Tà Chơ khát điện

Thôn Tà Chơ, xã Phình Hồ - nơi bốn mươi nóc nhà người dân tộc Mông với hơn hai trăm nhân khẩu vẫn chưa có ánh sáng điện lưới mỗi khi đêm về. Không có điện, cuộc sống đầy vất vả. Tuy vậy, khát vọng về ánh sáng chưa bao giờ tắt.

0:00 / 0:00
0:00
baolaocai-br_img-9549.jpg
Thôn Tà Chơ là thôn xa xôi, đặc biệt khó khăn của xã Phình Hồ.

Từ trung tâm xã Phình Hồ đến thôn Tà Chơ dài chừng hơn ba mươi cây số, trong đó quãng đường mười cây số cuối phải men theo tuyến đường núi hiểm trở, chỉ có thể di chuyển bằng xe máy. Tà Chơ là một trong những thôn xa xôi, đặc biệt khó khăn của xã đặc biệt khó khăn. Con đường dài mười cây số ấy như sợi chỉ mỏng vắt ngang lưng chừng núi; để vượt qua phải mất khoảng bốn mươi phút cầm lái xe máy, tay không rời phanh, mắt luôn dõi theo mép vực. Xe buộc phải cài số một, tiếng động cơ gầm rú suốt chặng đường ngoằn ngoèo, nhỏ hẹp và cheo leo.

baolaocai-bl_z7373618981818-3d12fa9e730b4f383bab089f040c72de.jpg
Đường lên thôn Tà Chơ rất nhỏ.

Chiều đông chậm rãi buông xuống những đỉnh núi cao, sương giá lặng lẽ tràn về từ các triền rừng, bao phủ không gian trong vẻ lạnh lẽo, hoang sơ. Trong căn nhà gỗ phải đóng kín mọi khe cửa để ngăn cái lạnh bên ngoài tràn vào, Hờ Thị Pàng chất thêm củi vào bếp lửa. Ngọn lửa nhỏ hắt ra thứ ánh sáng vàng vọt, hòa cùng ánh sáng yếu ớt từ bóng đèn điện được phát từ củ phát điện nước, treo lủng lẳng trên cột nhà, ánh sáng leo lét đủ soi mờ mờ khuôn mặt người phụ nữ Mông giữa buổi chiều bảng lảng. Và đó cũng sẽ là toàn bộ nguồn sáng trong mỗi ngôi nhà ở Tà Chơ khi đêm đen tìm về.

baolaocai-br_img-9571.jpg
Ánh sáng mờ nhạt trong ngôi nhà của chị Hờ Thị Pàng.

Chưa có điện lưới quốc gia, Tà Chơ chỉ có những củ phát điện nước công suất nhỏ, mà cũng chỉ chừng một nửa số hộ đủ khả năng sắm riêng; nhiều gia đình phải hai, ba hộ chung một củ máy. Thế nên, nguồn sáng cũng yếu lắm. Đêm đến, nơi lưng chừng núi này, trong mỗi căn nhà, chỉ có những đốm sáng mờ nhòa, yếu ớt trước bóng đêm dày đặc bao trùm, lạc lõng giữa núi rừng mênh mông. Không điện, cuộc sống của người Mông Tà Chơ còn đó nhiều vất vả.

baolaocai-br_img-9581.jpg
baolaocai-br_img-9552.jpg
baolaocai-br_dien.jpg
Tà Chơ chỉ có ánh sáng từ bóng đèn điện phát từ củ phát điện nước công suất nhỏ.

Hôm nay, anh Sùng Bla Chu phải mang thóc xuống tận dưới phố để xát. Mỗi chuyến đi như vậy, anh chỉ chở được khoảng 50 kg thóc trên chiếc xe máy đã cũ, vượt quãng đường xa và nhiều hiểm trở. Anh Chu bảo: "Trung bình mỗi tuần một lần chở thóc đi xát. Phải đi hôm trời không mưa, chứ mưa gió mà đi trên con đường này nguy hiểm lắm!". Không có điện, không thể có máy xay xát gạo, người Tà Chơ phải chở từng bao thóc xuống phố mà xát như thế. Thế nên, nhắc đến chuyện nếu có điện, điều đầu tiên Trưởng thôn Sùng A Súa nhắc đến là chuyện xát thóc này.

Có điện, tôi sẽ mua ngay máy xay xát gạo, vừa phục vụ gia đình, vừa để bà con thôn không phải chở thóc đi xát ở dưới phố nữa.

Trưởng thôn Sùng A Súa

Đó là ước mơ giản dị của người trưởng thôn. Chẳng phải những điều gì to tát, chỉ là chiếc máy xay xát để bà con không phải bám theo con đường núi với những bao thóc nặng nề trên từng chiếc xe máy cũ - để có gạo ăn.

baolaocai-br_img-9589-5250.jpg
Lãnh đạo và cán bộ xã Phình Hồ nắm bắt và trao đổi với người dân thôn Tà Chơ
về những khó khăn trong cuộc sống.

Ngoài lúa nương, người Tà Chơ còn có chè, măng sặt và quế. Cả thôn có hơn chục ha chè Shan tuyết, có những diện tích được trồng từ những năm 1990. Những lá chè uống sương, hứng nắng tự nhiên giữa núi rừng, ngon và giá trị dưỡng chất, nhưng không có điện, những lá chè thu hái được phải chở tươi xuống phố, bán đổ cho nơi thu mua với giá tám nghìn đồng mỗi cân.

baolaocai-br_img-9653.jpg
Tà Chơ có hơn chục ha chè.

Trưởng thôn Súa kể: Mỗi lần chỉ chở được một bao, khoảng năm mươi cân, bán được khoảng bốn trăm nghìn, thì đã hết năm mươi nghìn tiền xăng.

Nhà A Súa có hai nghìn mét vuông chè, mỗi vụ được khoảng ba tạ, phải chở năm, bảy lần đi bán. Một năm có ba vụ chè. Tính ra, mỗi năm, A Súa phải có chừng hai chục lần chở chè đi bán trên con đường như sợi chỉ ấy. Nhưng nếu có điện, chuyện bán chè sẽ không còn vất vả như vậy nữa.

Trưởng thôn Sùng A Súa lại sáng lên ánh mắt hi vọng về một tương lai khác của cây chè Tà Chơ khi có điện. "Có điện, mình sẽ sao chè. Nếu sao chè, chắc sẽ không phải mang đi bán nhiều lần như bán lá tươi nữa. Chưa kể, chè sao khô chắc chắn sẽ cho giá trị kinh tế cao hơn chè tươi nhiều".

Súa phấn chấn nói thêm: “Chuyện sao chè, anh Hải đã bàn với tôi rồi”.

baolaocai-br_img-9607.jpg
Phó Chủ tịch UBND xã Nguyễn Văn Hải (phải) trao đổi với
Trưởng thôn Tà Chơ - anh Sùng A Súa (trái) về định hướng phát triển cây chè.

Anh Hải là Phó Chủ tịch UBND xã Nguyễn Văn Hải - người đã nhiều lần vượt con đường ngoằn ngoèo ấy lên với Tà Chơ, nắm những khó khăn, vất vả của người Tà Chơ trong lòng bàn tay rồi.

Nếu có điện, xã sẽ cho bà con đi học kỹ thuật sao và chế biến chè Shan tuyết. Bởi nơi đây có hàng chục ha chè cổ thụ quý nhưng chưa được khai thác đúng giá trị. Khi có điện, bà con sẽ học cách làm ra sản phẩm đặc sản mang thương hiệu riêng của địa phương, từng bước phát triển kinh tế - Phó Chủ tịch xã Nguyễn Văn Hải sẻ chia về những dự định của xã với Tà Chơ.

Gia tăng được thu nhập từ cây chè Shan tuyết, rồi phát triển thêm diện tích măng sặt và diện tích quế đang được người dân trồng ngày một nhiều hơn, có lẽ đời sống kinh tế người Tà Chơ sẽ có thêm những khởi sắc mới.

baolaocai-br_img-9623.jpg
Gia tăng được giá trị cây chè Shan tuyết sẽ góp phần cải thiện thu nhập cho người Tà Chơ.

Ngoài chuyện hạt thóc, lá chè, sâu thẳm trong ánh mắt của người trưởng thôn có một khát khao khác về điện - khát khao về thông tin. Đến giờ, thứ duy nhất để kết nối với bên ngoài ở Tà Chơ là chiếc điện thoại. Nhưng ngoài chuyện lõm sóng khiến mạng internet chập chờn, không sóng nhiều hơn có sóng thì việc sạc pin cũng là cả một vấn đề.

"Phải tranh thủ sạc ban ngày, là lúc không thắp bất kỳ bóng đèn nào, để nguồn điện chỉ tập trung cho chiếc điện thoại. Nếu nước nhiều, củ phát điện chạy khỏe thì mất khoảng một giờ. Nếu điện chập chờn thì phải mất tới hai, ba giờ đồng hồ mới đầy pin. Chưa kể có những lúc điện không thể vào được, không thể sạc được" - Sùng A Súa kể.

Súa nói về những điều mong ước: Có điện, có tiền bán chè được nhiều hơn, người Tà Chơ sẽ sắm ti vi, để nghe tin tức thời sự, biết được chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được nhiều hơn, cập nhật nhiều nguồn thông tin chính thống hơn.

baolaocai-br_img-9649.jpg
Anh Sùng A Súa hy vọng đời sống sản xuất, kinh tế của người dân Tà Chơ
sẽ ngày một tốt đẹp hơn.

Ở Tà Chơ, có lẽ Trưởng thôn Sùng A Súa là một trong những người đi xuống phố nhiều nhất. Trên hành trình ấy, anh bắt gặp ánh đèn đêm rực rỡ nơi phố phường, những con đường sáng trắng trải dài, những cửa hàng ngập tràn ánh huỳnh quang chói lòa, những ngôi nhà với ánh đèn ấm áp tràn ra từ khung cửa sổ. Anh ao ước bản mình một ngày cũng có ánh sáng điện lưới quốc gia. Với Súa và người Tà Chơ, có điện không chỉ là có nguồn sáng lúc đêm về, đó còn là tia sáng hy vọng cho những ước mơ về đời sống, về sản xuất ngày càng tốt đẹp hơn, từ những điều giản dị nhất.

baolaocai-br_truong-ta-cho.jpg
baolaocai-br_img-9676.jpg
Những khoảnh khắc cuộc sống bình yên ở Tà Chơ.

Đêm lặng lẽ buông xuống Tà Chơ. Nơi lưng chừng núi ấy, những đốm sáng mờ nhạt leo lét dưới các nóc nhà, yếu ớt và mong manh giữa bóng đêm bao la. Thế nhưng, ẩn sau mỗi ánh sáng mờ nhạt ấy là những niềm tin và những khát vọng vươn lên chưa bao giờ tắt. Đó là niềm tin về một ngày Tà Chơ sẽ sáng lên, từ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, không chỉ bằng ánh điện, mà bằng cả những ước mơ, những hy vọng về cuộc sống tốt đẹp hơn của người Mông nơi đỉnh núi xa xôi này.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Những phụ nữ Dao cùng nhau thu hoạch vỏ quế tươi.

Xuân ấm bản Dao

Những con đường bê tông uốn lượn dẫn vào các bản người Dao như đẹp hơn bởi sắc đào đỏ thắm xen lẫn màu xanh ngút ngàn của những rừng quế. Những căn nhà khang trang đầy ắp tiếng cười. Một mùa xuân ấm no, yên bình đang gõ cửa từng nếp nhà.

“Dân vận khéo” - “đòn bẩy” trong phát triển kinh tế, giảm nghèo ở Mù Cang Chải

“Dân vận khéo” - “đòn bẩy” trong phát triển kinh tế, giảm nghèo ở Mù Cang Chải

Thời gian qua, phong trào thi đua “Dân vận khéo” trên địa bàn xã Mù Cang Chải được triển khai đồng bộ, gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới của địa phương. Với những cách làm linh hoạt, sát thực tiễn, nhiều mô hình kinh tế hiệu quả đã được hình thành, nhân rộng, góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống Nhân dân và tạo chuyển biến tích cực ở cơ sở.

 Nông dân Quyết Tâm vào vụ Tết

Nông dân Quyết Tâm vào vụ Tết

Những ngày cận Tết, không khí sản xuất tại thôn Quyết Tâm, xã Bảo Thắng trở nên nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Trên khắp các cánh đồng, bà con tập trung chăm sóc, thu hoạch rau xanh và hoa lay ơn phục vụ thị trường. Sản xuất vụ đông đang trở thành hướng phát triển kinh tế chủ lực, góp phần nâng cao thu nhập và tạo việc làm ổn định cho người dân địa phương.

“Đòn bẩy” giúp nông dân phường Nghĩa Lộ vươn lên phát triển sản xuất

“Đòn bẩy” giúp nông dân phường Nghĩa Lộ vươn lên phát triển sản xuất

Năm 2025, phường Nghĩa Lộ còn 160 hộ nghèo, chiếm 3,46% và 103 hộ cận nghèo chiếm 2,23% - những con số cho thấy thách thức giảm nghèo bền vững vẫn hiện hữu. Trước thực tế đó, việc tạo “đòn bẩy” hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và chủ động vươn lên thoát nghèo là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của cả hệ thống chính trị địa phương.

Gặp triệu phú dâu tằm ở Trấn Yên

Gặp triệu phú dâu tằm ở Trấn Yên

Dân gian có câu: “Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng” ý nói sự vất vả, bận rộn của nghề trồng dâu nuôi tằm. Vậy nhưng cái nghề vất vả này đang được nhiều hộ dân ở các thôn trên địa bàn xã Trấn Yên chọn làm hướng thoát nghèo và vươn lên làm giàu…

Mỏ Vàng nâng cao giá trị nông, lâm nghiệp

Mỏ Vàng nâng cao giá trị nông, lâm nghiệp

Là xã vùng cao còn nhiều khó khăn của tỉnh Lào Cai, Mỏ Vàng phải đối mặt với địa hình chia cắt, hạ tầng chưa đồng bộ, đời sống người dân còn không ít khó khăn, vất vả. Thế nhưng, bằng quyết tâm chính trị cao và cách làm linh hoạt, phát huy hiệu quả tiềm năng đất đai, rừng và thế mạnh cây quế, năm 2025 kinh tế nông, lâm nghiệp của xã tiếp tục giữ đà tăng trưởng, tạo nền tảng nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân.

Nối mạch giao thông trên núi dốc

Nối mạch giao thông trên núi dốc

Do địa hình đồi núi dốc, việc đầu tư hạ tầng giao thông tại xã Chế Tạo gặp nhiều khó khăn, chi phí lớn. Không trông chờ vào nguồn lực Nhà nước, người dân đã chủ động góp công, góp của mở nên những tuyến đường đặc thù, rộng 80 cm đến 1 mét, men theo sườn núi. Dù nhỏ hẹp, những con đường ấy chính là “cao tốc” của bà con - kết nối các bản làng giữa đại ngàn, mở lối cho phát triển và đổi thay.

Nậm Dù hướng đến trở thành miền quê đáng sống

Nậm Dù hướng đến trở thành miền quê đáng sống

Cùng cán bộ xã Xuân Quang, từ quốc lộ, chúng tôi rẽ vào ngõ nhỏ mà người dân thôn Nậm Dù quen gọi với cái tên thân thuộc - “ngõ nhà văn hóa”. Đường ngõ được đổ bê tông, dọc hai bên là những ngôi nhà xây khang trang, sạch đẹp, hàng cây xanh cắt tỉa gọn gàng, điểm xuyết vài sắc hồng, sắc tím của hoa giấy và những khóm hoa hồng tỏa hương thơm dịu. Làng quê yên ả và thanh bình hiện diện từ mô hình “10 hộ liền kề, ngõ văn minh”.

“Cánh tay nối dài” của ngành nông nghiệp tại cơ sở

“Cánh tay nối dài” của ngành nông nghiệp tại cơ sở

Trong những năm qua, các tổ khuyến nông cộng đồng đã khẳng định rõ nét vai trò là cầu nối giữa Nhà nước, nhà khoa học và nhà nông trong việc chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh gắn với thị trường. Đây được xem là những “cánh tay nối dài” của ngành nông nghiệp tại cơ sở, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững.

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thăm, hỗ trợ mô hình nuôi cá rô phi tại xã Khánh Yên

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thăm, hỗ trợ mô hình nuôi cá rô phi tại xã Khánh Yên

Chiều 11/2, Đoàn công tác của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia do ông Lê Quốc Thanh - Giám đốc Trung tâm làm trưởng đoàn đã đến thăm, nắm tình hình và trao hỗ trợ thức ăn thủy sản cho các hộ tham gia Dự án mô hình nuôi bán thâm canh cá rô phi trong ao gắn với liên kết tiêu thụ cho hộ nghèo, cận nghèo tại xã Khánh Yên.

Những bãi bồi cho hoa thơm, trái ngọt

Những bãi bồi cho hoa thơm, trái ngọt

Những ngày cuối năm, khi sương sớm còn giăng mờ mặt nước sông Hồng, các bãi bồi ven sông đã “khoác” lên mình màu xanh mướt. Sau những tháng ngày oằn mình gánh chịu mưa lũ, bùn đất từng bị vùi lấp, những bãi bồi dường như đang hồi sinh. Từng luống ngô non vươn mình trong gió lạnh, những giàn bí, luống rau trải dài theo triền bãi, mang theo cảm giác yên bình rất đặc trưng của vùng ven sông.

Con đường thoát nghèo ở Tà Xi Láng

Con đường thoát nghèo ở Tà Xi Láng

Với quyết tâm thoát nghèo bền vững và thu hẹp khoảng cách phát triển, xã vùng cao đặc biệt khó khăn Tà Xi Láng - địa phương có tỷ lệ hộ nghèo thuộc tốp cao của tỉnh đang từng bước tìm hướng đi phù hợp với đặc thù của địa phương.

Xuân sắc Võ Lao

Xuân sắc Võ Lao

Vùng đất Võ Lao gọi xuân mới về mang theo sắc trời trong trẻo, khiến hương đất ấm nồng sau những ngày đông lạnh giá, nhịp sống rộn ràng hiển hiện trên vùng quê trù phú.

Hiệu quả mô hình liên kết sản xuất khoai tây vụ đông ở Khánh Yên

Hiệu quả mô hình liên kết sản xuất khoai tây vụ đông ở Khánh Yên

Từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, vụ đông năm nay, xã Khánh Yên đã triển khai mô hình liên kết trồng khoai tây với doanh nghiệp trên diện tích 6,5 ha. Mô hình bước đầu cho thấy hiệu quả rõ nét khi năng suất cao, đầu ra ổn định, góp phần nâng cao thu nhập và tạo tiền đề mở rộng sản xuất trong những vụ tiếp theo.

Đòn bẩy giảm nghèo ở Mỏ Vàng

Đòn bẩy giảm nghèo ở Mỏ Vàng

Đường vào Mỏ Vàng - xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai, những ngày cuối năm vẫn gập ghềnh, quanh co, nhưng nơi đây đã hiện hữu sự khởi sắc, bởi nhiều gia đình mạnh dạn chăn nuôi, phát triển kinh tế hiệu quả, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.

Để Lào Cai trở thành trung tâm dược liệu quốc gia

Để Lào Cai trở thành trung tâm dược liệu quốc gia

Ôm trọn dãy Hoàng Liên Sơn, Lào Cai sở hữu hệ sinh thái đặc thù - môi trường lý tưởng của hàng trăm loài dược liệu quý. Từ lợi thế đó, những năm qua, tỉnh đã từng bước hình thành vùng trồng dược liệu với hơn 6.500 ha, sản lượng khoảng 30.000 tấn mỗi năm, tổng giá trị ước gần 900 tỷ đồng.

fb yt zl tw