Từ thôn Khe Sừng, Khe Nhừ, Bồ, Khe Đồng đến Đồng Mận, Đồng Then... của xã Chấn Thịnh hôm nay, những vườn cam, dâu tằm, tre măng bát độ đang phủ kín các triền đồi, chân ruộng.
Gia đình anh Đặng Văn Vương, thôn Khe Sừng là một trong những hộ tiên phong phát triển cây cam của địa phương. Trên diện tích 3,5 ha đang cho thu hoạch, mỗi năm gia đình có nguồn thu từ 300 đến 400 triệu đồng. Khi được xã tuyên truyền, hướng dẫn tiếp cận các chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết 21, anh tiếp tục mạnh dạn đầu tư mở rộng thêm 2 ha.
Vừa chăm sóc những cây cam đang kỳ nuôi quả, anh Vương chia sẻ: “Khi địa phương xác định cam là cây trồng chủ lực, có chính sách hỗ trợ, bà con yên tâm đầu tư hơn. Chúng tôi mong tiếp tục được hỗ trợ về kỹ thuật và kết nối thị trường để sản xuất ổn định, lâu dài”.
Nếu những vườn cam đang mở ra hướng làm giàu trên vùng đồi thì tại thôn Bồ 3, mô hình chăn nuôi của bà Nguyễn Thị Ngư lại cho thấy sự chuyển biến rõ nét ở lĩnh vực chăn nuôi hàng hóa. Đầu tư khoảng 350 triệu đồng xây dựng khu chuồng nuôi rộng 150 m² với hệ thống thông gió, điều hòa nhiệt độ và hầm biogas, gia đình bà hiện duy trì đàn lợn 100 con.
Bà Ngư cho biết, trước khi đầu tư, gia đình được cán bộ xã, thôn tuyên truyền về các cơ chế hỗ trợ của tỉnh, đồng thời được tập huấn kỹ thuật chăn nuôi. Chính sự đồng hành của chính quyền địa phương đã tạo thêm niềm tin để gia đình mạnh dạn chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa.
Sau khi được thành lập trên cơ sở sáp nhập ba xã là Tân Thịnh, Đại Lịch và Chấn Thịnh, xã Chấn Thịnh có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu và truyền thống sản xuất nông, lâm nghiệp và chăn nuôi. Trên cơ sở rà soát tiềm năng từng vùng, cấp ủy, chính quyền xã xác định phát triển cây cam, dâu tằm, tre măng Bát độ cùng chăn nuôi lợn, trâu, bò theo hướng hàng hóa là những mũi nhọn để nâng cao giá trị sản xuất.
Định hướng đó đã bước đầu mang lại kết quả tích cực. Về cây trồng chủ lực, toàn xã duy trì 426 ha cam, trong đó hơn 410 ha đã cho thu hoạch; 79 ha dâu tằm, 69 ha tre măng Bát độ. Nhiều vùng chuyên canh đã hình thành tại các thôn Khe Sừng, Khe Nhừ, Khe Đồng, Đát Quang, Bồ, Đồng Then... tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân.
Ở lĩnh vực chăn nuôi, tổng đàn gia súc chính 6 tháng năm 2026 đạt 29.390 con, bằng 88,3% kế hoạch năm; trong đó đàn trâu 1.540 con, đàn bò 950 con và đàn lợn 26.900 con. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 1.502 tấn, bằng 61,6% kế hoạch. Những con số ấy cho thấy chăn nuôi đang từng bước trở thành trụ cột quan trọng bên cạnh các vùng cây trồng chủ lực trong phát triển nông nghiệp hàng hóa.
Điểm đáng ghi nhận ở Chấn Thịnh không chỉ nằm ở những kết quả cụ thể bước đầu, mà còn ở cách cấp ủy, chính quyền cụ thể hóa Nghị quyết số 21 thành chương trình hành động phù hợp với điều kiện thực tế. Đồng chí Đặng Đức Hạnh - Phó Chủ tịch UBND xã Chấn Thịnh cho biết, ngay sau khi nghị quyết được ban hành, xã tổ chức rà soát quỹ đất, đánh giá tiềm năng từng vùng, lựa chọn cây trồng, vật nuôi chủ lực; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân tiếp cận chính sách, tập huấn kỹ thuật và xây dựng các mô hình điểm.
Hiệu quả được thể hiện ngay trong năm đầu triển khai. Đợt 1 năm 2026, có 19 mô hình chăn nuôi hàng hóa gồm lợn thịt, lợn nái, trâu, bò và dê; hơn 43 ha cây ăn quả chủ lực, 30 ha tre măng Bát độ và trên 8 ha dâu tằm cùng nhiều hạng mục phục vụ nghề nuôi tằm được hoàn thiện hồ sơ để hưởng chính sách hỗ trợ.
Đây sẽ là nền tảng để địa phương hướng tới mục tiêu đến năm 2030 xây dựng vùng sản xuất khoảng 600 ha cam, quýt; 250 ha dâu tằm và 230 ha tre măng Bát độ, từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với chế biến và xây dựng thương hiệu nông sản.
"Điều quan trọng nhất là tạo được sự đồng thuận của người dân. Khi bà con thấy rõ hiệu quả kinh tế, họ sẽ chủ động tham gia. Chính quyền sẽ tiếp tục đồng hành trong quy hoạch vùng sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật và kết nối tiêu thụ sản phẩm để người dân yên tâm đầu tư", đồng chí Đặng Đức Hạnh chia sẻ.
Kết quả đạt được là đáng mừng, tuy nhiên, hành trình hiện thực hóa Nghị quyết 21 ở Chấn Thịnh vẫn còn nhiều việc phải làm. Nguồn vốn đầu tư, thời gian kiến thiết của cây lâu năm, yêu cầu về kỹ thuật và đặc biệt là bài toán liên kết tiêu thụ vẫn là những thách thức đặt ra với địa phương. Nếu thiếu doanh nghiệp đồng hành, thiếu chế biến sâu và thiếu thị trường ổn định, các vùng nguyên liệu rất dễ đối mặt với nguy cơ "được mùa, mất giá". Bởi vậy, giai đoạn tiếp theo không chỉ là mở rộng diện tích hay tăng số lượng mô hình hỗ trợ, mà quan trọng hơn là xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ, nâng cao giá trị nông sản và phát triển bền vững.
Giá trị lớn nhất mà Nghị quyết 21 đang tạo ra ở Chấn Thịnh không chỉ là những diện tích cây trồng mới hay những đàn vật nuôi ngày càng lớn hơn, mà quan trọng hơn là sự chuyển biến trong tư duy sản xuất của người dân, từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa theo quy hoạch và nhu cầu thị trường.
Khi được cụ thể hóa bằng những chương trình hành động sát thực tiễn, khi cấp ủy, chính quyền tổ chức thực hiện quyết liệt và người dân đồng lòng hưởng ứng, chính sách của tỉnh sẽ không còn nằm trên những trang văn bản mà trở thành động lực phát triển. Những vùng cam, nương dâu, đồi tre măng và các trang trại chăn nuôi hôm nay chính là minh chứng sinh động cho hành trình đưa Nghị quyết 21 đi vào cuộc sống, từng bước xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa, nâng cao thu nhập và tạo sinh kế bền vững cho người dân Chấn Thịnh.