Mùa hoa trẩu trên Mã Yên Sơn

Tháng Ba, nắng ấm lên, những đàn ong qua kỳ ngủ đông, thức dậy tung cánh đi tìm hoa, chắt chiu mật ngọt dâng đời, trên những cánh rừng trẩu bạt ngàn ở đèo Mã Yên Sơn đang xòe tán lá xanh ken dày, bắt đầu bung trắng những chùm hoa mời gọi. Con đèo như chiếc yên ngựa, vắt qua dãy núi Con Voi hiểm trở, xưa in dấu bước chân những đoàn dân công trùng điệp thồ gạo, tải đạn góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ lừng lẫy, nay đang xanh rừng và sáng bừng ánh điện xây dựng nông thôn mới ở vùng cửa ngõ phía nam tỉnh Lào Cai.

Những cánh rừng trẩu trên đèo Mã Yên Sơn (Bảo Yên, Lào Cai).

Từ đường cao tốc Lào Cai - Nội Bài, xe chúng tôi rẽ xuống nút giao IC16 Bảo Hà, bắt vào quốc lộ 279, vừa mở rộng và láng nhựa, con đường mới sáng lên trong nắng sớm, xuyên qua những cánh rừng trẩu, mỡ, bồ đề xanh mướt làng Lúc, Tắp, Bông, Múi, Mạ của người dân tộc Tày, người dân tộc Dao, với những mái nhà sàn thân thuộc chen lẫn những ngôi nhà xây cao tầng, hiện đại như phố thị, kết quả của bàn tay và khối óc, chung sức đồng lòng xây dựng nông thôn mới ở vùng đèo núi heo hút, hiểm trở nhất huyện Bảo Yên.

Đèo "yên ngựa" huyền thoại

Con đèo Yên Sơn độc đạo hệt như chiếc yên ngựa nối vùng đất Bảo Hà với Yên Sơn, Phố Ràng mà đỉnh của chiếc yên ngựa bây giờ là bản Múi 3, gồm 58 nóc nhà đồng bào H’Mông, Dao đã bao năm kiên cường bám trụ nơi "nắng lửa, mưa chan" ở độ cao hơn 600 m so với mực nước biển. Buổi trưa cuối tháng Ba, nắng tưng bừng chiếu rọi mà đứng ở đỉnh đèo Mã Yên Sơn, mây cuồn cuộn bay như sóng, táp vào mặt lạnh buốt, gió giật từng cơn như muốn bứt tung tất cả. Bí thư Chi bộ bản Múi 3 Ðặng Văn Thắng, người dân tộc Dao chia sẻ: Ở đây, đất đai trơ cằn, dốc cao khe sâu, khí hậu khắc nghiệt, nên những năm 80 của thế kỷ trước mới có vài hộ người H’Mông ở bên huyện Bắc Hà đến khai phá, định cư, rồi đông dần lên. Năm 2016 mới lập tên bản mới Múi 3, ở ngay chính giữa đỉnh đèo bốn mùa mây phủ này.

Nhớ lúc ở chân đèo phía Yên Sơn, già làng Hoàng Văn Ðại, 97 tuổi, kể rằng vùng này có câu "cọp Bảo Hà, ma Trái Hút", ấy là nói về những năm thực dân Pháp mở đường sắt Việt-Ðiền, nối từ Hải Phòng - Hà Nội đến Côn Minh (Trung Quốc), dài 854 km, biết bao phu phen đã bỏ mạng ở vùng Bảo Hà, Trái Hút vì "lam sơn chướng khí" nghìn trùng, vì sốt rét rừng, rồi gấu tha, cọp bắt. Ông lý giải rằng, quanh đèo Mã Yên Sơn là nơi sinh sống của loài hổ, bởi rừng rậm, suối sâu hoang vu, ít dấu chân người. Cũng chính ở hai đầu con đèo hình yên ngựa Mã Yên Sơn, ngày trước thực dân Pháp đã xây đồn bốt kiên cố ở bản Mạ, ở Bảo Hà liên thông với hệ thống đồn Phố Ràng, Phố Lu để khống chế cả một vùng biên giới Tây Bắc rộng lớn. Ðể khai thông biên giới, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, năm 1950, bộ đội ta mở chiến dịch Biên giới thu đông và Lê Hồng Phong, với những trận công đồn Phố Ràng, Phố Lu, Yên Sơn thắng lợi, đập tan hệ thống đồn bốt của giặc Pháp, mở toang cánh cửa biên giới, làm tiền đề cho chiến dịch Ðiện Biên Phủ toàn thắng.

Già làng Ðại vẫn nhớ như in, ngày ấy ông cùng mấy chục trai làng, đủ cả người Tày, người Dao, người Thái ở Yên Sơn, Bảo Hà đang sức trẻ đã xung phong làm dân công hỏa tuyến, ngày đêm thồ gạo, tải đạn, phát rừng mở đường, bảo đảm hậu cần cho bộ đội ta chiến đấu và chiến thắng Ðiện Biên Phủ lừng lẫy năm châu. "Chúng tôi thồ bằng xe đạp và gánh gạo, thực phẩm sấy khô qua đèo Mã Yên Sơn dốc đứng, rậm rịt gai rừng, tự mở lối mà đi; vượt qua cổng trời Khau Co sang đất Lai Châu, rồi từ đó qua Sơn La đến Ðiện Biên. Mỗi chuyến ròng rã hàng tháng trời; đói thì ăn rau tàu bay, củ nâu, măng rừng tuyệt không hao hụt một chén gạo, lạng thịt. Mấy chục năm rồi mà như mới hôm qua thôi..."- già làng Ðại hồi tưởng. Ðứng trên đỉnh đèo, giữa trưa, gió ràn rạt thổi như muốn ném những cụm mây trắng lơ lửng khắp trên đèo Yên Sơn, lật tung những cánh rừng trẩu xanh ngút ngát tầm mắt, phía dưới là ruộng đồng với những nếp nhà sàn người Tày, những hàng cọ xòe ô xanh đón nắng, cuộc sống nơi đây thật bình yên, no ấm.

Chắt chiu mật ngọt cho đời

Bản làng người Tày ở Mã Yên Sơn. 

Xe mới chớm chân đèo phía Bảo Hà, ở đầu bản Lúc 1, thương binh hạng 2/4 Phạm Thanh Xuân dáng người nhỏ nhắn, tay áo cụt vắt gọn sang bên, nhanh nhẹn đưa chúng tôi tham quan Công ty TNHH phát triển ong miền núi Thanh Xuân, do ông làm giám đốc và vợ, con trai, con gái, con dâu đảm nhiệm các khâu quản lý và kỹ thuật. Công ty gia đình của ông Xuân, thành lập năm 1995, mỗi năm trung bình bán ra thị trường từ 20-30 tấn mật ong chất lượng cao và các sản phẩm sữa ong chúa, phấn hoa...; doanh thu hàng chục tỷ đồng, giải quyết việc làm và thu nhập ổn định cho nhiều lao động địa phương. Câu chuyện khởi nghiệp từ con ong, từ ươm giống cây và trồng rừng của ông Xuân cũng là quá trình vượt lên, học tập và tỏa sáng lời dạy của Bác Hồ "thương binh tàn nhưng không phế", tô đẹp thêm phẩm chất của người lính Cụ Hồ.

Nhập ngũ làm lính thông tin, trong một trận đánh ác liệt tại thị xã Kon Tum, người lính Phạm Thanh Xuân bị sức ép và mảnh pháo giặc cướp đi thị lực của đôi mắt, tay trái bị cụt đến khuỷu, nhiều mảnh đạn pháo găm khắp cơ thể. Sau thời gian điều dưỡng, người thương binh trở về làng, gia cảnh lúc ấy chỉ có căn nhà tranh cũ nát, vợ yếu, con nhỏ. Từng đối mặt với bao gian khổ ác liệt, bao đồng chí, đồng đội đã hy sinh để đất nước thanh bình, chẳng lẽ lại khoanh tay cam chịu nghèo đói? Nhìn những cánh rừng bạt ngàn, đủ các loài hoa lạ, nghĩ đến những chú ong cần mẫn làm mật ngọt cho đời, ông Xuân cơm nắm trong túi, bi-đông nước đeo bên mình, lặn lội khắp các thôn, bản vùng rừng núi Bảo Yên, Văn Bàn mua gom những đàn ong lẻ của người dân bắt được để khởi nghiệp. Từ những đàn ong bản địa ban đầu tạo vốn và kiến thức, kinh nghiệm ấy, ông Xuân mày mò một mình vào miền nam mua 80 đàn ong ngoại, đưa về vùng núi Bảo Hà. Rồi lại tự mình xuống Hà Nội tìm đến Công ty Ong Trung ương tập huấn kỹ thuật, xin tài liệu, cộng với kiến thức đọc từ sách báo ông đã nhân giống ong ngoại thành công lên hơn 600 đàn như hiện nay. Con ong ngoại thân hình to khỏe hơn nên bay xa, có khả năng hút sâu vào trong nhụy hoa, mang được nhiều phấn hoa, vì thế cho năng suất mật cao gấp bốn đến năm lần ong bản địa, chất lượng mật tốt hơn. Ngoài thực hiện quy trình chăm sóc ong ngặt nghèo, ông đầu tư máy quay ly tâm, nâng cao chất lượng mật ong bảo đảm 100% không pha trộn. Cầm chai mật ong trên tay, ông bảo "Mình đăng ký thương hiệu bản quyền với hình thức in ảnh mình lên logo sản phẩm, để hằng ngày nhắc nhở bản thân giữ chữ tín với đồng đội, với người tiêu dùng". Một cách làm rất lính, độc đáo và ấn tượng. Mật ong rừng của người lính Phạm Thanh Xuân được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trao giải thưởng chất lượng vàng, là sản phẩm OCOP ba sao của tỉnh Lào Cai, được người tiêu dùng tín nhiệm.

Ði dưới tán rừng trẩu xanh dày mới thấy sức sống mãnh liệt của loài cây này trên vùng đất khắc nghiệt Mã Yên Sơn. Hạt trưởng Kiểm lâm huyện Bảo Yên Phạm Hồng Thái ví cây trẩu giống như cây tre, thương người Yên Sơn trên đất dốc khô cằn, nắng mưa quay quắt. Cây trẩu dễ sống, lớn nhanh, chịu được hạn hán, nhất là chịu được rét lạnh ở vùng cao. Khả năng quang hợp của trẩu rất cao nên không cần phân bón. Trong 3 năm đầu, mỗi năm chỉ cần 2 lần phát cỏ là cây phát triển tốt, rất nhanh thành rừng. Sau 5 năm, có thể thu hoạch quả lấy hạt, 7 năm là thu được gỗ, tạo thu nhập ổn định cho người trồng rừng. Cây trẩu đa tác dụng, gỗ làm nguyên liệu dùng trong công nghiệp và sản xuất nấm; hạt dùng trong công nghiệp sơn, chất dẻo, da nhân tạo và thuốc chữa bệnh. "Trẩu "thương người" nên rất "mắn", tháng Ba, tháng Tư, ra hoa trước khi lá non xuất hiện, rồi tháng Chín lại có một vụ hoa nữa. Quả của lứa hoa trước chín vào khoảng tháng 10, vì thế có thể nhặt quả bán quanh năm", anh Thái tâm sự. Toàn huyện Bảo Yên hiện có gần 4.000 ha trẩu, vừa phủ xanh giữ sinh thủy vừa cho khai thác hạt, gỗ giúp người dân xóa nghèo, vươn lên làm giàu bền vững.

Nói đến cây trẩu, cả vùng Mã Yên Sơn đều biết tiếng vợ chồng anh Nguyễn Văn Hòa, ở bản Tắp. Chúng tôi đến nhà anh Hòa khi đã cuối chiều, vợ chồng anh vẫn đang bận rộn kiểm đếm, xếp cây trẩu giống cho người dân trồng vụ xuân này. Ngoài chọn hạt tốt để cung ứng giống, vợ chồng anh Hòa thu mua trung bình mỗi năm chừng 20 tấn quả, với giá 15 nghìn đồng/kg, làm "bà đỡ" cho người dân trong vùng tích cực trồng rừng, giữ mầu xanh cho quê hương. Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Yên Sơn Hoàng Văn Cương đưa chúng tôi đến nhà ông Phùng Thế Tài, ở bản Yên Sơn. Ngay ở chỗ đồn Yên Sơn, của Pháp bị hạ năm xưa, giờ là xưởng ván bóc công nghiệp. Mỗi năm ông Tài mua của nông dân 3.000 m3 gỗ trẩu và các loại, sơ chế nguyên liệu xuất khẩu, bảo đảm đầu ra ổn định cho hàng trăm hộ trồng rừng ở hai đầu con đèo hình yên ngựa. Xưởng bóc ván của ông Tài giải quyết việc làm cho 40 lao động, với mức lương 10-12 triệu đồng/tháng.

Bí thư Ðảng ủy xã Yên Sơn, Long Trọng Nhiên khoe rằng, tỷ lệ che phủ rừng tại xã đạt 67%, cao nhất toàn huyện Bảo Yên, trong đó có 130 ha cây trẩu. Xã hoàn thành xây dựng nông thôn mới từ năm 2015, đang tiếp tục duy trì và nâng cao hơn, Bí thư Ðảng ủy xã Bảo Hà, Hoàng Quốc Hùng khẳng định quyết tâm của địa phương về đích nông thôn mới trong năm nay. Mã Yên Sơn, con đèo huyền thoại hình chiếc yên ngựa với những rừng trẩu xanh bạt ngàn, đang tỏa hương, dâng mật ngọt cho đời

Báo Nhân Dân

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Khi "vùng lõm" từng bước được phủ sóng, thông tin đến gần hơn với người dân, cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ, thị trường tiêu thụ cũng rộng mở hơn, tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Phía sau những khối nhà mang dáng dấp kiến trúc vùng cao là câu chuyện nhiều tháng ngày khảo sát, lắng nghe và điều chỉnh của những kiến trúc sư, với mong muốn dựng nên không chỉ một ngôi trường, mà còn là một không gian gìn giữ văn hóa cho học sinh nơi biên cương Tổ quốc.

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Từ khi hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, điều thay đổi quan trọng không chỉ là mở rộng diện tích hay quy mô dân số mà còn tạo ra không gian phát triển lớn hơn cho tỉnh Lào Cai mới. Trong không gian đó, đầu tư hạ tầng giữ vai trò kết nối các vùng động lực, thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, khai thác khoáng sản và kinh tế cửa khẩu, hướng tới mục tiêu xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Sức sống mới nơi thượng nguồn Lũng Pô Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Trên hành trình ngược suối Lũng Pô với chiều dài hơn 30 km từ thôn Lũng Pô (xã A Mú Sung) đến thôn Hồng Ngài (xã Y Tý), cùng với cảm nhận về sự đổi thay ở những vùng đất bên dòng suối biên giới, điều làm chúng tôi tự hào là khung cảnh bình yên hiện hữu khắp dải biên cương xa xôi. Ở nơi ấy, dù đường biên giới dài và địa hình hiểm trở, những chiến sĩ biên phòng vẫn luôn chắc tay súng cùng đồng bào các dân tộc giữ bình yên biên giới.

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Hạ tầng giao thông có vai trò quan trọng mở ra không gian phát triển, kết nối các vùng kinh tế, tạo động lực thu hút đầu tư và nâng cao đời sống người dân. Thế nhưng, do vướng mắc mặt bằng khiến tiến độ nhiều công trình bị ảnh hưởng, nguồn vốn đầu tư chưa được phát huy

Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đời sống đồng bào các dân tộc nơi thượng nguồn suối Lũng Pô đã có nhiều đổi thay. Hiện nay, nhiều chi bộ khu vực biên giới giữ vai trò nòng cốt trong công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trẻ, góp phần “đánh thức” tiềm năng phát triển nông - lâm nghiệp, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, giúp người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Những cột điện, đường dây điện quốc gia hôm nay đã vươn tới các thôn bản vùng cao của xã Lâm Giang. Nguồn điện ổn định đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho người dân. Tuy nhiên, phía sau những công trình đã phát huy hiệu quả nhiều năm vẫn còn một tồn tại kéo dài: hàng trăm hộ dân đã hiến đất, chặt bỏ cây trồng để phục vụ dự án nhưng đến nay vẫn chưa được chi trả tiền bồi thường theo quy định.

Từ hào khí Phố Ràng đến khát vọng phát triển

Từ hào khí Phố Ràng đến khát vọng phát triển

77 năm đã qua nhưng Chiến thắng Phố Ràng (26/6/1949) vẫn là niềm tự hào của Nhân dân các dân tộc trên quê hương Bảo Yên. Trên mảnh đất lịch sử ấy, truyền thống cách mạng năm xưa đang tiếp tục được các thế hệ hôm nay gìn giữ, phát huy bằng khát vọng dựng xây quê hương ngày càng giàu đẹp.

Yên Bình tăng cường kiểm soát môi trường tại các cơ sở công nghiệp và bến bãi

Yên Bình tăng cường kiểm soát môi trường tại các cơ sở công nghiệp và bến bãi

Những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển công nghiệp và sản xuất vật liệu xây dựng, xã Yên Bình trở thành địa bàn tập trung nhiều cơ sở chế biến đá, bãi tập kết hàng hóa và bến thủy nội địa. Sự phát triển này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho lao động địa phương, song cũng kéo theo nhiều áp lực về môi trường gây ảnh hưởng đến đời sống người dân.

fb yt zl tw