Trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng các hình thái thiên tai cực đoan, việc nâng cao năng lực phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai cho cộng đồng không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết.
Trong hai năm 2024 và 2025, thiên tai đã gây thiệt hại kinh tế ước tính hơn 59.000 tỷ đồng. Trong ảnh: Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An giúp người dân dọn dẹp nhà cửa sau mưa lũ.
Thiên tai khốc liệt và những con số cảnh báo
Trong hai năm 2024 - 2025, thiên tai tại Việt Nam diễn biến đặc biệt phức tạp, cực đoan và vượt ngoài nhiều kịch bản dự báo. Riêng khu vực miền núi phía Bắc-nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục là “điểm nóng” về rủi ro thiên tai, chịu tác động nặng nề nhất cả về người, tài sản và sinh kế.
Theo Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), miền núi phía Bắc là khu vực có mức độ rủi ro thiên tai thuộc nhóm cao nhất cả nước (bao gồm 9 tỉnh sau sáp nhập, gồm: Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên). Với địa hình dốc, chia cắt mạnh, dân cư sinh sống dọc sườn núi, ven suối; hệ thống hạ tầng còn hạn chế; sinh kế phụ thuộc lớn vào nông, lâm nghiệp tự nhiên, khiến khu vực này đặc biệt dễ bị tổn thương trước mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất. Số liệu thiệt hại trong hai năm 2024-2025 cho thấy bức tranh rất rõ về mức độ tác động nghiêm trọng của thiên tai đối với khu vực này. Theo đó, trong hai năm vừa qua, thiên tai làm 501 người sinh sống ở vùng miền núi phía Bắc thiệt mạng và mất tích. Ngoài ra, thiên tai trong hai năm còn làm hơn 4.000 căn nhà bị thiệt hại hoàn toàn.
Sinh kế của người dân khu vực này bị ảnh hưởng nghiêm trọng với hơn 141.000ha lúa, hơn 52.000ha hoa màu và hàng chục nghìn ha cây ăn quả, cây trồng lâu năm bị thiệt hại. Không chỉ vậy, hơn 52.000 con gia súc, hơn 2,5 triệu con gia cầm và gần 12.000ha nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại. Ước tính tổng thiệt hại kinh tế gây ra cho vùng miền núi phía Bắc xấp xỉ 59.126 tỷ đồng.
Những con số nói trên không chỉ phản ánh mức độ tàn phá của thiên tai, mà còn cho thấy mức độ dễ bị tổn thương của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với đặc điểm địa hình chia cắt mạnh; dân cư sống phân tán; hệ thống hạ tầng và khả năng tiếp cận thông tin còn nhiều hạn chế.
Cánh đồng lúa xanh tốt của người dân xã Trịnh Tường (cũ), tỉnh Lào Cai bị đất đá vùi lấp sau mưa lũ năm 2024 khiến sinh kế của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Từ “ứng phó bị động” đến “chủ động phòng ngừa”
Thực tế cho thấy, nếu chỉ tập trung vào cứu trợ sau thiên tai thì không thể bù đắp được những mất mát về con người, cũng như những tổn thương kéo dài đối với sinh kế và phát triển bền vững. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh từ tư duy ứng phó sang tư duy phòng ngừa, từ giải pháp ngắn hạn sang đầu tư nâng cao năng lực dài hạn cho cộng đồng.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, ngày 16/1/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo ban hành Chương trình phối hợp số 01/CTPH-BNNMT-BDTTG, triển khai trong giai đoạn 2026-2030. Chương trình là sự hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc và phòng, chống thiên tai. Mục tiêu cốt lõi của chương trình là nâng cao nhận thức, năng lực và tính chủ động của cộng đồng, coi người dân vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là chủ thể trung tâm trong phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai. Thay vì tiếp cận đơn ngành, chương trình đặt trọng tâm vào phối hợp liên ngành, kết nối giữa quản lý Nhà nước về thiên tai với chính sách dân tộc, tôn giáo, các chương trình mục tiêu quốc gia, phát triển sinh kế và ổn định dân cư.
Một trong những nội dung trọng tâm của chương trình là nâng cao năng lực phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai cho cộng đồng vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Theo đó, các hoạt động được thiết kế bài bản, từ đánh giá nhu cầu thực tế đến tổ chức đào tạo, tập huấn và thực hành tại chỗ. Điểm nhấn đáng chú ý là việc tích hợp kiến thức khoa học hiện đại với tri thức bản địa. Những kinh nghiệm truyền thống địa phương về phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai được nghiên cứu, chắt lọc để đưa vào tài liệu hướng dẫn phù hợp với từng loại hình thiên tai, từng nhóm đối tượng khác nhau. Song song với đó, chương trình đặc biệt coi trọng vai trò của lực lượng xung kích cấp cơ sở, đội ngũ già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc tôn giáo, phụ nữ và thanh thiếu niên.
Cán bộ Đồn Biên phòng Y Tý, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai phối hợp với chính quyền địa phương tìm kiếm nạn nhân trong vụ sạt lở đất do ảnh hưởng của bão Yagi năm 2024 tại thôn Phìn Chải 2, xã A Lù (cũ), nay là xã Y Tý.
Trên thực tế, nhiều rủi ro thiên tai trở nên nghiêm trọng hơn do thiếu thông tin kịp thời hoặc thông tin không phù hợp với ngôn ngữ, văn hóa địa phương. Vì vậy, chương trình phối hợp dành một hợp phần riêng cho công tác thông tin, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng. Các ấn phẩm truyền thông được biên soạn bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số, hình thức trực quan, dễ hiểu; kết hợp đa dạng phương thức truyền thông truyền thống và hiện đại. Đáng chú ý, chương trình khuyến khích ứng dụng chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong truyền thông phòng, chống thiên tai, mở ra hướng tiếp cận mới để thông tin đến được những vùng sâu, vùng xa, khó tiếp cận.
Nâng cao năng lực cộng đồng không thể tách rời việc đảm bảo an toàn về cơ sở vật chất. Chương trình phối hợp xác định rõ các nhiệm vụ ưu tiên: Đầu tư ổn định dân cư; xây dựng, nâng cấp công trình chống sạt lở; phát triển các công trình, nơi ở an toàn phục vụ sơ tán khi có thiên tai. Một điểm mới của chương trình là cơ chế huy động, điều phối hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước, đặc biệt là sự tham gia của các tổ chức quốc tế, đối tác phát triển.
Trong bối cảnh thiên tai ngày càng khó lường, chương trình phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường với Bộ Dân tộc và Tôn giáo không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà còn là cam kết chính trị-xã hội mạnh mẽ đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Với việc chuyển từ tư duy “chống đỡ” sang “chủ động phòng ngừa”, từ hỗ trợ ngắn hạn sang nâng cao năng lực dài hạn, chương trình được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển căn bản trong phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai ở khu vực đặc thù này. Qua đó góp phần hình thành những cộng đồng an toàn trước thiên tai, giảm thiểu tổn thất về người, tài sản, bảo vệ sinh kế và tạo nền tảng cho phát triển bền vững, bao trùm, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.