng và vàng nhẫn, cùng chung xu hướng phục hồi với thị trường thế giới.
Vàng miếng SJC được bán ra phổ biến ở mức 148,5 triệu đồng/lượng. Giá mua vào dao động từ 143,5 đến 145,5 triệu đồng/lượng tùy doanh nghiệp, cho thấy sự khác biệt đáng kể về biên độ phòng thủ giữa các thương hiệu.
Trái với diễn biến đi ngang trong nước, giá vàng thế giới tăng từ 4.038 USD/ounce ngày 15/7 lên 4.063 USD/ounce sáng 16/7. Mức tăng 25 USD/ounce tương đương gần 800.000 đồng/lượng sau quy đổi.
Dữ liệu lạm phát Mỹ thấp hơn dự kiến đã hỗ trợ vàng. Chỉ số giá sản xuất Mỹ tháng 6 giảm 0,3%, trong khi đồng USD suy yếu và kỳ vọng Fed tăng lãi suất trong tháng 7 giảm đáng kể. Tuy nhiên, căng thẳng tại Trung Đông và giá dầu cao vẫn có thể làm lạm phát quay trở lại, khiến triển vọng của vàng chưa hoàn toàn thuận lợi.
Giá vàng SJC ngày 16/7/2026 đi ngang
Công ty SJC tiếp tục niêm yết vàng miếng tại TP.HCM và miền Bắc ở mức 145,5 triệu đồng/lượng mua vào và 148,5 triệu đồng/lượng bán ra.
So với ngày 15/7, giá không thay đổi ở cả hai chiều.
| Khu vực | Mua vào 15/7 | Bán ra 15/7 | Mua vào 16/7 | Bán ra 16/7 | Biến động |
|---|---|---|---|---|---|
| TP.HCM | 145,5 | 148,5 | 145,5 | 148,5 | Không đổi |
| Miền Bắc | 145,5 | 148,5 | 145,5 | 148,5 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Chênh lệch mua - bán vàng SJC duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng. Đây vẫn là khoảng cách khá rộng với người mua ngắn hạn, bởi giá vàng phải tăng trên 3 triệu đồng/lượng mới có thể bù phần chênh lệch giao dịch nếu mua và bán tại cùng một thương hiệu.
So với ngày 14/7, vàng SJC hiện cao hơn 100.000 đồng/lượng ở cả hai chiều. Tuy nhiên, giá vẫn thấp hơn đáng kể so với mốc trên 150 triệu đồng/lượng từng được ghi nhận trong nửa đầu tháng 7.
Giá vàng DOJI ngày 16/7/2026
Bảng giá được DOJI cập nhật lúc 5 giờ 15 phút ngày 16/7 cho thấy tất cả sản phẩm đều giữ nguyên so với ngày 15/7.
Vàng miếng SJC được niêm yết ở mức 145,5 - 148,5 triệu đồng/lượng. Kim TT/AVPL và nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng cùng ở mức 143,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
| Loại vàng DOJI | Mua vào 15/7 | Bán ra 15/7 | Mua vào 16/7 | Bán ra 16/7 | Biến động |
| Vàng miếng SJC | 145,5 | 148,5 | 145,5 | 148,5 | Không đổi |
| Kim TT/AVPL | 143,5 | 147,5 | 143,5 | 147,5 | Không đổi |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 143,5 | 147,5 | 143,5 | 147,5 | Không đổi |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 132,0 | 134,0 | 132,0 | 134,0 | Không đổi |
| Vàng nguyên liệu 999 | 131,5 | 133,5 | 131,5 | 133,5 | Không đổi |
| Nữ trang 9999 | 137,0 | 142,0 | 137,0 | 142,0 | Không đổi |
| Nữ trang 999 | 136,5 | 141,5 | 136,5 | 141,5 | Không đổi |
| Nữ trang 99 | 135,8 | 141,3 | 135,8 | 141,3 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Chênh lệch mua - bán vàng miếng SJC tại DOJI là 3 triệu đồng/lượng. Với Kim TT/AVPL và nhẫn tròn 9999, khoảng cách tăng lên 4 triệu đồng/lượng.
Nhóm nữ trang có chênh lệch lớn hơn, từ 5 đến 5,5 triệu đồng/lượng. Điều này phản ánh chi phí chế tác, hao hụt và mức phòng ngừa rủi ro khi doanh nghiệp mua lại sản phẩm.
Giá vàng PNJ ngày 16/7/2026
Tại PNJ, vàng miếng SJC 999.9 được niêm yết 145,5 triệu đồng/lượng mua vào và 148,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Nhẫn trơn PNJ 999.9, vàng Kim Bảo, vàng Phúc Lộc Tài và vàng PNJ - Phượng Hoàng cùng giữ mức 143,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
| Loại vàng PNJ | Mua vào 15/7 | Bán ra 15/7 | Mua vào 16/7 | Bán ra 16/7 | Biến động |
| Vàng miếng SJC 999.9 | 145,5 | 148,5 | 145,5 | 148,5 | Không đổi |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 143,5 | 147,5 | 143,5 | 147,5 | Không đổi |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 143,5 | 147,5 | 143,5 | 147,5 | Không đổi |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 143,5 | 147,5 | 143,5 | 147,5 | Không đổi |
| Vàng PNJ - Phượng Hoàng | 143,5 | 147,5 | 143,5 | 147,5 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 999.9 | 142,0 | 146,0 | 142,0 | 146,0 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 999 | 141,85 | 145,85 | 141,85 | 145,85 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 9920 | 138,63 | 144,83 | 138,63 | 144,83 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 99 | 138,34 | 144,54 | 138,34 | 144,54 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn PNJ đang thấp hơn vàng miếng SJC khoảng 1 triệu đồng/lượng ở chiều bán và 2 triệu đồng/lượng ở chiều mua.
Chênh lệch mua - bán vàng nhẫn là 4 triệu đồng/lượng, trong khi một số dòng nữ trang có khoảng cách lên tới 6,2 triệu đồng/lượng. Người mua vàng với mục tiêu tích trữ cần phân biệt rõ giữa vàng nhẫn, vàng miếng và vàng trang sức để tránh chịu chi phí thu hồi cao.
Giá vàng Bảo Tín Minh Châu ngày 16/7/2026
Bảo Tín Minh Châu giữ giá BTMC SJC ở mức 143,5 triệu đồng/lượng mua vào và 148,5 triệu đồng/lượng bán ra.
| Thương hiệu | Mua vào 15/7 | Bán ra 15/7 | Mua vào 16/7 | Bán ra 16/7 | Biến động |
| BTMC SJC | 143,5 | 148,5 | 143,5 | 148,5 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Chênh lệch mua - bán tại Bảo Tín Minh Châu đang ở mức 5 triệu đồng/lượng, cao hơn 2 triệu đồng/lượng so với mức chênh tại Công ty SJC.
Điều này cho thấy doanh nghiệp vẫn khá thận trọng với chiều mua vào. Nếu người mua vàng SJC tại mức 148,5 triệu đồng/lượng và bán lại theo bảng giá hiện tại, mức chênh có thể lên tới 5 triệu đồng mỗi lượng.
Giá vàng Phú Quý ngày 16/7/2026
Tại Phú Quý, vàng miếng SJC được niêm yết 145 - 148,5 triệu đồng/lượng.
Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 và Phú Quý 1 lượng 999.9 cùng được giao dịch ở mức 143,7 - 147,2 triệu đồng/lượng.
| Loại vàng Phú Quý | Mua vào 15/7 | Bán ra 15/7 | Mua vào 16/7 | Bán ra 16/7 | Biến động |
| Vàng miếng SJC | 145,0 | 148,5 | 145,0 | 148,5 | Không đổi |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 143,7 | 147,2 | 143,7 | 147,2 | Không đổi |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 143,7 | 147,2 | 143,7 | 147,2 | Không đổi |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 143,6 | 147,1 | 143,6 | 147,1 | Không đổi |
| Vàng trang sức 999.9 | 141,2 | 146,2 | 141,2 | 146,2 | Không đổi |
| Vàng trang sức 999 | 141,1 | 146,1 | 141,1 | 146,1 | Không đổi |
| Vàng trang sức 99 | 139,79 | 144,74 | 139,79 | 144,74 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng; số liệu được làm tròn đến hai chữ số thập phân.
Chênh lệch mua - bán vàng miếng SJC tại Phú Quý là 3,5 triệu đồng/lượng. Nhẫn tròn 999.9 cũng có mức chênh 3,5 triệu đồng/lượng.
Giá bán nhẫn tròn Phú Quý đang thấp hơn vàng miếng SJC 1,3 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, người mua vẫn cần cân nhắc chênh lệch mua - bán và chính sách thu mua lại trước khi lựa chọn sản phẩm.
Bảng giá vàng nổi bật ngày 16/7/2026
| Thương hiệu, sản phẩm | Mua vào | Bán ra | Chênh lệch mua - bán |
| SJC | 145,5 | 148,5 | 3,0 |
| DOJI vàng miếng SJC | 145,5 | 148,5 | 3,0 |
| PNJ vàng miếng SJC | 145,5 | 148,5 | 3,0 |
| BTMC SJC | 143,5 | 148,5 | 5,0 |
| Phú Quý vàng miếng SJC | 145,0 | 148,5 | 3,5 |
| DOJI nhẫn tròn 9999 | 143,5 | 147,5 | 4,0 |
| PNJ nhẫn trơn 999.9 | 143,5 | 147,5 | 4,0 |
| Phú Quý nhẫn tròn 999.9 | 143,7 | 147,2 | 3,5 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Ở chiều bán ra, vàng miếng SJC tại các thương hiệu lớn cùng giữ mốc 148,5 triệu đồng/lượng. Khác biệt chủ yếu nằm ở giá mua vào và mức chênh lệch doanh nghiệp áp dụng.
Người có nhu cầu bán vàng có thể nhận mức giá cao hơn tại SJC, DOJI và PNJ so với Bảo Tín Minh Châu. Tuy nhiên, bảng giá có thể thay đổi nhiều lần trong ngày và còn phụ thuộc chủng loại, tình trạng sản phẩm cùng giấy tờ đi kèm.
Giá vàng thế giới ngày 16/7/2026 tăng lên 4.063 USD/ounce
Giá vàng thế giới sáng 16/7 ở mức 4.063 USD/ounce, tăng 25 USD so với mức 4.038 USD/ounce của ngày 15/7.
Biên độ trong ngày dao động từ 4.060 đến 4.065 USD/ounce, cho thấy vàng đang tạm ổn định trên vùng 4.060 USD sau nhịp phục hồi.
| Chỉ tiêu | Ngày 15/7 | Ngày 16/7 | Biến động |
| Giá vàng thế giới | 4.038 USD/ounce | 4.063 USD/ounce | +25 USD |
| Tỷ lệ biến động | – | – | Khoảng +0,62% |
| Biên độ ngày | 4.029 - 4.062 | 4.060 - 4.065 | Chuyển lên vùng giá cao hơn |
| Quy đổi tham khảo | 128,87 triệu đồng/lượng | 129,67 triệu đồng/lượng | +0,80 triệu đồng/lượng |
Giá quy đổi theo tỷ giá bán USD tham khảo 26.470 đồng/USD, chưa bao gồm thuế, phí, chi phí vận chuyển, gia công và kinh doanh.
Với giá bán SJC ở mức 148,5 triệu đồng/lượng, vàng trong nước đang cao hơn giá thế giới quy đổi khoảng 18,83 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách này đã thu hẹp so với những phiên vàng thế giới đứng gần mốc 4.000 USD/ounce, nhưng vẫn ở mức rất cao. Đây tiếp tục là một trong những rủi ro lớn nhất đối với người mua vàng trong nước.
Vì sao vàng thế giới tăng nhưng giá trong nước chưa thay đổi?
Dữ liệu lạm phát Mỹ hạ nhiệt
Động lực chính hỗ trợ vàng là chỉ số giá sản xuất Mỹ tháng 6 bất ngờ giảm 0,3%, trái với dự báo đi ngang. Trước đó, số liệu giá tiêu dùng cũng cho thấy áp lực lạm phát hạ nhiệt.
Những dữ liệu này làm giảm khả năng Fed phải tăng lãi suất ngay trong tháng 7. Vàng thường được hưởng lợi khi kỳ vọng lãi suất giảm, bởi chi phí cơ hội của việc nắm giữ tài sản không sinh lãi thấp hơn.
Đồng USD suy yếu hỗ trợ vàng
Sau dữ liệu giá sản xuất, chỉ số USD giảm xuống vùng thấp nhất kể từ giữa tháng 6. Đồng bạc xanh yếu khiến vàng trở nên rẻ hơn với người mua sử dụng các đồng tiền khác, qua đó hỗ trợ nhu cầu.
Tuy nhiên, USD chưa hình thành xu hướng giảm bền vững. Sức khỏe của kinh tế Mỹ và những rủi ro địa chính trị vẫn có thể kéo dòng tiền trở lại đồng bạc xanh.
Rủi ro dầu mỏ và Trung Đông vẫn gây sức ép
Căng thẳng Mỹ - Iran tiếp tục tác động tới tuyến vận tải và nguồn cung năng lượng tại Trung Đông. Giá dầu tăng có thể làm lạm phát quay trở lại, khiến Fed phải duy trì chính sách tiền tệ cứng rắn lâu hơn.
Đây là tình thế hai mặt với vàng: bất ổn địa chính trị làm tăng nhu cầu trú ẩn, nhưng giá dầu cao lại thúc đẩy lo ngại lạm phát và lãi suất, có thể hạn chế đà tăng của kim loại quý.
Doanh nghiệp trong nước vẫn thận trọng
Giá vàng thế giới quy đổi tăng gần 800.000 đồng/lượng, nhưng doanh nghiệp trong nước chưa điều chỉnh giá.
Diễn biến này có thể phản ánh tâm lý quan sát sau chuỗi biến động mạnh. Mặt bằng giá trong nước đã cao hơn thế giới gần 19 triệu đồng/lượng, nên các thương hiệu không nhất thiết tăng giá ngay khi vàng quốc tế phục hồi trong một phiên.
Việc giữ nguyên giá cũng cho thấy lực mua trong nước chưa tạo áp lực đủ mạnh để đẩy vàng SJC vượt 148,5 triệu đồng/lượng.
Các yếu tố có thể chi phối giá vàng trong những phiên tới
Chính sách lãi suất của Fed
Fed vẫn đánh giá lạm phát cao hơn mục tiêu dài hạn 2%, dù các tín hiệu mới nhất cho thấy áp lực giá đang dịu lại. Biên bản và báo cáo chính sách cho thấy các nhà hoạch định vẫn sẵn sàng hành động nếu lạm phát kéo dài.
Báo cáo Beige Book mới nhất cho thấy hoạt động kinh tế Mỹ tăng, thị trường lao động cải thiện và áp lực giá dịu nhẹ tại nhiều khu vực. Tuy nhiên, chi phí năng lượng, vận tải và nguyên liệu vẫn là những rủi ro đáng chú ý.
Diễn biến đồng USD
Nếu USD tiếp tục suy yếu sau dữ liệu lạm phát, vàng có thể được hỗ trợ kiểm định vùng 4.080 - 4.100 USD/ounce.
Ngược lại, nếu dòng tiền trú ẩn quay lại USD hoặc kinh tế Mỹ tiếp tục cho thấy sức mạnh, vàng có thể gặp khó khi tiến gần vùng kháng cự.
Giá dầu và căng thẳng địa chính trị
Giá dầu cao có thể hỗ trợ vàng thông qua nhu cầu phòng thủ, nhưng cũng làm tăng nguy cơ Fed duy trì lãi suất cao.
Thị trường vì vậy có thể phản ứng thất thường với cùng một thông tin địa chính trị, tùy việc nhà đầu tư ưu tiên yếu tố trú ẩn hay rủi ro lạm phát.
Dự báo giá vàng trong nước ngày 16/7/2026
Trong ngày 16/7, vàng miếng SJC nhiều khả năng dao động trong vùng 145 - 149 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới duy trì trên 4.060 USD/ounce và tiến tới vùng 4.080 - 4.100 USD/ounce, giá bán SJC có thể kiểm định lại mốc 149 - 149,5 triệu đồng/lượng.
Tuy nhiên, khả năng tăng mạnh ngay chưa rõ ràng. Chênh lệch trong nước - thế giới vẫn gần 19 triệu đồng/lượng, trong khi nhu cầu mua ở vùng giá cao có thể thận trọng.
Nếu vàng thế giới quay xuống dưới 4.040 USD/ounce, vàng SJC có thể bị điều chỉnh về vùng 144,5 - 148 triệu đồng/lượng. Chiều mua vào có khả năng giảm nhanh hơn chiều bán ra tại những doanh nghiệp đang duy trì biên độ rộng.
Vàng nhẫn có thể dao động trong vùng 143 - 148 triệu đồng/lượng tùy thương hiệu. Mức chênh giữa các doanh nghiệp vẫn đáng kể, nên người mua cần so sánh bảng giá và chính sách thu mua lại.
Dự báo giá vàng thế giới ngày 16/7/2026
Kịch bản tích cực
Nếu vàng giữ được vùng 4.050 - 4.060 USD/ounce, giá có thể kiểm định 4.080 USD/ounce và vùng tâm lý 4.100 USD/ounce.
Nếu vượt rõ ràng 4.100 USD/ounce, mục tiêu tiếp theo có thể là 4.120 - 4.150 USD/ounce.
Kịch bản giằng co
Nếu dữ liệu kinh tế mới không tạo bất ngờ, vàng có thể dao động trong khoảng 4.040 - 4.090 USD/ounce.
Đây là kịch bản tương đối phù hợp khi dữ liệu lạm phát hạ nhiệt nhưng rủi ro giá dầu và chính sách Fed chưa biến mất.
Kịch bản giảm
Nếu vàng mất vùng 4.040 USD/ounce, giá có thể quay lại kiểm định 4.000 - 4.020 USD/ounce.
Việc thủng mốc 4.000 USD/ounce có thể đưa vàng trở lại vùng 3.950 - 3.980 USD/ounce. Các vùng dự báo này mang tính tham khảo kỹ thuật, không phải mức giá chắc chắn.
Người mua vàng cần lưu ý gì?
Giá vàng trong nước đứng yên trong khi thế giới phục hồi không có nghĩa thị trường đã ổn định hoàn toàn. Chênh lệch giữa giá bán SJC và vàng thế giới quy đổi vẫn ở mức gần 18,83 triệu đồng/lượng.
Người mua tích trữ dài hạn nên chia nhỏ số tiền, tránh giải ngân toàn bộ sau một phiên vàng thế giới tăng.
Nhà đầu tư ngắn hạn cần quan tâm đến chênh lệch mua - bán. Mức chênh từ 3 đến 5 triệu đồng/lượng khiến việc lướt sóng tiềm ẩn rủi ro lớn.
Người mua vàng nhẫn nên so sánh kỹ giữa các thương hiệu. Dù giá bán thấp hơn vàng miếng, mức chênh mua - bán có thể lên tới 4 triệu đồng/lượng.
Với vàng trang sức, cần tính cả tiền công, hao hụt và chính sách thu mua. Các sản phẩm này thường không phù hợp với mục tiêu đầu tư ngắn hạn.
Trong ngày 16/7, hai mốc quan trọng cần theo dõi là 4.060 USD/ounce đối với vàng thế giới và 148,5 triệu đồng/lượng đối với vàng miếng SJC. Nếu vàng quốc tế giữ vững vùng 4.060 USD, thị trường trong nước có thể duy trì ổn định hoặc tăng nhẹ; nếu mất vùng này, áp lực điều chỉnh có thể quay trở lại.