Giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp góp phần xóa đói, giảm nghèo

Thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, hỗ trợ nông dân, khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, chính sách miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp (SDĐNN) được thực hiện từ năm 2001 đến nay. Chính sách này hiện đang được Chính phủ, Bộ Tài chính đề xuất kéo dài đến hết năm 2030 nhằm tiếp tục phát huy hiệu quả mang lại.

Miễn, giảm khoảng 7.500 tỷ đồng/năm

Chính sách thuế SDĐNN được thực hiện theo quy định của Luật Thuế SDĐNN năm 1993, Pháp lệnh số 31-L/CTN năm 1994 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thuế bổ sung đối với hộ gia đình SDĐNN vượt quá hạn mức diện tích đất.

Thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, đồng thời hỗ trợ đối với nông dân, khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, chính sách miễn, giảm thuế SDĐNN được thực hiện từ năm 2001 đến nay.

Theo quy định hiện hành thì thuế SDĐNN đang được miễn đến hết ngày 31/12/2025 theo Nghị quyết 55/2010/QH12, Nghị quyết 28/2016/QH14 và Nghị quyết 107/2020/QH14 của Quốc hội, trừ diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho tổ chức quản lý nhưng không trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp mà giao cho tổ chức, cá nhân khác nhận thầu theo hợp đồng để sản xuất nông nghiệp.

Theo Bộ Tài chính, tổng kết, đánh giá 20 năm thực hiện chính sách miễn, giảm thuế SDĐNN, tổng số thuế SDĐNN miễn, giảm giai đoạn 2001-2010 trung bình khoảng 3.268,5 tỷ đồng/năm; giai đoạn từ 2011-2016 trung bình khoảng 6.308,3 tỷ đồng/năm; giai đoạn 2017-2020 khoảng 7.438,5 tỷ đồng/năm; giai đoạn 2021-2023 trung bình khoảng 7.500 tỷ đồng/năm.

Chính sách này đã góp phần thực hiện chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong từng thời kỳ; góp phần hỗ trợ trực tiếp người nông dân, khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Đồng thời, khuyến khích tập trung đất đai để sản xuất nông nghiệp với quy mô lớn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại hóa. Từ đó, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống nông dân, tạo việc làm cho khu vực nông thôn, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Trực tiếp hỗ trợ người nông dân

Để tiếp tục thực hiện kết quả đạt được của việc miễn thuế SDĐNN, Chính phủ, Bộ Tài chính đề xuất trình Quốc hội ban hành Nghị quyết của Quốc hội để kéo dài thời gian thực hiện miễn thuế SDĐNN theo quy định tại Nghị quyết 55/2010/QH12, Nghị quyết 28/2016/QH14 và Nghị quyết 107/2020/QH15 đến hết ngày 31/12/2030.

Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng, việc tiếp tục miễn thuế SDĐNN đến hết năm 2030 sẽ không làm giảm thu ngân sách nhà nước do đây là chính sách đang được thực hiện trên thực tế. Với đề xuất kéo dài thời gian miễn thuế SDĐNN như trên, số thuế SDĐNN được miễn khoảng 7.500 tỷ đồng/năm.

Chính sách này sẽ tiếp tục là hình thức hỗ trợ trực tiếp tới người nông dân, là nguồn đầu tư tài chính trực tiếp cho khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn để đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Qua đó, góp phần khuyến khích đầu tư, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển bền vững.

Theo ông Phan Văn Mãi, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, qua hơn 30 năm ban hành Luật Thuế SDĐNN, chính sách miễn, giảm thuế SDĐNN đã được thực hiện trong một thời gian dài thông qua các Nghị quyết của Quốc hội ban hành ngoài phạm vi của Luật. Điều này thể hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc ưu tiên hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn qua các thời kỳ.

Để chính sách miễn giảm thuế SDĐNN như một công cụ thúc đẩy hiệu quả sử dụng đất, tránh lãng phí nguồn lực đất nông nghiệp, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị cân nhắc chỉ miễn thuế SDĐNN đối với trường hợp sử dụng đất đúng vào mục đích sản xuất nông nghiệp để khuyến khích người dân, doanh nghiệp sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; loại trừ các trường hợp miễn thuế đối với đất bỏ hoang, không sản xuất trong thời gian dài (chẳng hạn từ 2 năm trở lên), đất sử dụng sai mục đích hoặc không có giấy tờ hợp lệ... để tránh tình trạng đất bị bỏ hoang, gây lãng phí nguồn lực hoặc sử dụng sai mục đích.

tapchitaichinh.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

 Chị Ngân Thị Trang và hành trình xây dựng thương hiệu trà thảo mộc vùng cao

Chị Ngân Thị Trang và hành trình xây dựng thương hiệu trà thảo mộc vùng cao

Từ cây thảo mộc của vùng cao Lào Cai, chị Ngân Thị Trang - người con dân tộc Tày của xã Khánh Yên đã hiện thực hóa khát vọng làm giàu cho quê hương bằng tri thức và sự kiên trì. Trên cương vị Giám đốc Hợp tác xã Nông - lâm nghiệp Vạn An, nhiều năm qua chị đã xây dựng được thương hiệu trà thảo mộc chất lượng, từng bước mở rộng thị trường ra quốc tế. Từ đây, hợp tác xã đã tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số tại địa phương.

Dỡ “rào cản” để thoát nghèo

Dỡ “rào cản” để thoát nghèo

Xã Trạm Tấu nơi địa hình bị chia cắt mạnh bởi suối sâu và núi cao. Nhiều thôn, bản cách trung tâm xã hàng chục km đường rừng. Trong thời gian dài, giao thông luôn là “rào cản” lớn nhất khiến mọi nỗ lực phát triển kinh tế - xã hội của người dân gặp nhiều khó khăn.

Khi nguồn lực "chạm" tới vùng khó

Khi nguồn lực "chạm" tới vùng khó

Từ nguồn lực của các Chương trình mục tiêu quốc gia, đời sống đồng bào vùng cao Lào Cai đang đổi thay từng ngày. Thành quả đó không chỉ nhờ nguồn vốn, mà còn nhờ sự chủ động, sát sao của chính quyền cơ sở - những người gần nhất với cuộc sống người dân.

Phát triển bền vững từ trồng rừng thay thế

Phát triển bền vững từ trồng rừng thay thế

Những năm qua, tỉnh Lào Cai triển khai hiệu quả chính sách trồng rừng thay thế nhằm bù đắp diện tích rừng chuyển đổi sang các mục đích khác như: xây dựng thủy điện, thủy lợi, khai thác khoáng sản và các công trình hạ tầng dân sinh. Nhờ đó, nhiều diện tích đất trống, đồi núi trọc đã được phủ xanh.

Chàng trai người Mông với ước mơ làm giàu

Chàng trai người Mông với ước mơ làm giàu

Từ kiến thức tiếp thu được ở Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và học hỏi công nghệ nông nghiệp tiên tiến từ Israel, anh Sổng A Thắng - thanh niên người Mông ở thôn Khuôn Bổ, xã Hưng Khánh đã tạo nên bước đột phá trong phát triển kinh tế.

Trấn Yên: Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, hướng tới phát triển kinh tế bền vững

Trấn Yên: Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, hướng tới phát triển kinh tế bền vững

Trở lại Trấn Yên vào trung tuần tháng 3, tôi chứng kiến những bạt ngàn vùng quế, xanh mướt đồi chè và rừng tre măng Bát độ trải dài... các sản phẩm đều được chế biến ngay tại địa phương, tạo việc làm ổn định cho người lao động tại quê nhà. Trấn Yên hôm nay đang mang diện mạo mới, năng động, công nghiệp hóa và tràn đầy sức sống.

Mưu sinh trên lòng hồ

Mưu sinh trên lòng hồ

Mỗi ngày, khi ánh sáng vừa ló rạng trên mặt hồ Thác Bà, các bến tôm tại xã Bảo Ái lại tấp nập người mưu sinh.

Nỗ lực chuẩn hóa dữ liệu đất đai

Nỗ lực chuẩn hóa dữ liệu đất đai

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công an và Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tỉnh Lào Cai đã khẩn trương, quyết liệt thực hiện Chiến dịch 90 ngày đêm làm giàu, làm “sạch” cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Đây không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật đơn thuần, mà còn là bước đi mang tính đột phá trong lộ trình hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, hướng tới nền hành chính số minh bạch, chính xác và phục vụ người dân hiệu quả hơn.

Mùa sung túc ở Khe Kẹn

Mùa sung túc ở Khe Kẹn

Sau Tết Nguyên đán, cũng là thời điểm những mầm măng mập mạp đội đất vươn lên, báo hiệu mùa vụ bội thu, mang theo niềm vui và hy vọng về một năm sung túc của người dân thôn Khe Kẹn, xã Cát Thịnh. Măng là “lộc trời” không chỉ bởi là thức quà tặng tự nhiên do đất trời ban tặng, mà còn là nguồn sinh kế quan trọng, nuôi sống biết bao thế hệ người Mông nơi đây.

Xây dựng nông thôn hiện đại, sinh thái, văn minh

Xây dựng nông thôn hiện đại, sinh thái, văn minh

Sau hợp nhất, Lào Cai có diện tích tự nhiên hơn 13.000 km2, trong đó 87,5% là đất nông nghiệp. Toàn tỉnh có trên 1,67 triệu người, đa số sinh sống ở khu vực nông thôn miền núi, do đó, quan tâm nâng cao đời sống, thay đổi diện mạo nông thôn miền núi được tỉnh quan tâm đặc biệt.

fb yt zl tw