Hình ảnh ngựa trong văn học trung đại

Trong dòng chảy văn học trung đại, hình ảnh con ngựa không chỉ là phương tiện di chuyển thuần túy. Ngựa mang trong mình chiều sâu biểu tượng: nhịp chân của lịch sử, tiếng vó của chia ly, bụi đường quan lộ và khí phách của kẻ sĩ. Ở tầng cao hơn, đó còn là hình ảnh ẩn dụ cho một đất nước qua từng thời đại. Nhân dịp năm mới, chúng tôi có cuộc trò chuyện với nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường, hiện công tác tại Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An.

30331d19-fa35-45e0-a6b8-e8494b2c.jpg
Trong văn học trung đại, ngựa không chỉ là phương tiện, mà còn là biểu tượng lịch sử, chia ly và khí phách kẻ sĩ.

Ngựa của lịch sử

Theo nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường, trong mảng văn chương gắn với sự nghiệp giữ nước của cha ông, ngựa xuất hiện trước hết như biểu tượng của tốc độ, binh đao và vận mệnh quốc gia. Hai câu thơ nổi tiếng của Trần Nhân Tông sau chiến thắng Bạch Đằng: “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá; Non sông nghìn thuở vững âu vàng” là một cách “nói chuyện lớn” rất tiêu biểu của thời đại.

“Ở đây, “ngựa đá” không hí vang, không phi nước đại, chỉ đứng im mà vẫn “mệt”. Cái mệt của tượng ngựa thực chất là cái mệt của xã tắc sau hai phen binh lửa, hai lần dựng lại trật tự. Đặt “thạch mã” bên “kim âu”, nhà vua tạo nên một thế đối tinh tế: ngựa kéo theo ký ức quốc nạn, còn âu vàng neo lại ý thức về một nền vững bền thiên cổ. Ngựa chiến thắng, nhưng cũng là ngựa của vết thương”, anh Cường phân tích.

Hình ảnh ngựa trong Chinh phụ ngâm lại nghiêng hẳn về phía thương cảm: “Dòng nước sâu ngựa nản chân bon…”; “Tên reo đầu ngựa giáo dan mặt thành…”, cho thấy ngựa là chiếc bản lề chuyển cảnh, từ lòng người ở hậu phương sang bước chân người nơi sa mạc gió cát.
Hình ảnh ngựa trong Chinh phụ ngâm lại nghiêng hẳn về phía thương cảm: “Dòng nước sâu ngựa nản chân bon…”; “Tên reo đầu ngựa giáo dan mặt thành…”, cho thấy ngựa là chiếc bản lề chuyển cảnh, từ lòng người ở hậu phương sang bước chân người nơi sa mạc gió cát.

Sang văn chính luận, hình ảnh ngựa mang giọng điệu đanh gọn, giàu sức công kích. Trong Bình Ngô đại cáo, những tướng giặc được “cấp thuyền”, “phát ngựa” mà vẫn hồn bay phách lạc. Ngựa lúc này không còn là khí giới của anh hùng, mà trở thành đạo cụ của nỗi nhục bại trận. Cùng một con vật, nhưng ngựa của chính nghĩa khác hẳn ngựa của phi nghĩa một ranh giới đạo lý rất đậm chất Việt Nam.

Nếu nhắc đến một “câu ngựa” quen thuộc với nhiều thế hệ, đó là hình ảnh trong Hịch tướng sĩ, tinh thần xả thân được khắc bằng thứ ngôn ngữ quân lệnh mà vẫn chứa chan cảm xúc: “Nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”. Môt hình ảnh vừa cổ lại vừa thực, bởi ngựa là bạn đường của binh gia, nên cái chết cũng gắn liền với vó ngựa. Hay như, trong Chinh phụ ngâm, ngựa lại nghiêng hẳn về phía thương cảm: “Dòng nước sâu ngựa nản chân bon…”; “Tên reo đầu ngựa giáo dan mặt thành…”, cho thấy ngựa là chiếc bản lề chuyển cảnh, từ lòng người ở hậu phương sang bước chân người nơi sa mạc gió cát. Chỉ một chữ “ngựa” mà ta nghe được cả độ dài của chiến địa (muôn dặm), độ dày của khổ ải (gió lạnh, nước sâu), và độ mỏi của kiếp người (chồn, nản, dãi dầu). Nếu trong thơ chiến thắng, ngựa là tiếng vó của hào hùng, thì trong ngâm khúc, ngựa là tiếng vó của mỏi mòn đau đáu.

“So sánh với thơ Đường Trung Hoa nơi chiến mã thường gắn với biên tái, cát tuyết có thể thấy văn học trung đại Việt Nam luôn “kéo” ngựa về gần đạo lý lịch sử. Không chỉ tả cảnh, thơ Việt còn đặt câu hỏi: đánh để làm gì, máu này đổi lấy điều gì cho sông núi. Vì thế, ngựa thường đi cùng những từ khóa như xã tắc, sơn hà, trung hiếu, nước nhà”, nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường so sánh.

Ngựa của sứ trình và quan lộ

Cũng theo nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường, ngoài chiến chinh, ngựa xuất hiện dày đặc trong thơ đi sứ, đi trấn nhậm một mảng rất phong phú của văn học trung đại Việt Nam. Ở đây, ngựa ít khi là chiến mã, mà là ngựa đường dài: biết mệt, biết dừng, kéo theo nắng chiều và chén rượu biệt ly. Danh sĩ Nguyễn Trung Ngạn viết: “Tạm biệt kinh thành đi sứ Hoa; Bên đình dừng ngựa nắng chưa tà.”. Chỉ hai chữ “trú mã” đã dựng được cả không khí: một đình vắng, mặt trời chưa xế, người lên đường tạm dừng cương và cái dừng ấy làm hiện hình nỗi xa xôi. Trong thơ sứ trình, ngựa không cần “phi” chỉ cần đứng lại là đủ gợi ra cái vực giữa chân trời và góc bể.

Cũng theo nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường, ngoài chiến chinh, ngựa xuất hiện dày đặc trong thơ đi sứ, đi trấn nhậm một mảng rất phong phú của văn học trung đại Việt Nam.
Cũng theo nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường, ngoài chiến chinh, ngựa xuất hiện dày đặc trong thơ đi sứ, đi trấn nhậm một mảng rất phong phú của văn học trung đại Việt Nam.

Cũng theo hướng đó, những nhà Nho như Phạm Hy Lượng, Trần Bích San… đều cho thấy “ngựa” là một đơn vị đo tâm trạng. “Tẩu mã hoài hương tục” làm chúng ta liên tưởng thú vị: ngựa chạy mà lòng thì quay về phong tục quê nhà; càng đi nhanh, nhớ càng rõ. Nho sĩ Lê Quả Dục thì dùng “xa trần mã tích” để tả Hà Nội đổi khác: bụi xe, vết ngựa “huyên thiên địa”, bởi ngựa lúc này là dấu chân của đô hội hóa, của biến động xã hội, của một thời cuộc khiến người về thăm chốn cũ mà “cựu du vô xứ”.

Đặc biệt, trong thơ và phú cuối Lê đầu Nguyễn, khi ý thức “thời thế” trở nên nhức nhối, ngựa càng hay được kéo vào những câu cảm hoài. Nho sĩ Lê Quýnh trong bài Bắc Sở tự tình phú có nhắc “bể bắc chưa sinh sừng ngựa” như một điển cố kiểu “bao giờ cho đến bao giờ”, rồi lại tự trấn an: “dẫu gọi mình là trâu là ngựa…”. Ngựa ở đây không còn là con vật cụ thể nữa, mà thành thước đo của nhẫn nhục, khí tiết và nỗi lưu đày nơi đất khách. Đối chiếu sang hai quốc gia đồng văn là Nhật Bản và Triều Tiên, ta cũng gặp “ngựa đường xa” nhưng sắc thái khác. Thơ haiku Nhật thường “tiết kiệm” hình ảnh: chỉ một bóng ngựa cũng đủ làm bật mùa và khoảnh. Còn thơ Triều Tiên rất chuộng không khí “dịch quán sứ lộ” giống nước ta, nhưng thường nhấn mạnh lễ nghi, quy củ và tâm thế “trung quân” trong quan hệ triều cống. Thơ đi sứ Việt Nam thì bên cạnh quy phạm, vẫn hay chảy tràn một mạch tự tình, thậm chí “ngang” và “ngông” khi mà ngựa chở không chỉ thân phận, mà chở cả cái tôi.

Ngựa trong triết lý sống

Nếu chiến chinh làm ngựa gầm lên, quan lộ làm ngựa mỏi, thì ẩn dật lại làm ngựa… biến mất. Nhưng chính sự vắng mặt ấy lại là một cách hiện diện đầy ý nghĩa. Bài “Ẩn giả” của Thái Thuận có câu: “Môn vô xa mã thảo thường xuân”. Không xe ngựa nghĩa là không quan khách, không vòng danh lợi, cỏ trước ngõ vì thế “thường xuân”. Ngựa ở đây là ký hiệu của phồn hoa. Muốn nói “ta đã rời bụi đỏ”, nhưng ông chỉ cần nói: nhà ta không còn vết xe, dấu ngựa. Một nét bút, mà dựng được cả một hệ giá trị đối lập: tục - thanh, tĩnh - động, đủ -thiếu. Ngựa không còn là “mã” của chiến trường, mà là “mã” của xã hội, tức cái thứ ồn ào mà người ta lựa chọn bước ra.

Ngựa giúp văn chương Việt nối vào mạch biểu tượng Đông Á (thiên lý mã, sứ lộ, dịch quán, biên tái), nhưng vẫn giữ giọng riêng.
Ngựa giúp văn chương Việt nối vào mạch biểu tượng Đông Á (thiên lý mã, sứ lộ, dịch quán, biên tái), nhưng vẫn giữ giọng riêng.

Ngay cả khi không nói thẳng chữ “mã”, văn Nôm trung đại cũng đầy “xe ngựa” như một cách nói về trật tự giai tầng và nhịp sống đô hội. Trong Truyện Kiều, “xe ngựa” vừa là phông nền của hội hè, vừa là dấu hiệu quyền thế, vừa là tiếng động của cuộc đời đẩy người đi. Cái hay là: trong văn chương Việt, hình ảnh ngựa thường mang theo âm thanh (tiếng hí, tiếng roi, tiếng vó) và bụi (xa trần). Nó khiến thế giới trung đại không chỉ “đẹp như tranh”, mà còn ồn và thật, có hơi thở của đời sống thường nhật.

Ngựa giúp văn chương Việt nối vào mạch biểu tượng Đông Á (thiên lý mã, sứ lộ, dịch quán, biên tái), nhưng vẫn giữ giọng riêng: thường quy về đạo lý sơn hà, nỗi nhớ cố quốc và tình thế cụ thể của một dân tộc nhiều lần chống xâm lăng. Và đặc biệt, bài thơ “Đề bức tranh Đường Minh Hoàng tắm ngựa”, chúng ta thấy tác giả Chu Đường Anh đã vạch rõ một lát cắt trực diện vào toàn bộ “huyền thoại về ngựa”: ngựa có thể đẹp đến mê người, quý đến mức được tắm rửa, dắt sát thềm son; nhưng đẹp và quý đến đâu cũng chỉ là cái ngọn.

Nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường (bên phải) trong một lần nghiên cứu về Đạo sắc phong có liên quan tới người vẽ bản đồ Hoàng Sa Trường Sa năm 1774.
Nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường (bên phải) trong một lần nghiên cứu về Đạo sắc phong có liên quan tới người vẽ bản đồ Hoàng Sa Trường Sa năm 1774.

Bởi, văn chương cuối cùng thì vẫn quay về một điểm rất giản dị: con người luôn là gốc. Ngựa có thể là chiến công, là công danh, là phồn hoa, là tốc độ của thời thế; nhưng tất cả chỉ có ý nghĩa khi nó phục vụ cho một điều căn bản hơn: làm cho lòng người bớt nhàu, lê dân bớt khổ. Một triều đại biết “yêu người”, một nền văn hóa biết “trọng người”, thì tiếng vó ngựa mới không hóa thành tiếng dẫm nát; và bụi “xa trần mã tích” mới không che mờ đi gương mặt của dân. Văn học trung đại Việt Nam vì thế có thể gọi là chỉ 1 chữ Ngựa có thể kéo theo cả một thời đại.

daidoanket.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Đặc sắc ẩm thực của người Thái ở Mường Lò

Đặc sắc ẩm thực của người Thái ở Mường Lò

Ẩm thực của người Thái ở Mường Lò hấp dẫn thực khách từ những nguyên liệu gần gũi, cách chế biến khéo léo và sự hòa quyện tinh tế của các loại gia vị. Mỗi món ăn mang hương vị riêng, góp phần làm nên sức cuốn hút của vùng đất nổi tiếng với văn hóa Thái đặc sắc.

Bản Xèo phát huy vai trò thầy mo, thầy cúng trong xóa bỏ hủ tục, xây dựng nếp sống văn minh

Bản Xèo phát huy vai trò thầy mo, thầy cúng trong xóa bỏ hủ tục, xây dựng nếp sống văn minh

Chiều 13/10, UBND xã Bản Xèo phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam xã tổ chức gặp mặt 49 thầy mo, thầy cúng và người thực hành tín ngưỡng dân gian, đồng thời ký cam kết thực hiện hương ước, quy ước năm 2026, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa và đẩy lùi các hủ tục lạc hậu.

Tọa đàm về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc trên địa bàn xã Hợp Thành

Tọa đàm về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc trên địa bàn xã Hợp Thành

Sáng 14/10, UBND xã Hợp Thành tổ chức Tọa đàm về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc gắn với thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, nhằm đề xuất giải pháp gìn giữ bản sắc văn hóa, gắn bảo tồn di sản với đời sống cộng đồng và phát triển địa phương.

Cầu Thia sẵn sàng tổ chức Hội thi “Bắt cá ruộng”, tạo điểm nhấn du lịch Mường Lò

Cầu Thia sẵn sàng tổ chức Hội thi “Bắt cá ruộng”, tạo điểm nhấn du lịch Mường Lò

Hướng tới Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026, phường Cầu Thia đang khẩn trương hoàn tất công tác chuẩn bị hội thi “Bắt cá ruộng”, dự kiến diễn ra lúc 14 giờ ngày 18/10 tại tổ dân phố Phúc Sơn. Hoạt động hứa hẹn mang đến trải nghiệm văn hóa độc đáo, quảng bá sản vật địa phương và thu hút du khách.

Lễ hội Cơm mới đền Đông Cuông diễn ra trong hai ngày 19 - 20/10

Lễ hội Cơm mới đền Đông Cuông diễn ra trong hai ngày 19 - 20/10

Lễ hội Cơm mới đền Đông Cuông năm 2026 dự kiến diễn ra trong hai ngày 19 và 20/10 tại thôn Bến Đền, xã Đông Cuông, với nhiều hoạt động văn hóa, tín ngưỡng và thể thao truyền thống, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc gắn với phát triển du lịch địa phương.

Hoa hậu Việt Nam 2026 lên xu hướng tìm kiếm

Hoa hậu Việt Nam 2026 lên xu hướng tìm kiếm

Sau đêm chung khảo tại Hải Phòng, Hoa hậu Việt Nam 2026 xuất hiện trong nhóm xu hướng tìm kiếm trên Google. Top 25 cô gái tiếp tục hành trình trưởng thành dựa trên bốn trụ cột Nhan sắc - Văn hóa - Trí tuệ và Cống hiến, sẵn sàng kế thừa danh hiệu từ đương kim Hoa hậu Hà Trúc Linh.

Lào Cai: Đồng loạt chiếu phim lưu động tuyên truyền phòng, chống ma túy tại 9 xã vùng cao

Lào Cai: Đồng loạt chiếu phim lưu động tuyên truyền phòng, chống ma túy tại 9 xã vùng cao

Từ ngày 12 - 26/10, Trung tâm Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao tỉnh Lào Cai tổ chức đợt chiếu phim lưu động diện rộng phục vụ Nhân dân và học sinh tại các xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị năm 2026; đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền Dự án 4 và Dự án 5 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030.

Sơ duyệt Chương trình khai mạc Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026

Sơ duyệt Chương trình khai mạc Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026

Tối 13/10, tại Sân vận động phường Nghĩa Lộ, UBND tỉnh tổ chức buổi sơ duyệt Chương trình Khai mạc Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026. Đồng chí Vũ Thị Hiền Hạnh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Lễ hội chủ trì buổi sơ duyệt, trực tiếp kiểm tra, đánh giá và chỉ đạo hoàn thiện các nội dung, bảo đảm chương trình khai mạc diễn ra trang trọng, ấn tượng và đúng kế hoạch.

Hợp luyện diễu diễn đường phố, sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026

Hợp luyện diễu diễn đường phố, sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026

Chiều tối 13/10, các diễn viên diễu diễn của các xã, phường tổ chức hợp luyện, rà soát đội hình, nội dung và phương án phối hợp, chuẩn bị cho buổi tổng duyệt ngày 14/10 và chương trình diễu diễn đường phố chính thức tại Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026 vào ngày 16/10.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vũ Thị Hiền Hạnh kiểm tra công tác chuẩn bị Lễ khai mạc Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vũ Thị Hiền Hạnh kiểm tra công tác chuẩn bị Lễ khai mạc Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026

Chiều 13/10, đồng chí Vũ Thị Hiền Hạnh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai, cùng đại diện các sở, ngành liên quan và phường Nghĩa Lộ đã kiểm tra tiến độ chuẩn bị khai mạc Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026 tại Sân vận động phường Nghĩa Lộ và hội chợ du lịch Tây Bắc năm 2026 và Không gian quảng bá, kết nối sản phẩm OCOP.

Phường Trung Tâm: Hoàn thiện không gian “Hoa trái bốn mùa - Trải nghiệm và kết nối” hưởng ứng Tuần Văn hóa, Du lịch Mường Lò

Phường Trung Tâm: Hoàn thiện không gian “Hoa trái bốn mùa - Trải nghiệm và kết nối” hưởng ứng Tuần Văn hóa, Du lịch Mường Lò

Hưởng ứng Tuần Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026 (từ ngày 15 đến 21/10), phường Trung Tâm đang khẩn trương hoàn thiện không gian “Hoa trái bốn mùa - Trải nghiệm và kết nối”, gắn quảng bá nông sản với trải nghiệm văn hóa và tham quan nhà vườn tại Tổ dân phố 7.

Lào Cai giành 14 huy chương, 8 giải thưởng tại Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông 2026

Lào Cai giành 14 huy chương, 8 giải thưởng tại Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông 2026

Tham gia Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV năm 2026 tại tỉnh Điện Biên, đoàn Lào Cai đã đạt nhiều thành tích nổi bật trong các hoạt động văn hóa, thể thao, góp phần tôn vinh, quảng bá và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Mông nói riêng và bản sắc văn hóa Lào Cai nói chung.

Người giữ nghề may áo cỏm ở Mường Lò

Người giữ nghề may áo cỏm ở Mường Lò

Gần 30 năm gắn bó với khung dệt, bàn may, chị Đinh Thị Thỉnh ở tổ dân phố 4, phường Trung Tâm không chỉ tạo ra những bộ trang phục Thái vừa vặn, tôn dáng mà còn tận tâm truyền nghề cho thế hệ trẻ. Những người thợ gắn bó lâu năm như chị Thỉnh góp phần đưa trang phục truyền thống của đồng bào Thái ngày càng hiện diện trong đời sống người dân Mường Lò.

Các địa phương khẩn trương chuẩn bị các điều kiện phục vụ Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026

Các địa phương khẩn trương chuẩn bị các điều kiện phục vụ Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026

Hướng tới Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026, các hoạt động chuẩn bị tại phường Nghĩa Lộ và các địa phương liên quan đang được tích cực triển khai. Cùng với việc hoàn thiện các hạng mục phục vụ Hội chợ Du lịch Tây Bắc, lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra công tác phòng cháy, chữa cháy tại các cơ sở lưu trú, dịch vụ, bảo đảm các điều kiện đón tiếp, phục vụ người dân và du khách.

fb yt zl tw