Với địa hình cao, khí hậu khắc nghiệt, giảm nghèo tại Púng Luông từng là bài toán khó. Thực tế cho thấy, diện tích đất lúa tại khu vực Nậm Khắt trước đây chỉ canh tác được một vụ, năng suất bấp bênh, dao động từ 2,8 đến 3 tấn/ha. Nếu tính chi phí đầu tư, tổng thu nhập từ lúa và ngô chỉ đạt khoảng 37 đến 40 triệu đồng/ha/năm - mức quá thấp để người dân thoát nghèo.
Để tháo gỡ nút thắt này, cấp ủy, chính quyền địa phương xác định phải phá thế độc canh, chuyển từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”.
Thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Trung ương và của tỉnh, Púng Luông đã rà soát toàn bộ diện tích đất lúa, nương đồi kém hiệu quả để chuyển đổi cây trồng. Dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm từ các vùng có khí hậu tương đồng, xã quy hoạch các vùng sản xuất tập trung.
Điểm mấu chốt tạo nên sự đồng thuận là phương châm “cán bộ, đảng viên làm trước để người dân làm theo”. Các mô hình thử nghiệm trồng lê VH6, hồng giòn, hoa hồng và nấm cao cấp dần khẳng định ưu thế khi tận dụng chính điều kiện khí hậu vùng cao để tạo ra sản phẩm đặc thù, giá trị kinh tế cao.
Đến nay, toàn xã đã chuyển đổi được 70 ha hoa hồng, 30 ha rau màu các loại (ớt ngọt, cà chua, su hào, bắp cải) và trên 90 ha cây ăn quả ôn đới.
Thực tế sản xuất cho thấy giá trị trung bình đạt 300 đến 500 triệu đồng/ha, cao gấp 8 đến 10 lần so với canh tác truyền thống. Cá biệt, với hoa hồng hoặc cà chua chất lượng cao, doanh thu có thể đạt 700 triệu đến hơn 1 tỷ đồng/ha.
Nói về sự thay đổi này, ông Phạm Tiến Lâm - Chủ tịch UBND xã Púng Luông cho biết: Hiện nay bà con không còn chỉ phụ thuộc vào cây lúa. Nhiều hộ gia đình có ruộng nhưng thiếu vốn hoặc kỹ thuật đã cho doanh nghiệp, hợp tác xã thuê đất với giá khoảng 50 triệu đồng/ha. Sau đó, chính những chủ ruộng này lại làm công nhân trên mảnh đất của mình với thu nhập 170.000 đến 300.000 đồng/ngày công, tương đương 4,5 đến 6 triệu đồng/tháng, cao hơn nhiều so với canh tác nhỏ lẻ trước đây.
Một điểm sáng trong bức tranh kinh tế của Púng Luông là sự hình thành các chuỗi liên kết giá trị. Xã đã vận động thành lập 19 hợp tác xã và 107 tổ hợp tác, nhóm cùng sở thích. Các doanh nghiệp và hợp tác xã đóng vai trò chủ đạo trong cung ứng giống, chuyển giao kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm, đưa nông sản vào các siêu thị và thị trường lớn.
Ông Trần Văn Vỹ - Hợp tác xã hoa Nậm Khắt chia sẻ: Điều kiện thổ nhưỡng tại đây rất phù hợp để tạo ra hoa hồng chất lượng cao. Hiện mỗi tháng hợp tác xã cung ứng ra thị trường khoảng 60 đến 70 vạn bông, tạo việc làm thường xuyên cho hàng trăm lao động địa phương.
Tương tự, ông Phạm Văn Hải, thôn Nả Khắt, người đang canh tác rau trong nhà màng, cho biết khí hậu địa phương rất thuận lợi để phát triển nông sản đạt tiêu chuẩn VietGAP. Sự chuyển đổi này không chỉ thể hiện ở giá trị kinh tế mà còn cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số khi tiếp cận khoa học kỹ thuật.
Hiệu quả của việc phá thế độc canh đã tác động trực tiếp đến các chỉ số an sinh xã hội của Púng Luông. Tổng doanh thu từ các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của xã trong năm gần nhất đạt trên 50 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người đạt trên 30 triệu đồng/năm. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 10% mỗi năm, hiện còn 12,88% theo tiêu chí cũ.
Việc hình thành vùng sản xuất tập trung cũng tạo việc làm cho 500 lao động thường xuyên và 400 lao động thời vụ, góp phần ổn định đời sống cho nhiều gia đình.
Bà Giàng Thị Ninh, thôn Hua Khắt cho biết: Gia đình tôi cho hợp tác xã thuê ruộng để trồng hoa, sau đó lại xin vào làm tại hợp tác xã. Mỗi ngày được khoảng 200 nghìn đồng, thu nhập ổn định, cao hơn trồng lúa.
Từ thực tế tại Púng Luông cho thấy, giảm nghèo bền vững ở vùng cao không thể chỉ dựa vào các chính sách hỗ trợ trực tiếp. Thay vào đó, cần quy hoạch lại sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng dựa trên lợi thế khí hậu và thổ nhưỡng của từng vùng.
Sự liên kết chặt chẽ giữa “4 nhà” (Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông) đã hình thành chuỗi sản xuất khép kín. Người dân không chỉ thoát nghèo mà còn dần trở thành những “công nhân nông nghiệp” có tay nghề, có tư duy sản xuất hàng hóa.
Để duy trì và nhân rộng kết quả này, thời gian tới địa phương cần tiếp tục đầu tư hạ tầng giao thông nội đồng, hệ thống thủy lợi và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất. Đồng thời nâng cao tiêu chuẩn chất lượng, xây dựng thương hiệu để nông sản vùng cao tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng lớn.
Thành công bước đầu ở Púng Luông cho thấy khi chủ trương của cấp ủy, chính quyền gặp được sự đồng thuận của Nhân dân và được dẫn dắt bởi tư duy kinh tế hiện đại, những vùng đất khó vẫn có thể tạo nên bước chuyển mạnh mẽ trong phát triển kinh tế và giảm nghèo bền vững.