Cần hướng đi mới trong phát triển gỗ rừng trồng - Bài cuối: Cần có giải pháp căn cơ

Là tỉnh có diện tích gỗ rừng trồng lớn so với các địa phương trong cả nước, thế nhưng hiện nay, việc chế biến sản phẩm từ gỗ trong toàn tỉnh vẫn còn manh mún, chưa hình thành được các khu, cụm công nghiệp công nghệ cao. Theo kết quả công bố hiện trạng rừng tỉnh Yên Bái năm 2021, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp toàn tỉnh có 523.073 ha, trong đó diện tích rừng trồng là 219.737 ha, chiếm 42% diện tích đất lâm nghiệp.
Đồng chí Nguyễn Thái Bình - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh cho biết: "Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành các vùng rừng trồng chuyên canh, tập trung, cung cấp nguyên liệu phục vụ cho chế biến, trong đó phải kể đến vùng nguyên liệu gỗ với quy mô trên 90 nghìn ha, chủ yếu là keo, mỡ, bồ đề, bạch đàn... tập trung ở 4 huyện là Yên Bình, Lục Yên, Trấn Yên, Văn Chấn. Sản phẩm khai thác chủ yếu cung cấp cho thị trường dăm gỗ, ván bóc, nguyên liệu giấy… với sản lượng gỗ khai thác bình quân hàng năm từ 400 - 500 nghìn m3”. 
Cùng với vùng rừng trồng chuyên canh, Yên Bái đã hình thành được vùng trồng quế với quy mô trên 80 nghìn ha, tập trung chủ yếu tại các huyện: Văn Yên, Trấn Yên và Văn Chấn; sản lượng khai thác bình quân về một số sản phẩm, trong đó: vỏ quế khô đạt trên 18 nghìn tấn; tận thu cành, lá trên 85 nghìn tấn để chế biến tinh dầu với sản lượng tinh dầu bình quân 600 tấn/năm; gỗ quế tận thu sau khai thác vỏ khoảng 200 nghìn m3.
Đây là 2 vùng cung cấp nguyên liệu gỗ chủ yếu phục vụ cho chế biến tại địa phương. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, mặc dù sản lượng khai thác gỗ hàng năm tương đối lớn, khoảng 700 nghìn m3, nhưng chủ yếu là loại gỗ nhỏ, khai thác trước 10 năm tuổi, giá trị thu được không cao, người dân đã chú trọng hơn đến giống cây trồng nhưng do tâm lý tham rẻ, thiếu hiểu biết… nên một bộ phận người trồng rừng vẫn mua giống cây lâm nghiệp trôi nổi, không rõ nguồn gốc, dẫn đến chất lượng rừng không bảo đảm, năng suất, sản lượng, phẩm chất gỗ thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường tiêu thụ hiện nay. 
Theo số liệu thống kê mới nhất của ngành nông nghiệp tỉnh, hiện toàn tỉnh có khoảng 482 cơ sở chế biến, kinh doanh gỗ rừng trồng, trong đó hộ kinh doanh cá thể chiếm tới 85,5% với 412 cơ sở, sản phẩm chủ yếu là ván bóc, gỗ dăm với công suất thấp, bình quân khoảng 300 - 400 m3/tháng. 
Qua khảo sát thực tế, một điều dễ nhận thấy là hầu hết các cơ sở chế biến gỗ đều là những cơ sở sản xuất nhỏ, sử dụng công nghệ chế biến đơn giản, chủ yếu là các máy xẻ, máy bóc trong sản xuất, chế biến gỗ. Trong những năm qua, nắm bắt được tiềm năng về gỗ rừng trồng, không ít doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư máy ép ván, ghép thanh… nhưng do nguồn vốn ít nên việc đầu tư cũng mới dừng lại ở những dây chuyền sản xuất chất lượng thấp. Công nghệ chế biến chưa hoàn thiện nên sản phẩm làm ra chủ yếu ở dạng làm nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất khác, dẫn tới hiệu quả kinh tế không cao. 
Hơn nữa, một khó khăn lớn nhất hiện nay của ngành nghề chế biến gỗ là phụ thuộc rất lớn vào sự điều tiết của thị trường; do ngành nghề chế biến gỗ nhỏ lẻ, mối liên kết thấp, không đủ mạnh, không có sản phẩm chế biến sâu nên chịu nhiều sức ép từ các thị trường tiêu thụ. 
Đồng chí Nguyễn Thái Bình - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh cho biết: "Để khắc phục vấn đề này, về phía ngành nông nghiệp đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm triển khai xây dựng Đề án xây dựng khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Yên Bái, tham mưu cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo UBND tỉnh, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quy định với mục tiêu là đến năm 2030, đưa ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ trở thành ngành kinh tế động lực trong sản xuất và xuất khẩu của tỉnh Yên Bái, xây dựng Yên Bái thành trung tâm sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ lớn ở khu vực vùng trung du và miền núi phía Bắc”.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025 xác định: "Đến năm 2025 có trên 40.000 ha rừng cây gỗ lớn; khoảng 100.000 ha rừng trồng trở lên được cấp chứng chỉ FSC...”. 
Làm gì để đạt được mục tiêu của Nghị quyết, đặc biệt là làm như thế nào để người trồng rừng có thể sống và làm giàu từ các loại sản phẩm gỗ rừng trồng vẫn đang là điều khiến lãnh đạo không ít địa phương trăn trở. 
Theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh: Sau 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội, diện tích rừng trên địa bàn tỉnh cơ bản đã được quản lý bảo vệ tốt, tiếp tục duy trì tỷ lệ che phủ rừng 63%, diện tích rừng cây gỗ lớn toàn tỉnh đạt trên 24 nghìn ha (đạt 60,7% chỉ tiêu Nghị quyết); diện tích rừng trồng được cấp chứng chỉ rừng FSC, VFCS/PEFC đến hết tháng 5/2022 dự kiến đạt 11.106 ha (đạt 11,1% chỉ tiêu Nghị quyết). 
Tuy nhiên đến nay, việc triển khai cấp chứng chỉ rừng trên địa bàn tỉnh hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn, tiến độ thực hiện còn chậm so với kế hoạch đề ra. Nguyên nhân chủ yếu do một số doanh nghiệp đã đăng ký kế hoạch thực hiện nhưng thiếu nhân lực triển khai tại các địa phương; nguồn kinh phí không đảm bảo do giảm đơn hàng, giảm doanh thu, bị đứt gãy chuỗi cung ứng, mất cân đối dòng tiền... Hơn nữa, do ảnh hưởng của dịch Covid -19, các doanh nghiệp tham gia thực hiện cấp chứng chỉ rừng gặp nhiều khó khăn trong việc ký kết hợp đồng thuê khoán các tổ chức tư vấn nước ngoài sang Việt Nam thẩm định, đánh giá hồ sơ. 
Để giải quyết những khó khăn trên, hơn bao giờ hết, ngành nông nghiệp tỉnh cần tiếp tục đề ra nhiều giải pháp cụ thể, sát với thực tế, mà trước mắt là chỉ đạo cấp huyện, đơn vị chuyên môn phối hợp với các doanh nghiệp triển khai thực hiện cấp chứng chỉ rừng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng tới các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn. 
Hầu hết các cơ sở chế biến gỗ ở các địa phương hiện nay là những cơ sở sản xuất nhỏ, sử dụng công nghệ chế biến đơn giản. 
Theo đó, đối với các doanh nghiệp, cần tăng cường nhân lực cho các hoạt động cấp chứng chỉ rừng, xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện các bước công việc của quá trình cấp chứng chỉ rừng; rà soát các thị trường tiêu thụ sản phẩm và loại sản phẩm, nhất là tham mưu mở rộng thị trường, có thể cấp giấy chứng nhận sang diện tích các loài cây trồng lâm nghiệp khác như quế. 
Về phía người trồng rừng, cần đánh giá đúng nhu cầu của thị trường, lựa chọn loài cây trồng phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng cũng như quy hoạch, định hướng phát triển tại địa phương; lựa chọn cây giống có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng để trồng, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng. Xem xét đến việc chuyển đổi từ kinh doanh rừng gỗ nhỏ với chu kỳ dưới 10 năm sang kinh doanh rừng gỗ lớn để nâng cao giá trị rừng. Tham gia liên kết với các doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn xây dựng các chuỗi giá trị để đảm bảo giá cả và đầu ra ổn định cho sản phẩm gỗ rừng trồng. 
Cùng với đó, các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác cần đẩy mạnh việc xây dựng các chuỗi giá trị sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm gỗ có chứng chỉ rừng (FSC,VFCS/PEFC…) với các hộ trồng rừng. Về phía tỉnh, tiếp tục có các chính sách để thu hút các doanh nghiệp lớn vào đầu tư phát triển công nghệ hiện đại, xây dựng các nhà máy chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ có quy mô lớn, chế biến sâu. Đặc biệt, để đảm bảo vùng nguyên liệu chất lượng, ổn định, UBND tỉnh chỉ đạo ngành nông nghiệp phối hợp chặt chẽ với các địa phương, các doanh nghiệp chế biến gỗ lớn trên địa bàn đẩy mạnh việc xây dựng, phát triển rừng trồng theo hướng quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng FSC, PEFC/VFCS để nâng cao giá trị gỗ khi xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. 
Đồng thời triển khai và thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân tại các xã đặc biệt khó khăn thuộc khu vực II, III; chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất lâm nghiệp theo Nghị quyết số 69; chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng... Có như vậy, người trồng rừng và nhà đầu tư mới hoàn toàn yên tâm, tin tưởng gắn bó với rừng để nâng cao thu nhập và làm giàu chính đáng trên chính quê hương.
Văn Tuấn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Bài 1: Tổ chức lại các động lực tăng trưởng

Kiến tạo không gian phát triển Bài 1: Tổ chức lại các động lực tăng trưởng

Sau khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh Lào Cai có không gian phát triển rộng hơn nhưng cũng phải giải một bài toán lớn hơn: Tổ chức lại không gian kinh tế, kết nối các vùng động lực và tập trung nguồn lực vào những công trình có khả năng tạo sức lan tỏa, phấn đấu đạt tăng trưởng hai con số. Từ giao thông, công nghiệp, logistics đến quỹ đất sạch, cách lựa chọn và tổ chức nguồn lực đang trở thành một phần quan trọng trong đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành của tỉnh.

Lên đỉnh Sán Trá, nghe “đất kể chuyện người”

Lên đỉnh Sán Trá, nghe “đất kể chuyện người”

Trên đỉnh Sán Trá, xã Hạnh Phúc, cuộc sống mới nơi bản tái định cư đã thực sự bắt đầu. Từ cuộc di dời trong hoảng hốt, 18 hộ dân nơi đây đang cùng nhau xây dựng tương lai, mang theo cả tình làng nghĩa xóm và những ước vọng chưa bao giờ cũ.

Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai sau một năm thi công

Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai sau một năm thi công

Sau một năm kể từ ngày khởi công (1/10/2025), Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai, đoạn Yên Bái - Lào Cai đang bước vào giai đoạn thi công nước rút. Nhiều hạng mục quan trọng đã cơ bản hoàn thành, hình hài tuyến cao tốc 4 làn xe dài hơn 121 km đang dần hiện rõ trên công trường.

Tiết học biên cương nơi sông Hồng chảy vào đất Việt

Tiết học biên cương nơi sông Hồng chảy vào đất Việt

Sáng 1/10, tại cột cờ Lũng Pô, xã A Mú Sung, tỉnh Lào Cai, học sinh Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS A Mú Sung tham gia “Tiết học biên cương”, tìm hiểu đường biên, mốc quốc giới, quan sát bộ đội thực hành tuần tra và tham gia lễ chào cờ. Qua trải nghiệm thực tế, các em hiểu thêm quê hương, công việc của người lính và trách nhiệm gìn giữ biên giới quốc gia.

Bài cuối: Dựa vào sức dân “giữ sạch” địa bàn

QUYẾT TÂM XÂY DỰNG “THẾ TRẬN” KHÔNG MA TUÝ Bài cuối: Dựa vào sức dân “giữ sạch” địa bàn

Giữ sạch địa bàn không chỉ bằng những đợt truy quét, xử lý mà cần sức mạnh từ mỗi gia đình, khu dân cư. Khi người dân chủ động phòng ngừa, phát hiện, cung cấp thông tin và cùng hỗ trợ người sau cai tái hòa nhập, một “thế trận lòng dân” đang được hình thành để ngăn ma túy quay trở lại.

Bài 1: Cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở

Quyết tâm xây dựng “thế trận” không ma tuý Bài 1: Cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở

Lào Cai đã triển khai cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng 100% xã, phường không ma túy trong năm 2026. Nghị quyết 51 - NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy được cụ thể hóa bằng việc huy động cả hệ thống chính trị, dồn lực giải quyết những điểm khó và gắn kết quả với trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy.

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y

Ở những bản làng người Bố Y hôm nay, hạnh phúc là cuộc sống đủ đầy, là tiếng nói, trang phục, phong tục và sự gắn kết cộng đồng được gìn giữ, trao truyền qua các thế hệ. Giữa nhịp sống hiện đại, người Bố Y ở Mường Khương đang từng bước dựng xây cuộc sống ấm no, đồng thời lưu giữ và phát huy niềm tự hào nguồn cội. Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh Lào Cai trân trọng giới thiệu loạt bài (2 kỳ) “Bản làng hạnh phúc của người Bố Y”.

Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y: Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Ở Thính Chéng, xã Mường Khương khi nhắc đến văn hóa của dân tộc Bố Y, người ta thường tìm đến bà Lồ Lài Sửu. Ngoài 60 tuổi, bà vẫn miệt mài sưu tầm, ghi nhớ những làn điệu dân ca, phong tục, nghi lễ của dân tộc mình. Mỗi lần nói về người Bố Y, về giá trị văn hóa đã theo mình suốt cuộc đời, bà Sửu vẫn rưng rưng xúc động. 

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Xác định tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ là nhiệm vụ quan trọng, thể hiện trách nhiệm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tỉnh Lào Cai đã huy động cả hệ thống chính trị cùng chung tay tìm kiếm, đưa các chiến sĩ cách mạng còn nằm lại nơi chiến trường trở về với gia đình, quê hương.

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Lào Cai là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư phân bố rải rác, khiến việc đầu tư, vận hành các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong khi ngân sách Nhà nước chưa thể đáp ứng nhu cầu đầu tư, sửa chữa và vận hành, việc quy hoạch lại hạ tầng cấp nước, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia đang rất cấp thiết.

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Xã Tằng Loỏng là địa bàn đông dân cư, tập trung Khu công nghiệp luyện kim, hóa chất trọng điểm của quốc gia và tỉnh, với nhiều doanh nghiệp, nhà máy đang hoạt động. Thế nhưng, giữa nhịp phát triển công nghiệp sôi động, người dân và công nhân lao động vẫn phải mua bán trong một khu chợ tạm hình thành từ nhiều năm trước. Sự thiếu hụt hạ tầng thương mại đang trở thành nghịch lý cần được giải quyết.

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

fb yt zl tw