Quả bói trên những nương chè
Sau 5 năm chăm sóc, những cây mắc ca trong nương chè của gia đình bà Lê Thị Chuốt ở thôn 1, xã Liên Sơn đã bắt đầu cho thu hoạch. Năm vừa qua, gia đình bà thu được hơn 2 tạ quả. Sản lượng chưa nhiều, bà bán quanh vùng với giá khoảng 20.000 - 30.000 đồng/kg. Với một hộ gắn bó lâu năm với cây chè, khoản thu ấy tuy chưa lớn nhưng đủ để người dân nhìn cây mắc ca bằng sự kỳ vọng.
Theo bà Chuốt, mắc ca có thể trở thành nguồn thu bổ sung bên cạnh cây chè nếu cây cho quả ổn định. Nhưng điều bà trăn trở không nằm ở vài tạ quả đầu tiên, mà là câu chuyện những năm tới khi diện tích bước vào thời kỳ kinh doanh.
"Hiện tại, sản lượng mắc ca ít bán quanh cho bà con thì hết. Nhưng sau này nếu sản lượng tăng lên vài tấn thì mong có doanh nghiệp đứng ra thu mua, chứ người dân không thể tự tiêu thụ được" - bà Chuốt chia sẻ.
Ông Trần Quốc Chất - Trưởng thôn 1, xã Liên Sơn cho biết, toàn thôn hiện có 92,9 ha chè đang khai thác. Từ dự án trồng cây mắc ca xen chè của huyện Văn Chấn trước đây, người dân trong thôn đã trồng được 33,8 ha mắc ca; trong đó có 1 ha trồng thuần, còn lại 32,8 ha trồng xen trong nương chè.
Theo ông Chất, khoảng 30% diện tích mắc ca trồng năm thứ ba đã ra hoa, đậu quả, năng suất bình quân khoảng 2 kg/cây; tỷ lệ ra hoa, kết trái tăng rõ theo từng năm. Năm nay, khoảng 80 - 90% cây mắc ca đã ra hoa, kết trái, ước tính năng suất có thể đạt bình quân 5 - 7 kg/cây.
Đáng chú ý là việc trồng xen mắc ca bước đầu chưa làm giảm năng suất chè. Theo dõi của thôn cho thấy, chè vẫn duy trì khoảng 17 tấn/ha/năm. Cây mắc ca còn tạo bóng mát trên nương, giúp người dân thuận lợi hơn trong quá trình sản xuất. Với những hộ đã kiên trì chăm sóc, mô hình này mở ra kỳ vọng “một diện tích, hai nguồn thu”: chè tiếp tục mang lại thu nhập thường xuyên, trong khi mắc ca trở thành nguồn thu bổ sung khi cây bước vào giai đoạn ổn định.
Hiện quả mắc ca tươi ở thôn có thời điểm bán khoảng 40.000 đồng/kg, tiêu thụ đến đâu hết đến đó. Tuy nhiên, đó là câu chuyện khi sản lượng còn ít. Khi diện tích cho thu hoạch đồng loạt, sản phẩm không còn là vài tạ, vài bao bán quanh xóm, mà có thể lên hàng tấn. Khi ấy, thị trường, sơ chế, bảo quản và chế biến sẽ quyết định hiệu quả thực sự của cây mắc ca.
Khi đầu ra trở thành phép thử
Thực hiện Đề án “Phát triển bền vững mắc ca giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050” của Thủ tướng Chính phủ, ngành nông nghiệp Lào Cai đã rà soát hiện trạng, định hướng vùng trồng phù hợp với điều kiện thực tế, nhằm hạn chế tình trạng phát triển tự phát, thiếu kiểm soát.
Giai đoạn 2021 - 2025, diện tích trồng mới cây mắc ca trên địa bàn tỉnh đạt 432,37 ha. Đến nay, tổng diện tích cây mắc ca đã đạt 459,92 ha. Trong đó, diện tích trồng thuần loài là 83,65 ha (chiếm 18,2%); diện tích trồng xen là 376,27 ha (chiếm 81,8%).
Những con số ấy cho thấy cây mắc ca ở Lào Cai chưa phát triển theo hướng chuyên canh quy mô lớn, mà chủ yếu được đưa vào các diện tích cây trồng hiện có như chè, dứa, sắn và một số cây lâu năm khác. Gia Hội hiện có diện tích trồng cây mắc ca lớn nhất với 251,09 ha, tiếp đến là Liên Sơn 70,6 ha, Đông Cuông 30 ha, Nậm Có 24 ha, Văn Chấn 22,46 ha, Bản Lầu 19,96 ha và Chế Tạo 16,50 ha.
Từ thực tế sản xuất tại cơ sở, chính quyền xã Liên Sơn nhìn nhận mắc ca là cây trồng có triển vọng trong mô hình trồng xen với chè. Theo lãnh đạo xã, toàn xã hiện có khoảng 70 ha mắc ca, nhiều diện tích đang bước vào thời kỳ cho thu hoạch. Qua kiểm tra, khảo sát ban đầu, cây mắc ca cho thấy khả năng đem lại hiệu quả kinh tế.
Tuy nhiên, chính quyền địa phương cũng cho rằng cần có sự khảo sát, đánh giá kỹ hơn của các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh về khả năng thích nghi, giá trị kinh tế và điều kiện phát triển tại từng vùng. Trước mắt, xã tập trung vận động người dân chăm sóc tốt diện tích hiện có; đồng thời tìm kiếm, kết nối doanh nghiệp tham gia thu mua, chế biến khi sản lượng tăng.
Cách nhìn ấy khá thực tế, bởi việc cây mắc ca cho quả mới là bước khởi đầu; giá trị bền vững của loại cây này chỉ thực sự được khẳng định khi sản phẩm hình thành được chuỗi chế biến sâu và có đầu ra tiêu thụ ổn định.
Những rủi ro cần lường trước
Mắc ca không phải cây trồng ngắn ngày. Trồng một vụ ngô, vụ sắn có thể nhìn thấy lãi lỗ trong năm, nhưng với mắc ca, người trồng phải chờ nhiều năm mới biết hiệu quả. Nếu trồng sai giống, sai vùng, sai kỹ thuật, thiệt hại cũng kéo dài theo chu kỳ của cây.
Là địa phương có địa hình và khí hậu phân hóa mạnh, Lào Cai có những vùng cây sinh trưởng tốt, song cũng có khu vực vùng cao chịu ảnh hưởng lớn bởi sương muối, khô hanh và thiếu nước. Đối với cây mắc ca, thời tiết giai đoạn ra hoa, đậu quả quyết định lớn đến năng suất; những biến động cực đoan về nhiệt độ, độ ẩm có thể làm giảm tỷ lệ đậu quả, ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng và hiệu quả đầu tư.
Giống và kỹ thuật cũng là bài toán không thể xem nhẹ. Theo báo cáo của ngành nông nghiệp, với giá cây giống mắc ca khoảng 50.000 đồng/cây, người trồng còn phải bỏ ra nguồn kinh phí lớn cho phân bón và công chăm sóc định kỳ trong nhiều năm. Nếu lựa chọn giống không phù hợp hoặc chăm sóc sai quy trình, người dân có thể mất nhiều năm mới nhận ra cây cho năng suất thấp dẫn đến hiệu quả kinh tế không như kỳ vọng.
Tình trạng trồng phân tán, nhỏ lẻ hiện nay cũng gây khó cho việc hướng dẫn kỹ thuật, quản lý chất lượng, thống kê sản lượng và hình thành vùng nguyên liệu. Khi chưa có vùng nguyên liệu đủ ổn định, doanh nghiệp cũng khó mạnh dạn đầu tư sơ chế, chế biến.
Đến nay, toàn tỉnh đã xây dựng và công nhận 1 vườn cây giống đầu dòng từ năm 2021, quy mô 1,02 ha, có khả năng cung cấp bình quân khoảng 21,8 nghìn hom/năm. Đây là cơ sở quan trọng để từng bước kiểm soát chất lượng giống, hạn chế rủi ro từ nguồn giống trôi nổi trên thị trường. Tuy nhiên, để cây mắc ca đi xa hơn, ngoài giống tốt còn cần kỹ thuật, vùng trồng, thị trường và doanh nghiệp đồng hành.
Không chạy theo diện tích
Từ kết quả giai đoạn 2021 - 2025 và điều kiện thực tế của địa phương, ngành nông nghiệp Lào Cai xác định giai đoạn 2026 - 2030 chưa đề xuất phát triển cây mắc ca với quy mô lớn trên địa bàn tỉnh. Việc trước mắt là bảo vệ, chăm sóc 459,92 ha mắc ca hiện có; tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả các mô hình thí điểm, các đề tài khoa học và đề án phát triển mắc ca trên địa bàn.
Đó là lựa chọn cần thiết. Với cây trồng lâu năm, tăng nhanh diện tích không đồng nghĩa với tăng nhanh hiệu quả. Nếu thiếu các yếu tố cốt lõi như đầu ra, sơ chế, chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị, việc sản lượng tăng có thể sẽ lập tức quay trở lại tạo áp lực lớn cho chính người sản xuất.
Việc mở rộng diện tích, nếu có, cần được xem xét sau khi mô hình đã chứng minh được tính bền vững và có sự tham gia của doanh nghiệp chế biến sâu. Mắc ca không thể chỉ dừng lại ở quả tươi bán quanh vùng. Muốn trở thành cây hàng hóa, sản phẩm phải đi qua các khâu thu hoạch, sơ chế, bảo quản, chế biến, xây dựng thương hiệu và tiêu thụ ổn định.
Mắc ca là cây trồng dài hạn, cần vốn, kỹ thuật, thời gian và thị trường. Với Lào Cai, thước đo thành công của cây mắc ca lúc này không nằm ở tốc độ tăng diện tích, mà nằm ở mức độ an toàn sinh kế, độ chắc của thị trường và hiệu quả kinh tế thực tế trên từng nương chè, thửa đất của người dân.
Thận trọng không có nghĩa là bỏ lỡ cơ hội. Với một loại cây trồng có chu kỳ đầu tư dài như mắc ca, đó là cách để giảm thiểu rủi ro và bảo vệ sinh kế cho người dân. Chỉ khi được phát triển trên cơ sở khoa học, phù hợp điều kiện sinh thái và gắn với chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ, mắc ca mới có thể trở thành một hướng đi bền vững, đóng góp thiết thực vào quá trình tái cơ cấu nông nghiệp của Lào Cai.