Cơ hội từ thị trường nông sản ASEAN

Theo Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công thương), dù năm 2023 là một năm khó khăn của nền kinh tế toàn cầu, nhưng ASEAN vẫn duy trì là khu vực kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, GDP khu vực tăng trưởng ở mức 4,2%. Đây cũng là khu vực thị trường nhập khẩu đa dạng các mặt hàng nông, lâm, thủy sản từ nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy vậy, Việt Nam vẫn chưa tận dụng hết hiệu quả lợi thế trong xuất khẩu nông sản sang các nước ASEAN.

Chế biến thủy sản xuất khẩu tại Công ty cổ phần Chế biến thủy sản xuất nhập khẩu Kiên Cường, tỉnh Kiên Giang.

Chế biến thủy sản xuất khẩu tại Công ty cổ phần Chế biến thủy sản xuất nhập khẩu Kiên Cường, tỉnh Kiên Giang.

Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang ASEAN hiện nay là gạo, cà-phê, thủy sản, rau quả, gỗ và sản phẩm gỗ… Năm 2023, ngoài gạo và cà-phê có kim ngạch xuất khẩu tăng thì các mặt hàng còn lại đều giảm so với năm 2022.

Tăng, giảm không đều

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, năm 2023, Việt Nam xuất khẩu gạo sang khu vực ASEAN đạt 4,82 triệu tấn với trị giá 2,67 tỷ USD, chiếm lần lượt 59% và 57% trong tổng lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam. Trong đó, dẫn đầu về nhập khẩu gạo Việt Nam là Philippines với hơn 3,1 triệu tấn, kim ngạch 1,75 tỷ USD, tăng 17,6% so với năm 2022. Mặc dù lượng gạo xuất khẩu giảm 2% so với năm 2022 nhưng gạo Việt Nam vẫn chiếm hơn 80% tổng lượng gạo nhập khẩu của Philippines.

Cùng với gạo, cà-phê ghi nhận sự tăng trưởng tại thị trường ASEAN khi kim ngạch năm 2023 đạt 508,8 triệu USD, tăng 36,5%; khối lượng đạt 148,5 nghìn tấn, tăng 16,8% so với năm 2022. Đặc biệt, giá xuất khẩu cà-phê sang ASEAN năm 2023 cũng đạt mức cao, trong đó loại cà-phê chưa rang, chưa khử cafein đạt đến 2.733 USD/tấn trong tháng cuối năm 2023, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2022.

Bên cạnh các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng thì nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu sang ASEAN của Việt Nam lại sụt giảm trong năm 2023. Cụ thể như rau quả, mặc dù năm 2023 kim ngạch xuất khẩu rau quả cả nước đạt mức cao kỷ lục 5,69 tỷ USD, tăng 69,2% so với năm 2022, nhưng tại thị trường ASEAN lại chứng kiến sự sụt giảm khi lũy kế cả năm 2023 chỉ đạt 310,3 triệu USD, giảm hơn 10% so với năm 2022; kim ngạch gỗ và sản phẩm gỗ cũng giảm nhẹ, đạt 293 triệu USD; trong khi xuất khẩu thủy sản giảm tới 13,6% so với năm 2022, chỉ đạt 673,6 triệu USD.

Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Philippines Phùng Văn Thành cho biết: Philippines có quy mô dân số lớn, người tiêu dùng có sự phân hóa dẫn tới nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ khá đa dạng. Thị trường Philippines cũng không đòi hỏi quá cao hay quá khắt khe trong tiêu thụ các loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Nhu cầu tiêu dùng trong nước đối với hàng hóa, dịch vụ lớn nhưng phụ thuộc nhiều vào các sản phẩm nhập khẩu.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa tận dụng hết tiềm năng để xuất khẩu nông sản vào nước này, nhất là chưa có sản phẩm, mặt hàng nông sản tươi sống (hoa quả, thịt) nào vào được thị trường Philippines.

Mặt khác, thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam cũng còn ít quan tâm tới thị trường Philippines nên kết nối chủ yếu chỉ là doanh nghiệp nhỏ, thiếu vắng các doanh nghiệp lớn. Vì vậy, cần đẩy mạnh hoạt động quảng bá, tăng cường sự quan tâm của doanh nghiệp Việt Nam về tiềm năng thị trường Philippines, qua đó thúc đẩy xuất khẩu vào thị trường này.

Tận dụng lợi thế vị trí địa lý và thuế quan

Nông sản Việt Nam hiện còn nhiều tiềm năng xuất khẩu vào thị trường ASEAN do có các lợi thế lớn như: thuận lợi về mặt địa lý giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hóa, chi phí lưu kho bãi, nhất là trong bối cảnh các chi phí logistics đi các khu vực thị trường Mỹ, châu Âu... ngày càng tăng cao, thì ưu tiên xuất khẩu sang các thị trường gần gũi nhằm tăng sức cạnh tranh cho nông sản là lựa chọn hợp lý của nhiều doanh nghiệp.

Đóng gói gạo xuất khẩu tại nhà máy Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam, xã Trường Xuân, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Đóng gói gạo xuất khẩu tại nhà máy Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam, xã Trường Xuân, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra, đối với khu vực thị trường này, doanh nghiệp cũng có nhiều lựa chọn phương thức vận chuyển hàng hóa như vận tải đường bộ, đường biển và đường hàng không, tạo sự linh hoạt trong giao thương, đưa hàng hóa đến với đối tác nhanh chóng và bảo đảm chất lượng.

Bên cạnh đó, hiện nay, hầu hết hàng hóa xuất khẩu sang thị trường ASEAN đều được hưởng ưu đãi với mức thuế quan 0% theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA). Hiệp định này đã tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại và thủ tục hải quan, giúp dễ dàng vận chuyển hàng hóa trong khu vực.

Tuy nhiên, để tận dụng được các lợi thế thì hàng nông sản Việt Nam cần tìm ra điểm khác biệt trong sự tương đồng với các loại hàng hóa từ các quốc gia khác trong khu vực. Thí dụ với mặt hàng cà-phê, Việt Nam cần phát huy thế mạnh là quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà-phê hàng đầu thế giới với chất lượng cao nhất, tốt nhất để thâm nhập thị trường ASEAN.

Thông tin từ Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn cho thấy, kim ngạch xuất khẩu cà-phê vào thị trường này hoàn toàn có thể tăng cao hơn nữa khi năm 2024, doanh thu cà-phê tại thị trường ASEAN dự báo sẽ đạt khoảng 8,9 tỷ USD; lượng tiêu thụ cà-phê dự kiến trung bình ở mức 0,35 kg/người. Tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn 2024-2028 ước đạt 7,76%/năm. Ước tính đến năm 2028, tiêu thụ cà-phê tại thị trường này đạt 0,7 triệu tấn. Đây là cánh cửa mở cho sản phẩm cà-phê các loại của Việt Nam hiện diện nhiều hơn tại ASEAN.

Đối với mặt hàng thủy sản, ASEAN cũng là thị trường tiềm năng của Việt Nam trong thời gian tới khi nhu cầu tiêu thụ thủy sản của thị trường này được dự báo ở mức 51,5 kg/người/năm vào năm 2030 và sẽ tăng lên 61,5 kg/người/năm vào năm 2050. So với mức kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam hiện nay là 673,6 triệu USD, thì dư địa thị trường ASEAN cho thủy sản còn rất lớn.

Tuy nhiên, cũng như nhiều thị trường xuất khẩu nông sản trên thế giới, hiện các nước ASEAN đều tăng cường yêu cầu đối với chất lượng sản phẩm nhập khẩu, nhất là các mặt hàng nông, lâm, thủy sản. Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Singapore Cao Xuân Thắng cho biết: Singapore có các quy định rất chặt chẽ về quá trình sản xuất và tiêu thụ thực phẩm, quy định về dán nhãn thực phẩm, các chất phụ gia thực phẩm cho phép sử dụng, các thành phần ngẫu nhiên xuất hiện trong thực phẩm, quy định về hộp đựng thực phẩm, thực phẩm chiếu xạ…

Chính phủ Singapore cũng có quy định đối với từng loại mặt hàng nhập khẩu. Việc nhập khẩu các sản phẩm sữa và sản phẩm sữa, động vật tươi sống, thịt, cá được đánh giá là “rủi ro cao” và được kiểm soát chặt chẽ thông qua các quy trình kiểm tra, kiểm định, cấp giấy phép của Cơ quan quản lý thực phẩm Singapore (SFA). Hiện tại, Singapore chưa cho phép nhập khẩu trứng tươi, các loại thịt và động vật sống, hàu sống; và đưa ra những yêu cầu kỹ thuật cao cho sản phẩm sữa của Việt Nam.

Trong khi đó, trái cây tươi và rau quả nhập khẩu vào Singapore quy định không được chứa bất kỳ loại thuốc trừ sâu nào bị cấm, và mức độ dư lượng thuốc trừ sâu hoặc dư lượng hóa chất độc hại không vượt quá mức quy định tại Luật Kinh doanh thực phẩm hoặc khuyến nghị của FAO/WHO. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm chắc thông tin và tuân thủ quy định để thuận lợi hơn trong xuất khẩu nông sản vào thị trường này.

Báo Nhân Dân

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Từ cây cứu đói đến nguyên liệu công nghiệp thực phẩm

Từ cây cứu đói đến nguyên liệu công nghiệp thực phẩm

Từ vai trò lịch sử là cây trồng cứu đói, cây sắn hiện nay đã khẳng định vị thế là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp chế biến tinh bột. Tại xã Đông Cuông, sự liên kết chặt chẽ giữa chính quyền, doanh nghiệp và các hộ nông dân đang tạo ra sinh kế ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho người dân vùng khó.

Sắc màu tươi sáng ở Cốc Râm

Sắc màu tươi sáng ở Cốc Râm

Từ vùng quê nghèo đầy gian khó, thôn Cốc Râm, xã Mường Khương hôm nay đang "khoác" lên mình diện mạo mới với những nhà xây cao tầng khang trang và tuyến đường bê tông phẳng phiu. Sự thay đổi rõ nét trong tư duy phát triển kinh tế và những chính sách hỗ trợ kịp thời của Nhà nước đã tạo nên sức sống mới, tươi sáng trên vùng cao này.

Thúc đẩy cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp

Thúc đẩy cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp

Cùng với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nông dân Lào Cai đang chú trọng ứng dụng máy móc, cơ giới hóa vào các khâu trong quy trình sản xuất nông nghiệp, từ trồng trọt, chăn nuôi đến chế biến nông, lâm sản. Qua đó, góp phần giải phóng sức lao động, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.

Kỳ vọng về một con đường phát triển bền vững

Kỳ vọng về một con đường phát triển bền vững

Ngày 03/02/2026, Tỉnh uỷ Lào Cai ban hành 2 Nghị quyết chuyên đề quan trọng về phát triển giao thông nông thôn và dược liệu trên địa bàn tỉnh. Với những quyết sách, định hướng, mục tiêu chiến lược cụ thể, người dân vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh đang gửi gắm niềm tin, kỳ vọng vào một con đường phát triển bền vững, rút ngắn khoảng cách chênh lệch vùng miền.

Người dân thôn Làng Quạch, xã Mậu A chung sức làm đường giao thông nông thôn.

Phát huy vai trò chủ thể của người dân trong làm đường giao thông nông thôn

Giao thông là huyết mạch của nền kinh tế. Ở các khu vực nông thôn, vùng cao, sự phát triển của hệ thống giao thông nông thôn giữ vai trò then chốt trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, việc nâng cấp và mở mới đường giao thông ở nhiều địa phương đã trở thành động lực quan trọng giúp nông thôn chuyển mình.

Giữ chân lao động trẻ nông thôn

Giữ chân lao động trẻ nông thôn

Ở phường Cầu Thia (tỉnh Lào Cai), không ít bạn trẻ người dân tộc thiểu số đã chọn bám đất, bám nương, mạnh dạn thay đổi cách nghĩ, cách làm, tận dụng lợi thế sẵn có để gây dựng sinh kế ngay trên chính mảnh đất quê hương.

Từ xuất khẩu thô đến thương hiệu tinh dầu quốc tế

Từ xuất khẩu thô đến thương hiệu tinh dầu quốc tế

Lào Cai đang đứng trước bước ngoặt quan trọng trong chiến lược nâng tầm giá trị cây quế. Với diện tích quy hoạch hướng tới 150.000 ha, tỉnh không còn chấp nhận là vùng nguyên liệu thô, mà đang quyết liệt chuyển sang chế biến sâu, hình thành hệ sinh thái sản xuất công nghệ cao nhằm đưa sản phẩm tinh dầu và đồ thủ công mỹ nghệ vươn ra thị trường quốc tế.

Nguy cơ ô nhiễm suối đầu nguồn

Nguy cơ ô nhiễm suối đầu nguồn

Những dòng suối đầu nguồn vốn được ví như mạch sống của núi rừng. Từ bao đời nay, nguồn nước ấy nuôi dưỡng ruộng đồng, cung cấp nước sinh hoạt và giữ vai trò điều hòa hệ sinh thái cho cả một vùng rộng lớn phía hạ lưu. Thế nhưng, những dòng suối đầu nguồn ở một số địa phương đang đối diện nguy cơ ô nhiễm ngày càng rõ rệt.

Người Mông giữ rừng

Người Mông giữ rừng

Từ chỗ coi rừng là kho sản vật vô tận để tận thu, đến nay, nhận thức của đồng bào người Mông tại thôn Nả Háng Tâu, xã Púng Luông đã có sự chuyển biến căn bản. Rừng không chỉ được bảo vệ nghiêm ngặt bằng quy ước, hương ước mà còn trở thành “nguồn sống”, mở ra sinh kế bền vững thông qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Chấn Thịnh phát triển chăn nuôi hàng hóa, tạo sinh kế bền vững

Chấn Thịnh phát triển chăn nuôi hàng hóa, tạo sinh kế bền vững

Xác định chăn nuôi là trụ cột trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xã Chấn Thịnh đang tập trung phát triển theo hướng hàng hóa, quy mô gia trại, trang trại, gắn với kiểm soát dịch bệnh và bảo đảm đầu ra sản phẩm. Từ cách làm bài bản, đồng bộ, chăn nuôi không chỉ nâng cao thu nhập cho người dân mà còn trở thành đòn bẩy quan trọng trong mục tiêu giảm nghèo bền vững của địa phương.

Quy Mông phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng liên kết

Quy Mông phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng liên kết

Xã Quy Mông (tỉnh Lào Cai) đang từng bước khẳng định hướng đi đúng đắn khi lựa chọn phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng liên kết, lấy nông nghiệp xanh và chuỗi giá trị làm nền tảng. Không còn sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, địa phương xác định tổ chức lại sản xuất, gắn vùng nguyên liệu với chế biến và thị trường tiêu thụ, từ đó nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho người dân.

Gỡ nút thắt chuỗi giá trị nông nghiệp ở Trấn Yên

Gỡ nút thắt chuỗi giá trị nông nghiệp ở Trấn Yên

Chuyển từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp” là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh thị trường ngày càng khắt khe, tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc trở thành điều kiện bắt buộc. Với Trấn Yên, khi vùng nguyên liệu đã hình thành khá rõ nét, bài toán đặt ra không còn là mở rộng diện tích, mà là hoàn thiện chuỗi giá trị để nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản.

fb yt zl tw