Lào Cai là địa bàn có nhiều xã vùng cao, miền núi, điều kiện tự nhiên còn nhiều khó khăn. Đời sống của một bộ phận người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn chịu tác động lớn từ tập quán sản xuất nhỏ lẻ và hạn chế về sinh kế. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu công tác giảm nghèo không chỉ dừng lại ở hỗ trợ trước mắt mà phải đi vào chiều sâu, tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn căn cơ, trong đó có hạn chế về thông tin trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Những năm gần đây, mô hình hợp tác xã đang từng bước phát huy vai trò là “bệ đỡ”, góp phần giúp người dân giảm nghèo theo hướng bền vững. Phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã được xác định là hướng đi phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Toàn tỉnh hiện có 1.442 hợp tác xã với 41.819 thành viên, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, trong đó có 820 hợp tác xã nông nghiệp gắn trực tiếp với sinh kế của người dân nông thôn, vùng cao. Cùng với đó, 8.411 tổ hợp tác với hơn 31.680 thành viên đang hoạt động đã góp phần huy động hiệu quả nguồn lực đất đai, lao động tại chỗ, từng bước thay đổi tập quán sản xuất manh mún, tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân.
Khác với phương thức sản xuất nhỏ lẻ trước đây, hợp tác xã đã tập hợp các hộ dân vào một tổ chức sản xuất chung, giúp người dân tiếp cận thông tin về quy trình kỹ thuật, giống cây trồng, thời vụ, tiêu chuẩn chất lượng và nhu cầu thị trường. Đây là yếu tố then chốt trong thực hiện mục tiêu “giảm nghèo về thông tin”, giúp người dân chuyển từ sản xuất tự phát sang sản xuất có liên kết, gắn với nhu cầu thị trường.
Trong bức tranh chung đó, Hợp tác xã nông nghiệp sạch T&D, ở xã Mù Cang Chải, là một mô hình tiêu biểu. Hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực sản xuất rau, củ, quả, trong đó su su được xác định là cây trồng chính, phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng vùng cao.
Hiện nay, Hợp tác xã nông nghiệp sạch T&D tổ chức liên kết sản xuất tại xã Lao Chải và xã Mù Cang Chải với tổng diện tích khoảng 15 ha, thu hút 50 - 70 hộ dân tham gia.
Thông qua hợp tác xã, người dân được hướng dẫn sản xuất theo quy trình thống nhất, bảo đảm chất lượng và an toàn thực phẩm, đồng thời được kết nối tiêu thụ sản phẩm.
Trung bình mỗi ngày, hợp tác xã tiêu thụ khoảng 10 tấn nông sản tại các chợ đầu mối và các bếp ăn tập thể trong và ngoài tỉnh, qua đó tạo việc làm và thu nhập thường xuyên cho người lao động địa phương.
Việc liên kết sản xuất theo vùng tập trung, gắn với bao tiêu đầu ra đã giúp nâng cao giá trị nông sản, tạo tâm lý yên tâm gắn bó với sản xuất, từng bước cải thiện đời sống và hạn chế nguy cơ tái nghèo.
Năm 2023, sản phẩm su su bao tử của Hợp tác xã nông nghiệp sạch T&D được công nhận đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao, khẳng định chất lượng, quy trình sản xuất và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Không dừng lại ở tổ chức sản xuất, hợp tác xã còn là kênh quan trọng giúp người dân tiếp cận thông tin thị trường, từng bước làm quen với phương thức tiêu thụ mới, mở rộng kênh bán hàng, giảm phụ thuộc vào thương lái. Việc “xóa đói thông tin” đã giúp người dân chủ động hơn trong sản xuất, không còn tâm lý trông chờ, ỷ lại.
Cùng với các hợp tác xã, Liên minh Hợp tác xã tỉnh giữ vai trò quan trọng trong tư vấn, hỗ trợ, đào tạo và xúc tiến thương mại. Thông qua việc giới thiệu sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương tại các hội chợ trong và ngoài tỉnh; tổ chức các lớp tập huấn về quản trị, pháp luật và chuyển đổi số, năng lực tổ chức sản xuất và tiếp cận thị trường của khu vực kinh tế tập thể từng bước được nâng lên.
Hiện nay, thu nhập bình quân của người lao động làm việc thường xuyên trong khu vực hợp tác xã đạt trên 60 triệu đồng/người/năm, cao hơn mặt bằng sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ ở nhiều địa bàn vùng cao.
Ông Phạm Quang Thọ - Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp sạch T&D cho biết: Trước đây, bà con sản xuất manh mún, đầu ra bấp bênh. Khi tham gia hợp tác xã, người dân được hướng dẫn sản xuất theo quy trình, được cung cấp thông tin thị trường và kết nối tiêu thụ sản phẩm. Nhờ đó, thu nhập ổn định hơn, nhiều hộ từng bước thoát nghèo”.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhu cầu tiếp cận vốn của các hợp tác xã vẫn rất lớn, trong khi nguồn vốn hỗ trợ hiện nay chưa đáp ứng hết nhu cầu mở rộng sản xuất, nhất là đối với các hợp tác xã ở vùng cao, vùng khó khăn.
Theo ông Thọ, hiện nay, khó khăn lớn nhất của hợp tác xã vẫn là nguồn vốn và quỹ đất để mở rộng sản xuất. Thời gian tới, hợp tác xã mong muốn mở rộng vùng sản xuất, phát triển thêm cà chua và một số cây trồng dược liệu, qua đó đa dạng hóa sinh kế, nâng cao đời sống cho người lao động địa phương.
Từ thực tiễn các mô hình hợp tác xã cho thấy, khi người dân được tiếp cận đầy đủ thông tin về kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và thị trường tiêu thụ, sinh kế được hình thành theo hướng bền vững, nguy cơ tái nghèo từng bước được hạn chế.
Thời gian tới, việc tiếp tục nhân rộng các mô hình hợp tác xã hoạt động hiệu quả, gắn với đào tạo nghề, chuyển đổi số và tăng cường liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm sẽ là hướng đi phù hợp, góp phần thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Lào Cai.