Làm mới di sản làng nghề để phát triển du lịch

Thời gian gần đây ai có dịp tới Vĩnh Long không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp vừa cổ kính, phủ màu thời gian của “vương quốc” gạch gốm đỏ soi mình bên dòng kênh Thầy Cai, sông Cổ Chiên. Những năm 1980, cả vùng có gần 3.000 lò gạch trải dài gần 30 km trên địa bàn các huyện Long Hồ và Mang Thít hoạt động quanh năm.

2.jpg
Nghệ nhân làng nghề sơn mài Hạ Thái (Thường Tín, Hà Nội) chế tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Người dân nơi đây có kỹ thuật nung bằng lò gạch với nhiên liệu là trấu. Hàng nghìn mẫu mã với kiểu dáng khác nhau được tạo ra từ bàn tay tài hoa của người thợ thủ công, đặc biệt sản phẩm gạch gốm với mầu đỏ đặc trưng từ đất sét tạo nét riêng không nơi nào có được. Những sản phẩm này đã được xuất khẩu sang thị trường nước ngoài, được người tiêu dùng ưa chuộng.

Tuy nhiên, khoảng năm 2010 trở lại đây, khi đổi mới công nghệ từ lò nung tròn sang lò nung liên hoàn, cải thiện quy trình sản xuất thân thiện với môi trường hơn thì do chi phí sản xuất cao, giá bán sản phẩm đầu ra thấp, các cơ sở lò gạch gặp nhiều khó khăn, quy mô và công suất hoạt động không còn lớn như trước. Chỉ trong vòng 10 năm qua, hơn 1.000 lò gạch đã bị phá dỡ, số còn lại bị hư hỏng, đứng trước nguy cơ bị phá dỡ...

Nhằm bảo tồn và phát triển nghề gạch gốm truyền thống kết hợp phát triển du lịch, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng, tỉnh Vĩnh Long đã phê duyệt Đề án hỗ trợ đặc thù bảo tồn lò gạch, gốm địa phương cho toàn bộ vùng di sản khoảng 3.060 ha thuộc bốn xã Mỹ An, Mỹ Phước, Nhơn Phú, Hòa Tịnh của huyện Mang Thít, đưa “Vương quốc gốm đỏ” trở thành một sản phẩm du lịch là một điểm đến trên bản đồ du lịch khu vực.

Mục tiêu đề án là phát huy các lợi thế riêng của tỉnh Vĩnh Long với vùng Đồng bằng sông Cửu Long như: văn hóa, ẩm thực đặc trưng, giao thương sông nước trong không gian cảnh sắc sinh thái miệt vườn. Làng nghề gạch gốm còn thể hiện tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, là tâm huyết của thế hệ đi sau mong muốn giữ gìn một làng nghề truyền thống trên vùng đất này.

Theo các chuyên gia, một địa phương hướng theo chiến lược khác biệt hóa sản phẩm du lịch thì luôn phải cố gắng để trở thành “độc nhất vô nhị”; phải cung cấp các thuộc tính sản phẩm khiến du khách cảm thấy chỉ ở địa chỉ đó mới có sản phẩm này. Do đó, để có thể thực hiện được chiến lược khác biệt là cả một quá trình lâu dài với sự nỗ lực lớn.

“Di sản đương đại Mang Thít” là một trong những làng nghề, điểm nhấn du lịch khác biệt của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đây chính là quá trình định vị sản phẩm trong nhận thức của du khách, giúp sản phẩm du lịch của một tỉnh trở nên đặc biệt tăng sức cạnh tranh hơn. Chính vì những giá trị đặc thù của du lịch mà trong những năm qua, nhiều tỉnh, thành phố trong khu vực bắt đầu khai thác và đưa vào tour, tuyến du lịch các làng nghề truyền thống.

Nhiều làng nghề đã làm sống lại giá trị của nó và tạo cho du khách ấn tượng khó quên, như ở Đồng Tháp có làng nghề dệt chiếu Định Yên, Bến Tre có làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng, Tiền Giang có làng nghề đóng tủ thờ Tân Trung - Gò Công Đông, Cần Thơ có làng nghề đan lợp bắt cá Thái Long... Sức hấp dẫn của làng nghề là những cảnh quan thôn dã, bình dị gắn với con người yêu nghề, những nghệ nhân với đôi bàn tay khéo léo tạo nên những sản phẩm không nơi nào có được.

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, phát triển các sản phẩm du lịch mang tính cạnh tranh góp phần khẳng định thương hiệu du lịch của vùng trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế về điều kiện tự nhiên và đặc trưng văn hóa. Điều này phù hợp với tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW (ngày 16/1/2017) của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; trong đó thể hiện rõ chủ trương phát triển bền vững trên cơ sở bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Di sản là báu vật được thiên nhiên ban tặng, hoặc là kết tinh của lao động sáng tạo mà ông cha ta đã dày công tạo dựng từ đời này qua đời khác; là nguồn tài nguyên quý báu làm nên thương hiệu, hình ảnh riêng có của mỗi địa phương, vùng miền.

Biết phục hồi, sử dụng và phát huy giá trị những “phế tích” vừa giữ gìn được văn hóa truyền thống, đồng thời tạo sức hút và đòn bẩy phát triển kinh tế du lịch, góp phần tạo sinh kế cho người dân.

Theo Báo Nhân Dân

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Độc đáo nghệ thuật tạo hoa văn cạp váy của người Mường

Độc đáo nghệ thuật tạo hoa văn cạp váy của người Mường

Nghệ thuật tạo hoa văn cạp váy của người Mường tỉnh Hoà Bình (cũ), nay là tỉnh Phú Thọ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây là sự tôn vinh, ghi nhận và là niềm tự hào của người Mường, động lực để đồng bào tiếp tục giữ gìn và phát huy giá trị di sản.

Giấy bản – mạch nối ký ức vùng cao

Giấy bản – mạch nối ký ức vùng cao

Ẩn mình giữa núi rừng vùng cao, những tấm giấy bản mỏng nhẹ nhưng dai bền vẫn lặng lẽ gìn giữ kho tàng tri thức dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số. Giấy bản không chỉ là chất liệu, mà còn là minh chứng sống động cho một nghề thủ công giản dị, âm thầm bền bỉ trước sự bào mòn của thời gian.

Phụ nữ dân tộc Mông với nghề dệt lanh truyền thống

Phụ nữ dân tộc Mông với nghề dệt lanh truyền thống

Giữa lòng Cao nguyên đá hùng vĩ có một câu chuyện về văn hóa bản địa và hành trình vươn lên mạnh mẽ của những người phụ nữ dân tộc Mông. Từ sợi lanh truyền thống, họ đã và đang bền bỉ dệt nên sự bình đẳng, nâng tầm vị thế của mình trong cộng đồng.

[Ảnh] Phụ nữ vùng cao giữ nghề truyền thống

[Ảnh] Phụ nữ vùng cao giữ nghề truyền thống

Những tri thức dân gian làm nghề truyền thống của các dân tộc vùng cao Lào Cai đã có từ ngàn đời nay. Trong nhịp sống hiện đại, những tri thức ấy vẫn được đồng bào gìn giữ và lưu truyền, tạo nên nét đẹp độc đáo của mỗi dân tộc. 

[Ảnh] Đồng bào các dân tộc vùng cao Bát Xát giữ nghề đan lát

[Ảnh] Đồng bào các dân tộc vùng cao Bát Xát giữ nghề đan lát

Huyện Bát Xát có 23 nhóm, ngành dân tộc với bản sắc văn hóa phong phú. Trải qua nhiều thế hệ, các dân tộc trên vùng cao Bát Xát đã sáng tạo và lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống, trong đó có nghề đan lát. Từ đôi bàn tay khéo léo và sự chăm chỉ, cần mẫn, các nghệ nhân ở thôn, bản đã sáng tạo nhiều sản phẩm thủ công đan lát phục vụ đời sống hằng ngày và nhu cầu của cộng đồng.

Giữ nghề nơi bản nhỏ

Giữ nghề nơi bản nhỏ

Sinh ra và lớn lên trong cái nôi văn hóa Tày, bà Nguyễn Thị San, ở bản Nà Khương là một trong số ít người ở xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên còn am hiểu và gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. Bà đã và đang nỗ lực truyền dạy lại cho lớp trẻ, vừa để giữ gìn văn hóa truyền thống, vừa phục vụ phát triển du lịch cộng đồng.

Lão nông Hà Nhì 30 năm giữ nghề đan mâm

Lão nông Hà Nhì 30 năm giữ nghề đan mâm

Từ những thanh gỗ pơ mu cũ kỹ bị vùi trong lớp đất mục tưởng như bỏ đi hoặc chỉ dùng vào việc chẻ ra nhóm bếp, ông Chu Xe Gió, người Hà Nhì, xã Nậm Pung (Bát xát) có thể tách ra thành những chiếc nan mỏng như tấm bìa giấy để đan mâm theo kỹ thuật truyền thống của dân tộc Hà Nhì. Điều đáng nói, ông Chu Xe Gió là truyền nhân duy nhất của xã Nậm Pung có thể đan mâm bằng nan gỗ pơ mu trong khi một số người khác chỉ đan được bằng nan tre quen thuộc.

Sức sống di sản nghề cói Kim Sơn

Sức sống di sản nghề cói Kim Sơn

Sau khi được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, nghề cói Kim Sơn (Ninh Bình) đã có bước phát triển rõ rệt. Người dân hưởng lợi trực tiếp từ việc tăng giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và phát triển du lịch làng nghề.

[Ảnh] Tinh hoa nghề gốm Bát Tràng

Hành trình dọc sông Hồng: [Ảnh] Tinh hoa nghề gốm Bát Tràng

Theo Đại Việt sử ký toàn thư và Dư địa chí của Nguyễn Trãi, làng gốm Bát Tràng được hình thành từ thời nhà Lý, vào khoảng thời gian vua Lý Thái Tổ dời đô từ Thăng Long ra Hoa Lư. Các sản phẩm gốm Bát Tràng đã phát triển, lưu thông rộng rãi trong nước từ thế kỷ XV, đến thế kỉ XVI, XVII phát triển mạnh mẽ và xuất khẩu ra nước ngoài. Trải qua thăng trầm của lịch sử, làng gốm Bát Tràng vẫn luôn giữ được nét đẹp truyền thống, tự hào là làng nghề gốm sứ lâu đời và nổi tiếng nhất của cả nước.

Hoa văn phượng hoàng trên trang phục của người Nùng Dín

Hoa văn phượng hoàng trên trang phục của người Nùng Dín

Một trong những đặc điểm nhận diện rõ nhất trong trang phục truyền thống của người Nùng Dín ở huyện vùng cao Mường Khương chính là vẻ đẹp tinh tế và đầy màu sắc của hoa văn phượng hoàng thêu trên váy áo, khăn đội đầu, giày vải, địu và mũ của trẻ em…

[Ảnh] Làng Vị Khê - nơi trồng cây cảnh nổi tiếng nhất Nam Định

Hành trình dọc sông Hồng: [Ảnh] Làng Vị Khê - nơi trồng cây cảnh nổi tiếng nhất Nam Định

Đến làng cây cảnh Vị Khê (xã Điền Xá, nay là xã Nam Điền, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định), nhiều người không khỏi trầm trồ trước sự khéo léo của các nghệ nhân chăm sóc những cây cảnh tiền tỷ. Đặc biệt, làng cây cảnh này đã có lịch sử tồn tại gần 1.000 năm.

[Ảnh] Đến Hà Nam thăm làng nghề trống Đọi Tam

Hành trình dọc sông Hồng: [Ảnh] Đến Hà Nam thăm làng nghề trống Đọi Tam

Làng nghề trống Đọi Tam ở xã Tiên Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam là làng nghề có lịch sử phát triển hơn 1.000 năm và là làng nghề nổi tiếng với sản phẩm trống truyền thống. Ngoài việc giữ gìn những giá trị văn hóa độc đáo, làng nghề còn linh hoạt đổi mới để đáp ứng nhu cầu thị trường, từ đó tạo ra nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ cho người tiêu dùng.

Bài 4: Độc đáo những làng nghề bên dòng sông mẹ

Sông Hồng – Hành trình di sản Bài 4: Độc đáo những làng nghề bên dòng sông mẹ

Cùng với những di tích khảo cổ, những lịch sử - văn hóa mang nhiều giá trị bên sông Hồng, đi đến những vùng đất nơi sông Hồng chảy qua, chúng tôi còn được tham quan, trải nghiệm không gian văn hóa của nhiều làng nghề nổi tiếng hàng trăm năm tuổi ven sông Hồng, tạo nên nét đặc trưng của nền văn minh lúa nước của cư dân người Việt.

fb yt zl tw