Định hình 7 nhóm sản phẩm phát thải thấp
Theo kế hoạch, Lào Cai tập trung phát triển 7 nhóm sản phẩm trồng trọt chủ lực theo hướng phát thải thấp gồm: lúa nước; rau an toàn, rau hữu cơ; chè; cây ăn quả ôn đới; cây dược liệu; chuối - dứa và cây ăn quả có múi. Đây đều là những ngành hàng có lợi thế về điều kiện tự nhiên, đồng thời có dư địa lớn để áp dụng các giải pháp kỹ thuật giảm phát thải.
Mục tiêu đặt ra đến năm 2035 là giảm ít nhất 15% tổng lượng phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực trồng trọt so với năm cơ sở 2020. Song song với đó, 70% diện tích lúa áp dụng các quy trình canh tác giảm phát thải; 60% diện tích cây trồng cạn thực hiện quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM).
Đáng chú ý, lúa nước là nhóm cây trồng chiếm diện tích lớn nhất với khoảng 36.000 ha được tỉnh Lào Cai xác định là trọng tâm giảm phát thải. Các giải pháp như tưới ngập - khô xen kẽ (AWD), hệ thống canh tác cải tiến (SRI), mô hình “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm” không chỉ giúp tiết kiệm nước, giảm phát thải khí methane mà còn nâng cao năng suất, chất lượng hạt lúa.
Với rau an toàn và rau hữu cơ (diện tích khoảng 2.000 ha), tỉnh định hướng đẩy mạnh sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ; ứng dụng hệ thống tưới nhỏ giọt, quản lý sâu bệnh sinh học, sử dụng phân bón hữu cơ và tận dụng phụ phẩm để sản xuất compost. Đây là hướng đi phù hợp trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng thực phẩm sạch ngày càng gia tăng.
Vùng chè được canh tác theo hướng hữu cơ, ứng dụng kỹ thuật quản lý sinh học và tận dụng phụ phẩm, góp phần giảm phát thải, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.
Cây chè - một trong những sản phẩm chủ lực với quy mô khoảng 15.000 ha cũng đang được tái cấu trúc theo hướng xanh hơn. Việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh, quản lý cỏ bằng cơ học, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và áp dụng công nghệ sấy bằng năng lượng tái tạo được xem là những giải pháp then chốt nhằm giảm phát thải trong toàn chuỗi giá trị.
Các nhóm cây ăn quả ôn đới, cây có múi và chuối - dứa với tổng diện tích dự kiến 16.000 ha sẽ phát triển theo hướng sản xuất tập trung, đạt tiêu chuẩn VietGAP, hướng tới xuất khẩu. Cùng với đó là các giải pháp như không đốt phụ phẩm, tăng cường sử dụng phân compost, tưới tiết kiệm và quản lý sâu bệnh bằng phương pháp sinh học.
Riêng cây dược liệu - lĩnh vực giàu tiềm năng của vùng cao định hướng phát triển theo tiêu chuẩn GACP-WHO, canh tác hữu cơ, không sử dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật tổng hợp, góp phần nâng cao giá trị và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường.
Những chuyển biến trong nhận thức và thực hành
Không chỉ dừng lại ở quy hoạch, quá trình giảm phát thải đang được cụ thể hóa trên từng thửa ruộng, từng hộ sản xuất. Tại cơ sở, vai trò của hệ thống khuyến nông được thể hiện rõ nét trong việc chuyển giao kỹ thuật và thay đổi nhận thức của người dân.
Chị Đỗ Thanh Vân, cán bộ khuyến nông xã Mậu A cho biết: “Chúng tôi khuyến cáo bà con hạn chế sử dụng phân hóa học, tăng cường phân hữu cơ, phân vi sinh. Từ các phế phẩm như rơm rạ, thân ngô, cỏ dại, bà con có thể ủ thành phân hữu cơ để bón lại cho đồng ruộng. Cách làm này giúp cải tạo đất, tăng độ mùn để cây trồng sinh trưởng bền vững hơn”.
Cùng quan điểm, bà Đỗ Thị Diệu Thuý - Phó Phòng Kinh tế xã Trấn Yên nhấn mạnh vai trò của việc xử lý phụ phẩm nông nghiệp: “Toàn bộ phế phụ phẩm sau thu hoạch như thân cây, lá, rơm rạ đều được thu gom, ủ bằng men vi sinh theo quy trình kỹ thuật để trả lại dinh dưỡng cho đất. Đây là giải pháp vừa giảm phát thải, vừa tiết kiệm chi phí đầu vào cho người dân”.
Đáng chú ý, tại một số vùng sản xuất, mô hình nông nghiệp tuần hoàn đã bước đầu hình thành rõ nét. Phụ phẩm của cây trồng này trở thành đầu vào cho cây trồng khác, tạo nên chu trình khép kín. Sau mỗi vụ cà chua, toàn bộ thân, lá được tận dụng để cải tạo đất, phục vụ cho các vụ rau màu tiếp theo như su hào, bắp cải, súp lơ. Sự luân canh hợp lý giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đất và hạn chế sâu bệnh, giảm phụ thuộc vào hóa chất.
Tại xã Púng Luông, ông Phạm Tiến Lâm - Chủ tịch UBND xã cho biết địa phương kiên định với hướng đi nông nghiệp sạch: “100% vùng sản xuất đều sử dụng phân bón hữu cơ, gần như không dùng thuốc bảo vệ thực vật. Với các mô hình trồng hoa, chúng tôi yêu cầu các chủ vườn ký cam kết sử dụng vật tư đúng quy định và tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm trường hợp vi phạm”. Theo ông Lâm, vùng sản xuất an toàn của địa phương như rau màu, nấm, ớt, cà chua đã trở thành vùng sản xuất tuần hoàn khép kín.
Một trong những điểm đáng chú ý trong chiến lược giảm phát thải của Lào Cai là không tách rời yếu tố kỹ thuật với thị trường. Việc xây dựng nhãn hiệu “phát thải thấp” cho các sản phẩm nông nghiệp nhằm khẳng định giá trị môi trường và là chìa khóa để tiếp cận các thị trường khó tính như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc - nơi các tiêu chuẩn về phát thải, truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe.
Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2035 sẽ có ít nhất 1 - 2 sản phẩm chủ lực được chứng nhận phát thải thấp, mở rộng lên 3 - 5 ngành hàng vào năm 2050. Đây là bước đi mang tính chiến lược, gắn sản xuất với tiêu dùng xanh, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản địa phương.
Song song với đó, hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV) sẽ được thiết lập cho các ngành hàng như lúa, chè, chuối. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải liên thông với hệ thống quốc gia là nền tảng quan trọng để minh bạch hóa thông tin, đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu.
Hằng năm, các chương trình truyền thông về “tiêu dùng xanh” được triển khai nhằm thay đổi hành vi của người tiêu dùng, tạo động lực thị trường cho sản phẩm nông nghiệp thân thiện với môi trường.
Trong dài hạn, nông nghiệp phát thải thấp không chỉ góp phần thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam, mà còn mở ra hướng phát triển mới: tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường. Đó là con đường để nông nghiệp Lào Cai khẳng định vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu trên nền tảng xanh và bền vững.