Làng nghề mật mía vào vụ Tết

Đặc biệt, giai đoạn trước Tết hơn 1 tháng, để cung ứng lượng lớn mật mía ra thị trường, các lò nấu mật mía truyền thống xã Nghĩa Hành (tỉnh Nghệ An) liên tục “gối mẻ”, đỏ lửa suốt đêm ngày.

Cứ vào dịp cuối năm, các lò nấu mật mía truyền thống nằm dọc bên đường Hồ Chí Minh qua địa phận xã Nghĩa Hành (tỉnh Nghệ An) lại tất bật đỏ lửa suốt đêm ngày để cho ra dòng sản phẩm mật mía ngọt dịu, sánh mịn màu cánh gián phục vụ thị trường Tết.

Với người dân xã miền núi này, từ bao đời nay đã gắn bó với cây mía để ép lấy mật. Mùa mía vào vụ thu hoạch thì mùa ép mật cũng bắt nhịp chuyển động, kéo dài từ tháng 10 âm lịch đến tháng Ba năm sau.

Đặc biệt, giai đoạn trước Tết hơn 1 tháng, để cung ứng lượng lớn mật mía ra thị trường, các lò nấu mật mía liên tục “gối mẻ”, đỏ lửa suốt đêm ngày.

Liên tục “gối mẻ”, tất bật đỏ lửa

Hàng chục năm qua, các xã Tân Hương, Phú Sơn, Nghĩa Hành (huyện Tân Kỳ cũ), nay là xã Nghĩa Hành, tỉnh Nghệ An nổi tiếng về nghề nấu mật mía truyền thống. Tại “thủ phủ” mật mía này hiện có hàng chục lò nấu mật.

Những ngày cận Tết Bính Ngọ 2026, các lò mật mía nơi đây luôn trong cảnh bận rộn, tất bật khi các chủ lò tranh thủ từng giờ để “gối mẻ”, cho ra lò những mẻ mật màu cánh gián nâu đậm, sánh mịn, trong, không gợn bọt, có hương thơm tự nhiên, vị ngọt thanh, dịu nhẹ.

Sáng sớm miền sơn cước, tiếng máy ép mía vang vọng khắp thôn xóm, núi đồi. Các lò nấu mật mía tỏa khói nghi ngút hòa quyện cùng mùi thơm ngọt của mật mía như “đánh thức” những cụm dân cư vùng quê, phố núi.

Để nấu nước mía thành mật, các chủ cơ sở phải sử dụng một chiếc lò liên hoàn có từ 3-5 miệng lò. Chảo để dùng nấu mật mía bằng kim loại, hình tròn, đường kính miệng từ 1,2-2m, mỗi chảo có dung tích chứa từ 170-200 lít. Kinh phí xây dựng, đắp, lắp đặt bình quân từ 30-40 triệu đồng/lò, chưa kể chi phí mua máy ép mía và các đồ dùng, vật dụng phụ trợ.

Để vận hành nấu mật mía, đảm bảo các công đoạn diễn ra nhịp nhàng thì một lò cần khoảng 3-4 lao động. Khi nấu mật mía, một người thường xuyên tiếp củi vào bếp lò để giữ nguồn nhiệt cấp cho lò nấu luôn ổn định, đồng thời dùng những chiếc vợt có lưới bằng vải màn để vớt bọt và tạp chất nổi lên trong các chảo nấu. Những người còn lại thì luôn tay ép cây mía lấy mật, vận chuyển bã mía đi phơi, đong mật mía đã nguội vào các dụng cụ đựng có hình dạng, kích thước khác nhau.

Công đoạn tập trung mía nguyên liệu, ép lấy nước rồi cho vào chảo nấu đòi hỏi sức lao động, sự vất vả thì giai đoạn vớt bọt, loại bỏ tạp chất ra khỏi mật mía đang sôi đòi hỏi sự thuần thục và kinh nghiệm của người làm nghề. Bởi nếu không vớt hết được tạp chất nổi lên cùng bọt thì mật mía sẽ có gợn, không sánh mịn, màu sẽ thâm, đen, chất lượng sẽ giảm. Chất lượng của mật mía phụ thuộc rất nhiều từ nguồn nguyên liệu đầu vào. Cây mía càng to, càng ngọt thì lượng mật thu về càng nhiều.

Một mẻ mật mía trải qua khoảng thời gian nấu từ 3 đến 4 giờ đồng hồ. Trong đó, hơn nửa thời gian mật mía mới sủi tăm và sôi. Khi sôi, các chảo mật mía trông như những tháp nước tuôn trào màu vàng óng ả, tỏa khói nghi ngút.

Chị Nguyễn Thị Pháp, chủ cơ sở nấu mật mía Trường Pháp, xã Nghĩa Hành cho biết, ba tháng cuối năm là mùa vụ chính nấu mật mía. Mỗi ngày hai vợ chồng chị phải lao động từ sáng sớm đến chiều muộn.

Để có nguyên liệu đầu vào đảm bảo nấu đủ lượng mật mía cung ứng ra thị trường, gia đình chị đã thu mua hàng chục tấn mía cây của người dân trên địa bàn.

Năm nay, giá nguyên liệu đầu vào có tăng, kéo theo giá mật mía nhỉnh hơn. Nhu cầu tiêu thụ thị trường năm nay tăng cao nên các lò nấu mật mía trong làng đều tất bật vào vụ. Lượng mật mía nấu ra được khách hàng mua hết nên bà con làm mật mía rất phấn khởi.

Anh Nguyễn Văn Đức, chủ lò mật mía Đức Hiền, xã Nghĩa Hành chia sẻ gia đình làm nghề nấu mật mía hơn 10 năm qua. Hơn 2 tháng nay, mỗi ngày gia đình nấu 3 mẻ mật mía, cho ra khoảng 800 lít mật/ngày. Công việc vận hành lò nấu mật mỗi ngày bắt đầu từ 4 giờ sáng, đến gần 10 giờ đêm mới kết thúc.

Đang bận rộn múc những ca mật mía chắt vào những can đựng, chị Nguyễn Thị Hiền cho biết, nhiều năm trước, các công đoạn nấu mật mía phải làm trực tiếp và thủ công bằng sức người nên rất vất vả. Hiện nay đã có máy móc hỗ trợ, giải phóng sức lao động nên việc nấu mật cũng “nhàn” hơn.

Từ khâu thu hoạch, làm sạch mía, đến nấu và vớt bọt đều được rút ngắn thời gian, hiệu quả công việc và năng suất tăng cao. Để làm ra lượng mật mía đáp ứng các đơn đặt hàng của khách trong dịp Tết, gia đình chị phải thuê thêm 2 lao động.

Theo anh Nguyễn Văn Đức, chủ cơ sở nấu mật mía cho biết, trung bình dịp Tết mỗi cơ sở sản xuất từ 8.000-10.000 lít mật, bán tại chỗ cho thương lái, người tiêu dùng với giá ổn định từ 28.000-30.000 đồng/lít. Có thời điểm khan hiếm, giá mật mía đạt 40.000 đồng/lít.

Trung bình mỗi tấn mía tươi cho khoảng 1,4 tạ mật cô đặc. Kết thúc vụ nấu mật mía, trừ hết các khoản chi phí, các hộ nấu mật có thể thu về từ 70-100 triệu đồng.

Đưa thương hiệu vươn xa

Nghề nấu mật mía tại xã Nghĩa Hành (tỉnh Nghệ An đảm bảo đầu ra cho vùng nguyên liệu mía tươi; mang lại sinh kế, giúp bà con trên địa bàn nâng cao thu nhập, giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương.
Nghề nấu mật mía tại xã Nghĩa Hành (tỉnh Nghệ An đảm bảo đầu ra cho vùng nguyên liệu mía tươi; mang lại sinh kế, giúp bà con trên địa bàn nâng cao thu nhập, giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương.

Theo các chủ cơ sở nấu mật trên địa bàn xã Nghĩa Hành, mật mía là nguồn nguyên liệu, phụ gia không thể thiếu để làm những món ăn, thức quà truyền thống trong văn hóa ẩm thực Việt Nam dịp Tết đến, Xuân về như cá kho, thịt kho, sườn rim, nấu chè, nấu bánh mật, bánh gai, kẹo cuđơ… Do đó, dịp cuối năm, sản phẩm mật mía Nghĩa Hành luôn có cơ hội “vươn” xa thị trường tiêu thụ khắp mọi miền cả nước.

Ông Hoàng Văn Nhưng, xã Diễn Châu, tỉnh Nghệ An chia sẻ trong tâm thức của người dân làng biển, món cá biển kho mật mía không thể thiếu trên mâm cỗ cúng tổ tiên trong những ngày Tết. Người dân miền biển thường dùng các loại cá biển kho kỹ với mật mía cùng các loại gia vị riềng, gừng, ớt cay bằng nồi đất nung.

Mỗi khi dâng mâm cúng tổ tiên, cá gắp lên đĩa được bày biện ở vị trí trung tâm của mâm cỗ cúng. Nét đẹp văn hóa đó đã tồn tại gần 100 năm qua, được người dân “miền chân sóng” gìn giữ, bảo lưu, trao truyền qua nhiều thế hệ.

Theo ông Nguyễn Xuân Nam, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Nghĩa Hành cho biết, những năm qua, mật mía Nghĩa Hành đã khẳng định thương hiệu, được khách hàng gần xa ưa thích, tin dùng. Nghề nấu mật mía đã mang lại sinh kế, giúp bà con trên địa bàn nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương. Đặc biệt, nhiều gia đình đã vươn lên làm giàu từ nghề nấu mật mía ngay trên mảnh đất mình gắn bó.

Những năm gần đây, các chủ cơ sở nấu mật mía ở xã Nghĩa Hành đã tiếp cận công nghệ số, sử dụng lợi thế mạng xã hội facebook, tiktok, zalo… để giới thiệu cách thức, quy trình nấu mật, quảng bá sản phẩm.

Nhờ đó các chủ cơ sở nấu mật tiếp cận được thị trường tiêu thụ rộng hơn, nhiều hơn, giá trị mật mía tăng cao và không còn phụ thuộc vào thương lái đến thu mua tại chỗ như trước. Các lò nấu mật mía cũng đóng vai trò tích cực trong việc bao tiêu nguồn mía cây cho người dân trồng tại địa phương và các xã lân cận.

Với mục tiêu nâng cao chất lượng, khẳng định thương hiệu, vươn xa thị trường cho sản phẩm, các gia đình làm nghề đã thành lập Tổ hợp tác sản xuất mật mía; dần cải tiến quy trình nấu, đầu tư đồng bộ dụng cụ đựng nguyên liệu, thay đổi mẫu mã sản phẩm, mở rộng thị trường; tuân thủ sản xuất mật mía theo đúng quy trình, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Ông Nguyễn Xuân Nam, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Nghĩa Hành cho biết những năm qua, người dân địa phương đã duy trì và phát triển thêm diện tích trồng để tạo vùng nguyên liệu cho nghề nấu mật mía.

Hiện nay, toàn xã có 30 cơ sở chuyên nấu mật mía, sản lượng đạt khoảng 250.000-300.000 lít/năm. Dịp cuối năm, nhu cầu sử dụng của thị trường tăng cao nên sản phẩm mật mía được tiêu thụ khá mạnh.

Nhiều thương lái cũng thu mua mật mía Nghĩa Hành để “xuất ngoại” sang thị trường Lào. Hiện, sản phẩm mật mía của địa phương được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao.

Đồng hành cùng người dân, những năm tới, chính quyền địa phương tiếp tục hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ; thiết kế nhãn mác, đăng ký nhãn hiệu, nguồn gốc truy xuất để dòng sản phẩm mật mía càng vươn xa.

vietnamplus.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Cổ phục Việt hồi sinh từ đam mê của người trẻ

Cổ phục Việt hồi sinh từ đam mê của người trẻ

Không còn là trào lưu nhất thời hay thú chơi mang tính hoài cổ, việc giới trẻ chủ động tìm hiểu, phục dựng và lan tỏa các giá trị di sản văn hóa đang trở thành một xu hướng mang tính chiều sâu. Từ việc khoác lên mình cổ phục, tham gia lễ hội truyền thống, đến sáng tạo nội dung văn hóa trên nền tảng số – hành trình hồi sinh di sản đang được thế hệ trẻ thắp lửa bằng niềm say mê, sự sáng tạo và trách nhiệm với cội nguồn dân tộc.

Giữ hồn thổ cẩm người Dao Tiền nơi đỉnh Đèo Gió

Giữ hồn thổ cẩm người Dao Tiền nơi đỉnh Đèo Gió

Ở thôn Đèo Gió, một nhóm phụ nữ Dao Tiền ngày ngày kiên trì bên khung thêu, cần mẫn từng đường kim, mũi chỉ. Họ không chỉ là những người “giữ lửa” cho nghề thêu thổ cẩm, mà còn đang nỗ lực đưa nét văn hóa dân tộc hòa vào đời sống hiện đại bằng đôi tay tài hoa và tinh thần đổi mới.

Người Khơ Mú giữ "hồn" tre nứa

Người Khơ Mú giữ "hồn" tre nứa

Suốt chiều dài lịch sử, tre nứa đã trở thành người bạn thân thiết trong đời sống đồng bào Khơ Mú ở phường Nghĩa Lộ (tỉnh Yên Bái trước đây, nay thuộc tỉnh Lào Cai). Qua bàn tay khéo léo của nghệ nhân, người thợ, tre nứa được thổi hồn thành nong, nia, giỏ, gùi, sọt, ghế… Các vật dụng gắn bó với lao động, sinh hoạt hằng ngày và cả tín ngưỡng, tâm linh. Giữa nhịp sống hiện đại, người Khơ Mú vẫn lặng lẽ giữ nghề truyền thống - gìn giữ cội nguồn.

Giữ lửa nghề mộc Phù Yên

Giữ lửa nghề mộc Phù Yên

Trong khi nhiều làng nghề truyền thống đang dần mai một trước làn sóng công nghiệp hóa và đô thị hóa, thì ở thôn Phù Yên, xã Phú Nghĩa (Hà Nội), một thế hệ trẻ đầy nhiệt huyết đang tiếp nối và làm mới nghề mộc truyền thống. Họ không chỉ giữ nghề mà còn đang thổi luồng sinh khí mới vào làng nghề hàng trăm năm tuổi.

Độc đáo nghệ thuật tạo hoa văn cạp váy của người Mường

Độc đáo nghệ thuật tạo hoa văn cạp váy của người Mường

Nghệ thuật tạo hoa văn cạp váy của người Mường tỉnh Hoà Bình (cũ), nay là tỉnh Phú Thọ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây là sự tôn vinh, ghi nhận và là niềm tự hào của người Mường, động lực để đồng bào tiếp tục giữ gìn và phát huy giá trị di sản.

Giấy bản – mạch nối ký ức vùng cao

Giấy bản – mạch nối ký ức vùng cao

Ẩn mình giữa núi rừng vùng cao, những tấm giấy bản mỏng nhẹ nhưng dai bền vẫn lặng lẽ gìn giữ kho tàng tri thức dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số. Giấy bản không chỉ là chất liệu, mà còn là minh chứng sống động cho một nghề thủ công giản dị, âm thầm bền bỉ trước sự bào mòn của thời gian.

Phụ nữ dân tộc Mông với nghề dệt lanh truyền thống

Phụ nữ dân tộc Mông với nghề dệt lanh truyền thống

Giữa lòng Cao nguyên đá hùng vĩ có một câu chuyện về văn hóa bản địa và hành trình vươn lên mạnh mẽ của những người phụ nữ dân tộc Mông. Từ sợi lanh truyền thống, họ đã và đang bền bỉ dệt nên sự bình đẳng, nâng tầm vị thế của mình trong cộng đồng.

[Ảnh] Phụ nữ vùng cao giữ nghề truyền thống

[Ảnh] Phụ nữ vùng cao giữ nghề truyền thống

Những tri thức dân gian làm nghề truyền thống của các dân tộc vùng cao Lào Cai đã có từ ngàn đời nay. Trong nhịp sống hiện đại, những tri thức ấy vẫn được đồng bào gìn giữ và lưu truyền, tạo nên nét đẹp độc đáo của mỗi dân tộc. 

[Ảnh] Đồng bào các dân tộc vùng cao Bát Xát giữ nghề đan lát

[Ảnh] Đồng bào các dân tộc vùng cao Bát Xát giữ nghề đan lát

Huyện Bát Xát có 23 nhóm, ngành dân tộc với bản sắc văn hóa phong phú. Trải qua nhiều thế hệ, các dân tộc trên vùng cao Bát Xát đã sáng tạo và lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống, trong đó có nghề đan lát. Từ đôi bàn tay khéo léo và sự chăm chỉ, cần mẫn, các nghệ nhân ở thôn, bản đã sáng tạo nhiều sản phẩm thủ công đan lát phục vụ đời sống hằng ngày và nhu cầu của cộng đồng.

Giữ nghề nơi bản nhỏ

Giữ nghề nơi bản nhỏ

Sinh ra và lớn lên trong cái nôi văn hóa Tày, bà Nguyễn Thị San, ở bản Nà Khương là một trong số ít người ở xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên còn am hiểu và gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. Bà đã và đang nỗ lực truyền dạy lại cho lớp trẻ, vừa để giữ gìn văn hóa truyền thống, vừa phục vụ phát triển du lịch cộng đồng.

Lão nông Hà Nhì 30 năm giữ nghề đan mâm

Lão nông Hà Nhì 30 năm giữ nghề đan mâm

Từ những thanh gỗ pơ mu cũ kỹ bị vùi trong lớp đất mục tưởng như bỏ đi hoặc chỉ dùng vào việc chẻ ra nhóm bếp, ông Chu Xe Gió, người Hà Nhì, xã Nậm Pung (Bát xát) có thể tách ra thành những chiếc nan mỏng như tấm bìa giấy để đan mâm theo kỹ thuật truyền thống của dân tộc Hà Nhì. Điều đáng nói, ông Chu Xe Gió là truyền nhân duy nhất của xã Nậm Pung có thể đan mâm bằng nan gỗ pơ mu trong khi một số người khác chỉ đan được bằng nan tre quen thuộc.

fb yt zl tw