Đường sắt tốc độ cao sẽ kết nối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm

Theo phương án được tư vấn nghiên cứu đề xuất, tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam đầu tư với tốc độ thiết kế 350 km/h. Dự án hoàn thành, sẽ tăng năng lực vận tải đường sắt, kết nối và thúc đẩy phát triển các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, tác động lan tỏa tổng thể tới nền kinh tế.

Ông Nguyễn Văn Phúc, nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội khoá XIV, thành viên Tổ chuyên gia của Ban Chỉ đạo xây dựng, thực hiện Đề án chủ trương đầu tư đường sắt tốc độ cao lấy ví dụ, như tỉnh Hà Tĩnh có Khu kinh tế Vũng Áng: dù là trọng điểm, song hiện nay để một chuyên gia/nhà đầu tư từ Hà Nội hay TP.HCM đến đây rất mất thời gian.

Vì quãng đường xa, phải đi máy bay đến Vinh hoặc Quảng Bình rồi di chuyển bằng ô tô đến Hà Tĩnh. Trong khi đó, nếu có ĐSTĐC, việc đi lại từ 2 đầu tàu kinh tế của cả nước (Hà Nội và TP.HCM) đến khu kinh tế Vũng Áng sẽ nhanh chóng, thuận tiện. Khi đó, Khu kinh tế Vũng Áng mới thực sự là khu kinh tế trọng điểm quốc gia.

Vì thế, theo ông Nguyễn Văn Phúc, xác định đầu tư dự án ĐSTĐC quan trọng nhất là tác động lan toả đối với sự phát triển KT-XH, khi tạo điều kiện thuận lợi kết nối các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước với nhau: "Quan trọng là tác động lan tỏa của dự án này đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Tác động mở ra không gian phát triển, không chỉ đối với 20 địa phương dự án đi qua, mà còn tác động tới các địa phương khác. Sự tác động lan tỏa nhiều khi chưa hiện hữu như tác động trực tiếp nhưng tác động lan tỏa nhiều khi quan trọng hơn tác động trực tiếp của dự án, mang lại hiệu quả kinh tế tổng thể. Như trong báo cáo của Trung ương đã nhấn mạnh, đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam mở ra không gian phát triển mới".

Đường sắt tốc độ cao sẽ kết nối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm. (Ảnh minh hoạ)
Đường sắt tốc độ cao sẽ kết nối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm. (Ảnh minh hoạ)

Tốc độ 350km/h được lựa chọn để triển khai dự án sẽ giải quyết được bài toán về khoảng cách trong đầu tư xây dựng dự án. Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Danh Huy cho biết, Bộ GTVT đã xác định rõ các thách thức khi triển khai dự án. Theo kinh nghiệm quốc tế, các tuyến đường sắt tốc độ cao như tại Đức, tuyến Stuttgart-Mannheim dài 99 km, tốc độ thiết kế 300 km/h chạy chung với tàu hàng tốc độ 120-160km/h (tàu khách chạy ban ngày, tàu hàng chạy ban đêm). Đường sắt khác đường bộ là có biểu đồ chạy tàu, không phải ga nào cũng dừng, mỗi ga đều có dự báo nhu cầu hành khách, thay đổi theo khung giờ trong ngày và cả theo mùa.

Dựa vào đó để xây dựng biểu đồ chạy tàu, có thể chạy cách ga. Nhìn thẳng vào thực tế hiện nay, khi hàng không đang phải nỗ lực duy trì các chặng bay cự ly dưới 500 km (thường không có lợi nhuận). Các hãng đang lấy lợi nhuận từ chặng bay dài bù lỗ cho chặng ngắn. Hay tình trạng chặng Hà Nội - TP.HCM vẫn có những chuyến xe vận tải khách chạy xuyên suốt bằng đường bộ. Nói cách khác, hàng không và đường bộ đang phải đảm nhận vận tải hành khách trên các cự ly không có ưu thế, khi mà ưu thế thuộc về đường sắt đang bỏ ngỏ.

Do vậy, quá trình lập quy hoạch các lĩnh vực của ngành GTVT đã xem xét tiềm năng, lợi thế của từng phương thức để xây dựng kịch bản phát triển. Theo đó, đối với vận tải hành khách, cự ly ngắn (dưới 150km) ưu thế thuộc về đường bộ; Cự ly trung bình (150 - 800km) đường sắt tốc độ cao chiếm hoàn toàn ưu thế; Cự ly dài (trên 800km) thị phần chủ yếu thuộc về hàng không và một phần của ĐSTĐC.

Nhằm phát huy lợi thế của từng phương thức vận tải để đảm bảo phát triển kinh tế gắn với quốc phòng an ninh, khi kết nối các vùng kinh tế ở cự ly trung bình, thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Danh Huy nhấn mạnh:"Tuyến đường sắt tốc độ cao mới cơ bản đáp ứng công năng chính là vận tải hành khách và hàng hóa nhẹ. Điểm quan trọng là kết nối để phát triển kinh tế. Chúng ta cũng tính tới chuyện gắn phát triển kinh tế với quốc phòng an ninh. Chính vì vậy, công năng của tuyến đường sắt tốc độ cao được hoạch định là như thế. Công năng của ĐSTDC được Bộ Chính trị và Trung ương quyết định".

Theo kinh nghiệm thế giới, các tuyến ĐSTĐC là trục chính, chiều dài lớn đều lựa chọn tốc độ 350km/h trở lên vì tính hiệu quả. Về công năng vận tải, từ kinh nghiệm quốc tế, năng lực hệ thống kết cấu hạ tầng hiện tại, kết quả dự báo nhu cầu vận tải, kiến nghị công năng vận tải của tuyến ĐSTĐC trên trục Bắc - Nam như sau: ĐSTĐC vận chuyển hành khách, đáp ứng yêu cầu lưỡng dụng phục vụ quốc phòng, an ninh và có thể vận tải hàng hóa khi cần thiết. Như vậy, đầu tư xây dựng ĐSTĐC sẽ góp phần quan trọng trong cơ cấu lại thị phần vận tải hành khách giữa các phương thức theo hướng bền vững. Đồng thời, kết nối nhiều vùng kinh tế trọng điểm nước ta, tạo cơ sở để khai thác các lợi thế của khu vực thúc đẩy phát triển kinh tế.

Ông Trần Thiện Cảnh, Cục trưởng Cục Đường sắt Việt Nam, phân tích: "Đường sắt thì có ưu thế trong cự ly vận tải hành khách thì khoảng từ 150 - 800km. Đối với đường sắt tốc độ cao thời gian là một thước đo giá trị quan trọng, thì với đường sắt tốc độ cao thì sẽ rút ngắn hành trình đi lại của người dân. Rút ngắn khoảng cách về vùng miền tạo ra việc giảm dân ở khu vực trung tâm, giúp cho người dân đi lại dễ dàng hơn giúp cho các địa phương phát triển kinh tế du lịch rất tốt. Với kinh nghiệm quốc tế như Nhật Bản, Hàn Quốc, những địa phương sau khi có đường sắt tốc độ cao qua thì GDP của các địa phương đẩy tăng trưởng rất tốt".

Khẳng định chắc chắn sẽ có nhiều thách thức do quy mô dự án lớn, tiến độ rất áp lực, song giải quyết bài toán này, cơ quan thực hiện sẽ mời tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu trong nước, quốc tế đủ năng lực đáp ứng yêu cầu. Đây là công trình thể hiện quyết tâm chính trị lớn của Đảng, là công trình động lực cần phải ưu tiên nguồn lực đầu tư.

Bộ GTVT đang tiếp tục làm việc với các cơ quan để nhận diện các vấn đề rõ hơn, đảm bảo tính khả thi của dự án. Quan trọng nhất là làm rõ những yếu tố tác động lan tỏa, kết nối các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, phát huy thế mạnh của các phương thức vận tải để cùng hiện thực hóa các mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế nước ta.

Theo vov.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Hiệu quả mô hình liên kết sản xuất khoai tây vụ đông ở Khánh Yên

Hiệu quả mô hình liên kết sản xuất khoai tây vụ đông ở Khánh Yên

Từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, vụ đông năm nay, xã Khánh Yên đã triển khai mô hình liên kết trồng khoai tây với doanh nghiệp trên diện tích 6,5 ha. Mô hình bước đầu cho thấy hiệu quả rõ nét khi năng suất cao, đầu ra ổn định, góp phần nâng cao thu nhập và tạo tiền đề mở rộng sản xuất trong những vụ tiếp theo.

Xã biên giới Mường Khương đẩy mạnh phát triển kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng

Xã biên giới Mường Khương đẩy mạnh phát triển kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng

Năm 2025, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn xã Mường Khương (Lào Cai) cơ bản ổn định, đạt được nhiều kết quả tích cực. Đảng ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các nhiệm vụ trọng tâm, đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm an sinh xã hội và giữ vững quốc phòng, an ninh.

Chợ Tết truyền thống 2026 “xoay mình” thích nghi trước làn sóng mua sắm online

Chợ Tết truyền thống 2026 “xoay mình” thích nghi trước làn sóng mua sắm online

Không khí mua sắm Tết đang đổi khác khi thương mại điện tử len sâu vào thói quen tiêu dùng của người Việt. Trước sức ép cạnh tranh chưa từng có, chợ Tết truyền thống không bị thay thế mà chủ động thích nghi, giữ vai trò riêng như điểm giao thoa giữa tiện lợi số và trải nghiệm văn hóa.

Đòn bẩy giảm nghèo ở Mỏ Vàng

Đòn bẩy giảm nghèo ở Mỏ Vàng

Đường vào Mỏ Vàng - xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai, những ngày cuối năm vẫn gập ghềnh, quanh co, nhưng nơi đây đã hiện hữu sự khởi sắc, bởi nhiều gia đình mạnh dạn chăn nuôi, phát triển kinh tế hiệu quả, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.

Nhộn nhịp thị trường cá chép đỏ

Nhộn nhịp thị trường cá chép đỏ

Cận ngày 23 tháng Chạp, thị trường cá chép đỏ càng trở nên nhộn nhịp, từ các vùng nuôi cá đến chợ dân sinh, hàng vạn chú cá chép đỏ được đưa đến tay mọi nhà để phục vụ nhu cầu cúng Tết ông Công, ông Táo.

Để Lào Cai trở thành trung tâm dược liệu quốc gia

Để Lào Cai trở thành trung tâm dược liệu quốc gia

Ôm trọn dãy Hoàng Liên Sơn, Lào Cai sở hữu hệ sinh thái đặc thù - môi trường lý tưởng của hàng trăm loài dược liệu quý. Từ lợi thế đó, những năm qua, tỉnh đã từng bước hình thành vùng trồng dược liệu với hơn 6.500 ha, sản lượng khoảng 30.000 tấn mỗi năm, tổng giá trị ước gần 900 tỷ đồng.

Đẩy nhanh tiến độ san tạo mặt bằng, khôi phục sản xuất tại Làng Nủ

Đẩy nhanh tiến độ san tạo mặt bằng, khôi phục sản xuất tại Làng Nủ

Những ngày này, trên công trường dự án san tạo mặt bằng, khôi phục sản xuất tại khu vực Làng Nủ (xã Phúc Khánh), không khí làm việc trở nên hối hả hơn bao giờ hết. Đơn vị thi công đang tranh thủ thời tiết thuận lợi, huy động tối đa nhân lực và phương tiện, nỗ lực đẩy nhanh tiến độ nhằm sớm bàn giao đất cho người dân khôi phục sản xuất.

Chủ động sản xuất phục vụ thị trường Tết

Chủ động sản xuất phục vụ thị trường Tết

Thời điểm này, nhu cầu thị trường tăng cao, đặc biệt là các mặt hàng nông sản và thực phẩm. Do đó, các hợp tác xã (HTX), cơ sở sản xuất... trên địa bàn tỉnh đã chủ động mở rộng quy mô, đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng nhu cầu mua sắm tăng cao của người dân.

Phát triển công nghiệp xanh - “chìa khóa” để Lào Cai bứt phá và phát triển bền vững

Phát triển công nghiệp xanh - “chìa khóa” để Lào Cai bứt phá và phát triển bền vững

Lào Cai là tỉnh công nghiệp trọng điểm của khu vực trung du và miền núi phía Bắc, với các ngành khai khoáng, hóa chất, luyện kim giữ vai trò chủ lực. Trong bối cảnh đó, phát triển công nghiệp xanh không chỉ là yêu cầu tất yếu, mà còn là “chìa khóa” để giải quyết hài hòa bài toán môi trường, tài nguyên, đồng thời tạo dư địa cho tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

fb yt zl tw