Yên Bái: Kinh tế lâm nghiệp tạo đà phát triển xanh, bền vững

Với tổng diện tích tự nhiên trên 688.767 ha, 69% diện tích tự nhiên (479.000 ha) là đất rừng, Yên Bái là tỉnh có lợi thế rất lớn về lâm nghiệp và kinh tế lâm nghiệp. Tuy nhiên, chưa bao giờ tiềm năng, thế mạnh đó lại được quan tâm và khai thác như thời gian qua.
Với tốc độ khai thác khoảng 40.000 m3/năm, vì vậy, những năm cuối của thế kỷ XX, rừng tự nhiên và rừng trồng Yên Bái bị tàn phá đến kiệt quệ, diện tích rừng bị thu hẹp gần tới mức giới hạn để bảo vệ sự cân bằng sinh thái. 
Theo số liệu thống kê, năm 2000, toàn tỉnh còn 158.721 ha rừng, trong đó 123.188 ha rừng tự nhiên, trữ lượng còn 11,9 triệu mét khối và 35.533 ha rừng trồng, trữ lượng 0,9 triệu mét khối và 61 triệu cây tre, nứa, vầu. So với năm 1978, đã giảm 183.456 ha, bình quân mỗi năm giảm 13.139 ha. Bên cạnh tình trạng khai thác rừng, tệ nạn chặt phá rừng làm củi đốt, trồng lương thực, khai thác tài nguyên ngày càng tăng. Năm 1996, diện tích đất trống đồi núi trọc chiếm tới 346.000 ha, chiếm khoảng 50% diện tích tự nhiên của tỉnh.
Vậy mà chỉ sau hơn 20 năm, màu xanh của rừng đã trở lại. Theo số liệu thống kê, cùng các lâm trường, trung bình mỗi năm đồng bào Kinh, Tày, Dao, Mông, Cao Lan... trong tỉnh trồng được trên 15.000 ha rừng. Rừng giờ không chỉ bạt ngàn từ Yên Bình, Văn Yên, Lục Yên, Văn Chấn, thành phố Yên Bái... mà còn đến các huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải. 
Cùng rừng trồng, trên địa bàn đã hình thành vùng quế tập trung trên 78.000 ha, tre măng Bát độ gần 5.000 ha, sơn tra gần 10.000 ha, vùng nguyên liệu chế biến gỗ keo, bồ đề, bạch đàn khoảng 95.000 ha. Cùng trồng rừng, trên 433.000 ha rừng hiện có được bảo vệ tốt. 
Với tốc độ trồng rừng như hiện nay, theo dự kiến, đến năm 2025, tỷ lệ che phủ rừng của Yên Bái sẽ đạt 65%. Từ diện tích rừng hiện có, sản lượng gỗ rừng trồng khai thác hàng năm của Yên Bái đạt trên 500.000 m3. Toàn tỉnh có trên 500 cơ sở chế biến gỗ rừng trồng, bắt đầu hình thành các trung tâm chế biến quy mô lớn với công nghệ hiện đại. 
Do đó, giá trị sản xuất lâm nghiệp ngày càng tăng, từ 1.587 tỷ đồng năm 2016 lên 1.800 tỷ đồng năm 2019 và dự kiến năm 2020 đạt 1.950 tỷ đồng. Rừng giữ đất, giữ môi trường sinh thái, tạo cảnh quan môi trường và đem lại cuộc sống ấm no cho hàng vạn hộ dân Yên Bái.
Có được những kết quả trên, nguyên nhân chính do sản xuất lâm nghiệp luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Bên cạnh đó, để phát huy thế mạnh lâm nghiệp, những năm qua, tỉnh đã ban hành nhiều chính sách để phát triển lĩnh vực lâm nghiệp như: giao khoán bảo vệ rừng; quy hoạch 3 loại rừng; giao đất, giao rừng cho người dân; quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với chế biến... 
Đồng thời, tỉnh đổi mới cơ chế, mô hình quản lý trong lĩnh vực lâm nghiệp, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng. Hàng năm, tỉnh luôn quan tâm, bố trí nguồn kinh phí hỗ trợ để thực hiện các đề án tái cơ cấu sản xuất lâm nghiệp, chính sách hỗ trợ là đòn bẩy kích thích các thành phần kinh tế tham gia bảo vệ, phát triển rừng. 
Qua tuyên truyền, vận động dưới nhiều hình thức, nhiều phong trào, nhận thức của người dân về trồng rừng, chuyển dịch cơ cấu cây trồng lâm nghiệp có  chuyển biến tích cực. Đặc biệt, dịch vụ môi trường rừng thời gian qua được thực hiện tốt thực sự trở thành nguồn tài chính quan trọng, bền vững của ngành lâm nghiệp, từng bước giảm áp lực chi ngân sách Nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, tăng thu nhập cho các chủ rừng và người dân làm nghề rừng. 
Bên cạnh đó, công tác quản lý giống cây lâm nghiệp được quan tâm, thực hiện thay thế những loài cây lâm nghiệp có hiệu quả kinh tế thấp, năng suất, chất lượng sản phẩm không đủ sức cạnh tranh trên thị trường bằng các giống cây lâm nghiệp mới có năng suất cao, chất lượng sản phẩm gỗ đáp ứng thị trường tiêu thụ, góp phần nâng cao giá trị, hiệu quả kinh tế trên một đơn vị canh tác...
Những kết quả đạt được thật sự to lớn, tuy nhiên, thẳng thắn đánh giá, giá trị sản xuất lâm nghiệp trong phát triển kinh tế của tỉnh chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh, chưa tạo ra sản phẩm hàng hóa quy mô lớn. Dù số lượng có tăng nhưng năng suất, chất lượng gỗ rừng trồng còn thấp, chưa có sản phẩm chế biến sâu, chất lượng nhiều loại sản phẩm lâm nghiệp chưa cao, khả năng cạnh tranh thấp do quy mô sản xuất nhỏ, thiếu gắn kết giữa nhà máy chế biến và vùng nguyên liệu. Tuy đã hình thành được một số chuỗi sản xuất lâm nghiệp nhưng mới chỉ dừng lại ở các sản phẩm đặc sản như: quế, sơn tra...
Phát triển ngành lâm nghiệp bền vững, trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật đa mục tiêu về kinh tế, xã hội, môi trường; trong đó, tiếp tục đưa sản xuất lâm nghiệp theo chuỗi giá trị hàng hóa, có cơ cấu và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, hội nhập vững chắc, sâu rộng; đặc biệt, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học, gìn giữ các nguồn gen quý, hiếm; ứng phó với biến đổi khí hậu; tạo việc làm, thu nhập cho người dân làm nghề rừng, gắn với xây dựng nông thôn mới; góp phần bảo vệ quốc phòng, an ninh... là mục tiêu đặt ra. Để thực hiện các mục tiêu trên, thời gian tới, cần thành lập ban chỉ đạo thực hiện chương trình quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng từ tỉnh đến cơ sở. 
Cấp ủy, chính quyền các địa phương phải coi nhiệm vụ quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của địa phương để tập trung chỉ đạo. Nâng cao hiệu quả trồng và bảo vệ rừng, cần hoàn thành việc giao đất, giao rừng, cho thuê rừng cho các tổ chức, hộ cá nhân, cộng đồng dân cư thôn bản để quản lý, sử dụng ổn định lâu dài, gắn lợi ích của người dân với rừng, tạo thu nhập từ rừng cho người dân. 
Tiếp tục tập trung phát triển vùng quế hữu cơ gắn với chế biến sâu và tinh các sản phẩm từ quế; phát triển vùng tre măng Bát độ, đẩy mạnh xúc tiến và mở rộng thị trường xuất khẩu trực tiếp sang nước ngoài các sản phẩm từ tre măng; phát triển các sản phẩm từ sơn tra và trồng cây dược liệu dưới tán rừng, góp phần xây dựng vùng dược liệu quy mô lớn tập trung. 
Tiếp tục đẩy mạnh trồng rừng thâm canh trên diện tích đất quy hoạch trồng rừng sản xuất bằng các loài cây chủ lực như: keo mô, keo tai tượng gieo ươm từ hạt giống nhập ngoại, bạch đàn, bồ đề; lựa chọn những giống cây thích hợp với nhiều dạng địa hình, khí hậu, đất đai khác nhau, sinh trưởng nhanh đưa vào trồng rừng. 
Bên cạnh quản lý, bảo vệ và nâng cao chất lượng rừng đặc dụng, phòng hộ hiện có, cần lựa chọn cơ cấu cây trồng trong rừng phòng hộ phù hợp với điều kiện lập địa, sinh thái, ưu tiên những cây trồng đa tác dụng. Thực hiện các biện pháp lâm sinh như làm giàu rừng, khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung bằng những loài cây bản địa, có giá trị kinh tế vào diện tích rừng tự nhiên phòng hộ, đăc dụng nghèo, nghèo kiệt. 
Rà soát và sắp xếp lại các cơ sở chế biến vừa và nhỏ trên địa bàn để chủ động trong việc quản lý nguồn nguyên liệu, giám sát các hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế sự lãng phí trong sử dụng tài nguyên rừng. 
Thực hiện chính sách ưu đãi về đất đai, mặt bằng, tín dụng… để thu hút các nhà đầu tư chiến lược đầu tư vào lĩnh vực chế biến lâm sản từ gỗ rừng trồng với quy mô lớn, dây chuyền hiện đại, sản xuất ra sản phẩm cuối cùng, đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào 5 lĩnh vực chính: ứng dụng công nghệ sinh học; ứng dụng vật liệu mới; ứng dụng công nghệ máy móc tự động hóa; ứng dụng công nghệ tin học vào quản lý lâm nghiệp; xây dựng thương hiệu - xúc tiến đầu tư - thương mại lâm nghiệp công nghệ cao.
Phấn đấu đến năm 2025, tỷ trọng kinh tế lâm nghiệp của Yên Bái chiếm 37% trong nội ngành nông nghiệp; có trên 40.000 ha rừng cây gỗ lớn; có 100.000 ha rừng được cấp chứng chỉ rừng (FSC) và ứng dụng phần mềm công nghệ trong quá trình sản xuất, kinh doanh và truy xuất nguồn gốc chuỗi sản phẩm nông sản (VFSC); bình quân hàng năm, trồng trên 15.000 ha rừng các loại.
 Nguyễn Đình

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Chủ động phòng, chống dông lốc

Chủ động phòng, chống dông lốc

Cuối tháng ba, một cơn dông lốc bất ngờ quét qua phường Cầu Thia, phường Nghĩa Lộ và các khu vực lân cận, gây thiệt hại nặng về nhà ở và tài sản của người dân. Dù chỉ diễn ra trong khoảng 30 - 40 phút, nhưng với cường độ mạnh, diễn biến nhanh, cơn dông đã để lại hậu quả nghiêm trọng, vượt ngoài dự báo thông thường.

Tiềm năng lớn của đường sắt liên vận

Tiềm năng lớn của đường sắt liên vận

Đường sắt Việt Nam hiện đang kết nối với đường sắt các nước thông qua hai cửa khẩu đường sắt là ga Đồng Đăng và ga Lào Cai. Trong tương lai, ngành đường sắt tiếp tục nghiên cứu, mở rộng kết nối với Lào và Campuchia.

Đồi chè “đón” quả mắc ca – hướng đi mới nâng cao giá trị sản xuất

Đồi chè “đón” quả mắc ca – hướng đi mới nâng cao giá trị sản xuất

Từ cây chè truyền thống, xã Liên Sơn đang từng bước chuyển mình khi đưa cây mắc ca vào trồng xen canh trên cùng diện tích. Mô hình sản xuất hai tầng cây trồng bước đầu phát huy hiệu quả, không chỉ nâng cao giá trị kinh tế mà còn mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Thác Bà tạo sự phát triển bền vững

Thác Bà tạo sự phát triển bền vững

Tận dụng lợi thế về đất đai, rừng và mặt nước, xã Thác Bà đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu sản xuất, hình thành các vùng chuyên canh. Những mô hình sản xuất hiệu quả không chỉ mở ra sinh kế ổn định mà còn giúp nhiều hộ gia đình vươn lên thoát nghèo, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.

Đột phá về thể chế, tạo động lực phát triển các lĩnh vực trụ cột

Đột phá về thể chế, tạo động lực phát triển các lĩnh vực trụ cột

Trong bối cảnh cạnh tranh phát triển ngày càng mạnh mẽ giữa các địa phương, cải cách thể chế được xem là “chìa khóa vàng” để khai thông nguồn lực và tạo đột phá. Với Lào Cai - tỉnh biên giới có nhiều tiềm năng, những thay đổi mạnh mẽ về cơ chế, chính sách đang trở thành động lực quan trọng, tạo bước chuyển rõ nét ở các lĩnh vực trụ cột như du lịch và xuất - nhập khẩu.

Nông thôn khởi sắc từ khai thác tiềm năng, thế mạnh

Nông thôn khởi sắc từ khai thác tiềm năng, thế mạnh

Từ vùng quê nhiều khó khăn, xã Tân Lĩnh hôm nay đang trên đà khởi sắc, vững bước vào hành trình xây dựng nông thôn mới hiện đại, văn minh, giàu bản sắc. Nhà ở được xây dựng kiên cố; lúa, ngô xanh mướt trên đồng; đường làng, ngõ xóm được bê tông hóa phong quang sạch sẽ, có điện chiếu sáng mỗi khi đêm về.

Hiểm nguy khi qua cầu treo Pờ Hồ

Hiểm nguy khi qua cầu treo Pờ Hồ

Cầu treo Pờ Hồ - tuyến kết nối giữa thôn Pờ Hồ và thôn Trung Hồ, xã Trung Lèng Hồ cũ, nay thuộc xã Mường Hum đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn cho người dân mỗi khi qua lại.

Van Hồ - Suối Chải đường được mở mới từ sự đồng lòng

Van Hồ - Suối Chải đường được mở mới từ sự đồng lòng

Chỉ sau hơn 10 ngày ra quân làm đường, 2 km nền tuyến đường từ thôn Van Hồ đi Suối Chải (xã Bát Xát) đã được san gạt mở mới. Con số ấy không chỉ thể hiện quyết tâm của đơn vị thi công mà còn là minh chứng rõ nét cho sự đồng lòng, chung sức của chính quyền và Nhân dân địa phương trong việc hiện thực hóa ước mơ có một con đường giao thông thuận tiện.

Thúc đẩy hợp tác thương mại Lào Cai - Vân Nam, mở rộng chuỗi giá trị nông sản, dược liệu và chè

Thúc đẩy hợp tác thương mại Lào Cai - Vân Nam, mở rộng chuỗi giá trị nông sản, dược liệu và chè

Sáng 07/4, tại phường Lào Cai, Sở Thương mại tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Lào Cai tổ chức Chương trình giao thương hợp tác doanh nghiệp Vân Nam - Lào Cai, nhằm tăng cường kết nối, mở rộng thị trường và thúc đẩy phát triển chuỗi cung ứng hàng hóa giữa hai địa phương.

Triển khai đồng bộ công tác xóa lối đi tự mở trên tuyến đường sắt Yên - Lào qua xã Bảo Hà

Triển khai đồng bộ công tác xóa lối đi tự mở trên tuyến đường sắt Yên - Lào qua xã Bảo Hà

Tuyến đường sắt Yên - Lào đoạn qua xã Bảo Hà (tỉnh Lào Cai) dài 22,4 km, giữ vai trò quan trọng trong vận chuyển hàng hóa và hành khách của địa phương. Tuy nhiên, trong thời gian dài, dọc tuyến vẫn tồn tại 10 lối đi tự mở hình thành từ thói quen đi lại của người dân, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn giao thông đường sắt.

Sức mạnh từ các "hạt nhân" liên kết

Sức mạnh từ các "hạt nhân" liên kết

Được xác định là "đòn bẩy" quan trọng trong chương trình xây dựng nông thôn mới, hệ thống hợp tác xã nông nghiệp Lào Cai đang phát huy mạnh mẽ vai trò dẫn dắt kinh tế tập thể. Với mục tiêu thành lập mới hàng chục hợp tác xã mỗi năm, tỉnh đang nỗ lực biến các đơn vị này thành "hạt nhân" liên kết, không chỉ tạo sinh kế bền vững cho người dân mà còn trực tiếp nâng cao giá trị trên từng ha canh tác.

Xã Cốc San vào vụ trồng dưa hấu

Xã Cốc San vào vụ trồng dưa hấu

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, từ năm 2015, cây dưa hấu trên đồng đất Cốc San đã sinh trưởng tốt, cho sản lượng cao và hiệu quả kinh tế vượt trội so với lúa và ngô. Do đó, hiện nay, xã Cốc San đang tập trung hướng dẫn và đồng hành cùng nông dân trong việc mở rộng diện tích trồng mới dưa hấu.

fb yt zl tw